Bí Ẩn Quân Hậu Đen

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
♛ ♛ ♛

❊ ❊ ❊

Trong suốt thời gian qua lại với Alvaro, Julia luôn nghĩ về anh như một người phù hợp hoàn hảo với những khuôn mẫu chuyên nghiệp khắt khe nhất, phù hợp tới cả vẻ bề ngoài và phong cách ăn mặc của anh. Anh có ngoại hình dễ ưa, khoảng hơn bốn mươi tuổi, hay mặc những chiếc áo vest bằng vải tuýt kiểu Anh, đeo cà vạt len, và, trên hết, hút thuốc bằng tẩu. Lần đầu tiên khi cô trông thấy anh bước vào giảng đường – chủ đề hôm đó của anh là “Nghệ thuật và con người” – cô đã mất hẳn mười lăm phút trước khi thực sự nghe được những gì anh đang nói, vì cô vốn không thể tin bất cứ ai có vẻ ngoài trông giống một vị giáo sư trẻ đến thế lại thực sự một vị giáo sư. Sau đó, khi Alvaro cho lớp nghỉ cho đến buổi học của tuần tiếp theo và khi tất cả sinh viên đang ùa ra ngoài hành lang, cô đã tới gặp anh như thể đó là việc tự nhiên nhất trên đời, dù cô biết quá rõ những gì sẽ xảy đến: tình tiết cũ rích của một câu chuyện cũng chẳng có gì mới mẻ, kịch bản kinh điển về mối quan hệ thầy – trò, và Julia chỉ đơn giản là diễn tiếp vở kịch ấy, thậm chí từ trước cả khi Alvaro, lúc đó đang đi qua cửa lớp học, quay lại mỉm cười với cô lần đầu tiên. Có điều gì đó tất yếu trong toàn bộ câu chuyện này – hay ít nhất đó là những gì Julia cảm thấy khi cô đắn đo cân nhắc về những điều được mất từ nó – chút mơ mộng về một fatum[1] cổ điển đầy ngọt ngào, về những con đường do Số phận chỉ dẫn, một cách nhìn cô vẫn luôn cổ vũ từ ngày còn học phổ thông, khi cô dịch những vở kịch xuất chúng về gia đình của tác gia Hy Lạp đầy ảnh hưởng đó, ngài Sophocles. Cô đã không đủ can đảm để nhắc đến chuyện này với César cho tới mãi sau này, còn ông, người luôn đóng vai người chia sẻ mọi tâm tình thầm kín của cô trong chuyện tình cảm suốt nhiều năm qua – lần đầu có lẽ là từ khi Julia vẫn còn đang đi tất ngắn và để tóc đuôi sam – chỉ bình thản nhún vai rồi, bằng giọng điệu nông cạn một cách có chủ ý, lên tiếng phê phán cách lựa chọn vô cùng thiếu độc đáo một cốt truyện mà, cô bé yêu quý của bác ơi, vốn đã cung cấp cảm hứng lãng mạn cho chí ít cũng ba trăm cuốn tiểu thuyết và chẳng ít hơn từng ấy bộ phim, nhất là – đến đây ông chường ra một khuôn mặt đầy vẻ dè bỉu – nhất là phim Pháp và phim Mỹ: “Và bác tin chắc cháu sẽ đồng ý với bác, công chúa thân mến ạ, rằng điều đó đã rọi một thứ ánh sáng mới mẻ và thực sự kinh khủng xuống toàn bộ vấn đề này.” Nhưng tất cả chỉ có vậy. César không bao giờ đi xa tới những nhận xét đượm vẻ trách cứ hay những lời cảnh báo của một người cha, điều mà cả hai người đều hiểu quá rõ sẽ chẳng đem lại gì hữu ích. César không có đứa con đẻ nào, mà cũng sẽ không bao giờ có, song quả thực ông đặc biệt tinh tế khi xử trí những tình huống như thế. Ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời mình, César đã nhận ra rằng chẳng có ai từng học được điều gì từ những sai lầm của bất cứ người nào khác, vậy nên một người bảo trợ chỉ nên có một thái độ đúng đắn và đáng tôn trọng duy nhất – mà nói cho cùng đó quả thực đúng là vị thế của ông – và thái độ đó bao gồm ngồi xuống bên cạnh con người trẻ tuổi được ông bảo trợ, nắm lấy bàn tay cô và lắng nghe câu chuyện về những mối tình và những nỗi muộn phiền của cô với lòng nhân ái vô bờ, để yên cho tự nhiên đi theo con đường khôn ngoan và không thể tránh khỏi của nó.

“Trong chuyện tình cảm, công chúa thân mến,” César thường hay nói, “người ta không nên đưa ra lời khuyên hay giải pháp… chỉ cần một chiếc khăn mùi soa sạch vào thời điểm thích hợp.”

Và đó chính xác là những gì ông đã làm khi mọi thứ giữa cô và Alvaro chấm dứt, vào buổi tối hôm đó, khi cô tìm tới căn hộ của César, vật vờ như một kẻ mộng du, mái tóc vẫn còn ướt, và ngủ thiếp đi trong lòng ông.

Nhưng chuyện đó diễn ra rất lâu sau cuộc gặp gỡ đầu tiên ngoài hành lang của trường đại học, thời điểm vẫn chưa hề có biến động nào đáng để ý tới ngoài kịch bản đã được tiên liệu trước. Vở diễn cứ thế trôi đi theo cách thức dễ đoán vốn đã được bao bước chân đi mòn lối, song dẫu thế vẫn chứng minh sự hài lòng mà nó đem lại quả là không ngờ. Julia từng có những mối quan hệ khác, nhưng trước đó chưa bao giờ – như vào buổi chiều khi lần đầu tiên cô và Alvaro cùng gieo mình xuống một chiếc giường chật hẹp trong phòng khách sạn – cô cảm thấy sự cần thiết phải nói ra câu “Em yêu anh” như thể đó là tiếng vọng nức nở từ một con tim đang bị vò xé, đồng thời tự lắng nghe mình nói ra những từ đó với tâm trạng ngỡ ngàng đầy vui sướng, những từ cô vẫn luôn từ chối nói ra, bằng một giọng nói hầu như cô không còn nhận ra là của mình nữa, mà giống một tiếng rên rỉ hay một lời than thở nhiều hơn. Thế là, vào một buổi sáng, khi cô thức giấc, mặt áp vào ngực Alvaro, cô đã cẩn thận vuốt những lọn tóc xõa xuống khuôn mặt mình, rồi ngắm những đường nét trên khuôn mặt nhìn nghiêng của anh trong lúc anh còn đang ngủ một hồi lâu, cảm nhận nhịp đập nhẹ nhàng của trái tim anh trên má cô, cho tới khi anh mở mắt và mỉm cười đáp lại. Trong khoảnh khắc đó, Julia biết một cách hoàn toàn chắc chắn rằng cô yêu anh, và cô cũng biết rồi đây cô sẽ còn có những người tình khác, nhưng cô sẽ không bao giờ tìm lại được thứ cảm xúc cô đang cảm thấy khi ở bên anh. Hai mươi tám tháng sau, những tháng cô đã sống qua và gần như đếm từng ngày, cuối cùng cũng đến lúc bừng tỉnh đau đớn khỏi mối tình đó, đến lúc cô cần tới chiếc khăn mùi soa trứ danh của César. “Cái khăn mùi soa đáng ghê sợ,” ông đã gọi nó như thế, đầy chất kịch như bất cứ lúc nào khác, nửa đùa cợt nhưng cũng sáng suốt như nàng Cassandra[2], “chiếc khăn chúng ta giơ lên vẫy chào khi chia tay nhau mãi mãi.” Và về cơ bản, đó là câu chuyện xảy ra giữa họ.

Một năm đủ để làm các vết thương lành sẹo, nhưng những kỷ niệm thì không, những kỷ niệm mà dù sao Julia cũng không có ý định ném vào quên lãng. Cô đã trưởng thành lên khá nhanh, và toàn bộ quá trình biến đổi về tinh thần ấy đã kết tinh thành niềm tin – mà cô rút ra không chút xấu hổ từ những gì César rao giảng – rằng cuộc sống cũng giống như một nhà hàng sang trọng đắt tiền, nơi mà sớm hay muộn ai đó cũng sẽ đưa cho bạn hóa đơn thanh toán, nhưng nói vậy không có nghĩa là bạn phải chối bỏ niềm vui và khoái cảm mà những món ăn bạn đã ăn mang lại.

Lúc này, Julia đang nghĩ ngợi về chuyện đó trong khi quan sát Alvaro ngồi tại bàn làm việc, lật giở từng trang của một cuốn sách và ghi chú lên những tấm thẻ màu trắng, vẻ ngoài của anh hầu như không hề thay đổi, ngoại trừ mái tóc có thêm vài sợi bạc. Đôi mắt anh vẫn bình thản và thông minh như trước. Cô từng yêu đôi mắt đó biết chừng nào, cũng như đôi bàn tay thon dài với móng tay tròn cắt tỉa gọn gàng. Cô ngắm nhìn trong lúc các ngón tay anh lật giở từng trang sách, cầm bút, và bỗng cảm thấy bối rối bất an khi nghe thấy một tiếng vọng buồn bã xa xăm, thế rồi sau một thoáng thầm suy nghĩ, cô quyết định chấp nhận nó như một chuyện hoàn toàn bình thường. Giờ đây đôi bàn tay anh không còn thổi bùng lên trong cô cùng một thứ cảm xúc như trước, nhưng dẫu sao chúng cũng từng vuốt ve mơn trớn cơ thể cô. Mỗi lần tiếp xúc dù nhỏ nhất với đôi bàn tay đó, cũng như hơi ấm của chúng, vẫn còn lưu lại trên làn da cô; dấu ấn của chúng không người tình nào khác có thể xóa mờ đi được.

Cô cố kìm nén cho dòng cảm xúc của mình dịu xuống. Cô không hề có ý định nhượng bộ những cám dỗ vừa nảy sinh từ hồi ức đó. Hơn nữa, lúc này nó không phải là mối bận tâm hàng đầu. Cô không tới đây để khuấy động những hoài niệm về quá khứ. Vì thế cô buộc mình tập trung vào những gì người tình cũ nói thay vì vào chính con người anh. Sau vài phút lúng túng ban đầu, Alvaro nhìn cô với vẻ suy tư, như thể anh đang cố ước lượng tầm quan trọng của điều đã đưa cô tới đây sau ngần ấy thời gian. Anh mỉm cười trìu mến như một người bạn cũ hay một đồng nghiệp lâu ngày gặp lại, thoải mái và chăm chú, sẵn sàng đáp ứng những gì cô cần với sự hiệu quả âm thầm mà cô vốn quen, với những khoảng trống im lặng và những nhận xét đầy cân nhắc được anh đưa ra bằng giọng nói trầm trầm. Sau những ngạc nhiên ban đầu, chỉ còn lại một thoáng bối rối trong đôi mắt anh khi Julia hỏi anh về bức tranh, mặc dù cô không đả động gì đến dòng chữ bị phủ kín mà cô và Menchu đã quyết định giữ bí mật. Alvaro xác nhận anh biết khá rõ về người họa sĩ này, về các tác phẩm của ông ta cũng như thời kỳ lịch sử đó, nhưng anh không hề biết bức họa sắp được đưa ra bán đấu giá hay việc Julia được giao nhiệm vụ phục chế nó. Thậm chí, anh không cần đến những bức ảnh màu mà Julia mang theo, và anh có vẻ rất quen thuộc với những nhân vật trong tranh. Lướt ngón tay trỏ dọc một trang trong cuốn sách cũ về lịch sử thời Trung cổ để kiểm tra lại ngày tháng, anh tập trung cao độ vào công việc của mình và có vẻ hoàn toàn dửng dưng với mối quan hệ thân mật trong quá khứ mà Julia cảm thấy đang lơ lửng giữa họ như một bóng ma. Nhưng rất có thể anh cũng đang cảm thấy điều tương tự, cô thầm nghĩ. Có thể theo cách nhìn nhận của Alvaro, dường như cô cũng có vẻ xa cách và dửng dưng một cách kỳ lạ.

“Đây rồi,” anh nói, và Julia bám lấy âm thanh giọng nói của anh chẳng khác gì người sắp chết đuối vớ được cọc, ý thức được một cách nhẹ nhõm rằng cô không thể làm hai điều dưới đây cùng một lúc: nhớ về anh như anh ngày đó và lắng nghe anh lúc này. Không chút hối tiếc, cảm giác hoài niệm của cô lập tức bị bỏ lại sau lưng, và vẻ nhẹ nhõm trên khuôn mặt cô chắc phải rất rõ ràng, đến mức anh nhìn cô đầy ngạc nhiên trước khi dành sự chú ý trở lại với trang sách.

Julia liếc qua tiêu đề của cuốn sách: Thụy Sĩ, Burgundy[3] và Vùng Đất Thấp[4] trong thế kỷ 14 và 15.

“Xem này.” Alvaro chỉ vào một cái tên trong sách. Sau đó chỉ sang tấm ảnh chụp bức họa mà cô để trên bàn.

“FERDINANDUS OST. D. là dòng chú thích cho kỳ thủ ngồi bên trái, người đàn ông mặc bộ đồ màu đỏ. Van Huys vẽ bức Ván cờ năm 1471, vậy thì không còn gì nghi ngờ nữa. Người đàn ông này chính là Ferdinand Altenhoffen, công tước xứ Ostenburg, Ostenburguensis Dux[5], sinh năm 1435, mất năm… đúng, phải rồi, năm 1474. Ông ta khoảng ba mươi lăm tuổi khi ngồi làm mẫu cho họa sĩ.”

Julia cầm một tấm thẻ trên mặt bàn và chỉ vào từ được viết trên đó.

“Ostenburg từng nằm ở đâu vậy?… Ở Đức phải không?”

Alvaro lắc đầu và mở một cuốn bản đồ lịch sử ra.

“Ostenburg là một công quốc có lãnh thổ gần tương đương với vùng Rodovingia thời vua Charlemagne[6]… Nó nằm ở đây, bên trong biên giới Pháp – Đức, giữa Luxembourg và Flanders. Vào các thế kỷ 15 và 16, các công tước của Ostenburg đã cố gắng duy trì nền độc lập, nhưng rốt cuộc công quốc này vẫn bị thôn tính, đầu tiên bởi Burgundy, sau đó đến vua Maximilian của nước Áo. Trên thực tế, triều đại Altenhoffen bị diệt vong cùng với chính vị công tước Ferdinand này. Nếu em muốn, anh có thể sao chép cho em vài bản.”

“Em sẽ biết ơn anh lắm.”

“Không có gì đâu.” Alvaro ngồi xuống ghế, lấy một chiếc hộp thiếc đựng thuốc lá từ trong ngăn kéo bàn làm việc rồi bắt đầu nhồi thuốc vào chiếc tẩu của mình. “Vậy thì theo lý, quý bà ngồi bên cửa sổ, với dòng chú thích BEATRIX BURG. OST. D. chỉ có thể là Beatrice xứ Burgundy, phu nhân của vị công tước này. Thấy chưa? Beatrice kết hôn với Ferdinand Altenhoffen năm 1464 khi bà hai mươi ba tuổi.”

“Vì tình yêu à?” Julia hỏi kèm theo một nụ cười đầy ẩn ý, trong lúc đưa mắt nhìn xuống tấm ảnh. Alvaro đáp lại bằng một tiếng cười ngắn, có phần gượng gạo.

“Như em biết đấy, rất ít cuộc hôn nhân kiểu này là vì tinh yêu… Đám cưới chính là một nỗ lực của Philip Nhân Từ, bác của Beatrice và cũng là công tước xứ Burgundy để thiết lập một mối liên hệ mật thiết hơn với Ostenburg trong liên minh chống lại Pháp, lúc đó đang tìm cách thôn tính cả hai công quốc.” Alvaro nhìn vào tấm ảnh và kẹp chiếc tẩu giữa hai hàm răng. “Tuy thế, Ferdinand xứ Ostenburg đã gặp may, vì cô dâu rất xinh đẹp. Ít nhất là theo những gì sử gia đáng chú ý nhất thời đó, Nicolas Flavin, đã viết trong cuốn Biên niên xử Burgundy của ông ta. Ông bạn Van Huys của em dường như cũng có cùng suy nghĩ như vậy. Có vẻ ông ta đã từng vẽ vị nữ công tước này trước khi thực hiện bức họa, vì có một tài liệu được sử gia Pijoan viện dẫn cho biết Van Huys từng có thời gian là họa sĩ cung đình tại Ostenburg. Năm 1463, Ferdinand Altenhoffen đã dành cho ông ta một khoản trợ cấp tương đương một trăm bảng mỗi năm, được trả một nửa vào dịp Lễ Thánh John, và nửa còn lại vào dịp Giáng sinh. Tư liệu đó cũng nói tới việc ông ta được giao vẽ một bức chân dung của Beatrice, người lúc đó đang là vị hôn thê của Ferdinand.”

“Còn tài liệu nào khác không?”

“Vô khối. Van Huys đã trở thành một nhân vật khá quan trọng.” Alvaro lấy một cặp tài liệu từ trong tủ ra. “Jean Lemaire, họa sĩ Pháp thế kỷ 17, trong bài Vương miện của Margaret được ông ta viết để ca tụng Margaret của nước Áo, toàn quyền của Vùng Đất Thấp, có nhắc tới các danh họa thế kỷ 15, 16 là Pierre xứ Brugge (Van Huys), Hughes xứ Gand (Van der Goes) và Dietric xứ Louvain[7] (Dieric Bouts[8]), bên cạnh người ông ta coi như vua của các danh họa trường phái Flemish là Johannes (Van Eyck). Những từ chính xác mà ông ta sử dụng trong bài thơ như sau: ‘Pierre de Brugge, qui rant eut les traits utez’, câu này có thể dịch nghĩa là ‘người vẽ nên những đường nét thật rõ ràng’. Vào thời gian bài thơ này được viết ra, Van Huys đã qua đời được hai mươi lăm năm.” Aivaro cẩn thận kiểm tra thêm vài tấm thẻ khác. “Ngoài ra còn có những lần vị họa sĩ này được nhắc đến sớm hơn. Chẳng hạn, những bản kê khai có nguồn gốc từ vương quốc Valencia, ngày nay thuộc Tây Ban Nha, cho biết vua Alfonso Hào Hiệp của họ sở hữu các tác phẩm của Van Huys, Van Eyck và các họa sĩ khác, ngày nay tất cả đều đã thất lạc. Bartolomeo Fazio, một cận thần thân tín của vua Alfonso cũng nhắc tới vị họa sĩ của chúng ta khi viết cuốn Các danh nhân, mô tả Van Huys với cách gọi ‘Pietrus Husyus, insignis pictor’[9]. Một số tác giả khác, nhất là các tác giả người Italia, gọi ông ta là ‘Magistro Pietro Van Hus, pictori in Bruggia’[10]. Có một bài viết vào năm 1470 trong đó Guido Rasofalco nhắc đến một trong các bức tranh của ông ta, một bức họa vẽ cảnh Đức Chúa chịu nạn đóng đinh trên thánh giá, là ‘Opera buona di mano di un chiamato Piero di Juys, pictor famoso in Fiandra’[11], bức họa này cũng không còn tồn tại tới ngày nay. Và một tác giả Italia khác, lần này khuyết danh, đề cập tới một bức họa của Van Huys còn được bảo tồn tới hiện tại, bức Hiệp sĩ và Quỷ dữ, viết rằng ‘A magistro Pietrus Juisus magno et famoso flandesco fuit depictum’[12]. Người họa sĩ của chúng ta còn được sử gia Guicciardini và họa sĩ Van Mander nhắc đến vào thế kỷ 16 và sử gia nghệ thuật James Weale nhắc đến vào thế kỷ 19 trong các tập sách của ông ta về các họa gia trường phái Flemish bậc thầy.” Anh thu các tấm thẻ lại, cẩn thận cho chúng vào tập tài liệu rồi cất trở về chỗ cũ trong tủ. Sau đó, anh ngồi xuống ghế, nhìn Julia mỉm cười. “Hài lòng chứ?”

“Rất hài lòng.” Cô đã ghi lại tất cả và lúc này đang rà soát lại những gì thu thập được. Sau một lát, cô đưa tay vuốt tóc ra sau lưng rồi nhìn Alvaro với vẻ tò mò: “Bất cứ ai cũng sẽ nghĩ anh đã chuẩn bị trước mọi thứ. Em thực sự thấy ấn tượng đấy.”

Nụ cười trên khuôn mặt vị giáo sư nhạt đi đôi chút, anh tìm cách lảng tránh ánh mắt của Julia. Một tấm thẻ trên mặt bàn dường như đột ngột thu hút sự chú ý của anh.

“Đó là công việc của anh,” anh nói. Và cô không dám chắc giọng nói của anh chỉ đơn giản hơi lơ đãng hay đang cố tình lẩn tránh. Không rõ vì sao, điều này làm cô cảm thấy bất an một cách mơ hồ.

“Chà, tất cả những gì em có thể nói, là anh vẫn cực kỳ xuất sắc trong công việc đó.” Cô tò mò quan sát anh rồi quay trở lại với những ghi chú của mình. “Chúng ta có khá nhiều thông tin về người họa sĩ và hai trong số các nhân vật của bức họa.” Cô cúi người xuống nhìn tấm ảnh chụp lại bức tranh và đưa một ngón tay chỉ vào kỳ thủ thứ hai. “Nhưng không có gì về ông ta.”

Alvaro đang bận bịu nhồi tẩu thuốc và không trả lời ngay. Trán anh hơi cau lại.

“Khó mà nói chính xác được gì,” anh nói giữa những lần rít tẩu. “Dòng chú thích RUTGIER AR. PREUX. không được rõ ràng lắm. Mặc dù cũng đủ để đi tới một giả thiết.” Anh dừng lại, nhìn chăm chú vào đầu tẩu như thể hy vọng nó xác nhận ý tưởng của mình. “Rurgier có thể là Roger, Rogelio, Ruggiero, tất cả đều là những dạng biến thể dễ tìm thấy của một cái tên rất thông dụng vào thời đó – mà có ít nhất mười biến thể khác nhau. Preux có thể là tên họ, trong trường hợp đó, chúng ta sẽ gặp phải ngõ cụt thực sự, vì không có vị Preux nào có sự nghiệp đủ hiển hách để được ghi danh vào các cuốn biên niên sử. Tuy thế, preux cũng được sử dụng vào thời Trung cổ như một tính từ mang nghĩa trang trọng, thậm chí như một danh từ, với nghĩa ‘can đảm’, ‘nghĩa hiệp’. Danh xưng này đã được dành cho Lancelot[13] và Roland[14], đây chỉ là hai ví dụ nổi tiếng nhất để minh họa cho em thấy. Tại Pháp và Anh, người ta sẽ dùng cụm ‘soyez preux’ khi phong tước hiệp sĩ cho ai đó, có nghĩa là ‘hãy trung thành hoặc can đảm’. Đây là một danh xưng riêng biệt, dành để nhận biết những nhân vật tinh hoa xuất chúng nhất của giới hiệp sĩ.”

Một cách vô thức, do thói quen nghề nghiệp, Alvaro đã sử dụng cách nói rất thuyết phục như thể đang giảng bài, đó là xu hướng mà sớm hay muộn anh cũng rơi vào mỗi khi tham dự một cuộc đối thoại liên quan tới khía cạnh nào đó trong chuyên môn của anh. Julia nhận ra điều đó và ít nhiều thấy giật mình, nó khiến cô nhớ đến những kỷ niệm cũ, làm sống dậy những dư âm của một mối tình đã từng nắm giữ một vị trí trong thời gian và không gian của cuộc đời cô, cũng như trong việc hình thành nên tính cách hiện tại của cô. Đó là dư vị của cuộc sống đã qua, cũng như của vô vàn cảm xúc khác mà một cuộc vật lộn mệt mỏi không ngừng nghỉ đã thành công trong việc bóp nghẹt và gạt bỏ nó, cũng giống như khi bạn bỏ mặc một cuốn sách trên giá cho bụi phủ, không hề có ý định giở nó ra xem lần nào nữa, thế nhưng mọi thứ vẫn luôn còn đó, bất chấp tất cả.

Phải đối diện với những cảm xúc như thế, cô biết mình cần viện tới các chiến thuật khác: giữ cho đầu óc tập trung vào vấn đề đang cần giải quyết; trao đổi, hỏi thêm những chi tiết khác dù có cần đến chúng hay không; cúi người qua bàn, giả bộ tập trung cao độ vào việc ghi chú lại thông tin; tưởng tượng rằng cô đang đứng trước một Alvaro khác, mà đúng là vậy thật; hành động, cảm nhận như thể những kỷ niệm đó không phải thuộc về họ mà của hai người khác, ai đó cô từng có lần nghe người khác nhắc tới, những số phận chẳng đáng bận tâm đến.

Một giải pháp khác là châm một điếu thuốc lá, và Julia làm đúng như thế. Khói thuốc choán đầy hai buồng phổi giúp cô dịu lại và đem đến cho cô ít nhiều sự tách biệt. Cô đưa mắt nhìn Alvaro, sẵn sàng tiếp tục.

“Vậy giả thiết của anh là gì?” Giọng nói của cô nghe khá bình thường, và điều này làm cô cảm thấy bình tâm hơn nhiều. “Theo như em thấy, nếu Preux không phải là tên họ, vậy thì chìa khóa của lời giải rất có thể nằm trong hai chữ viết tắt AR.”

Alvaro gật đầu. Hơi khép đôi mắt giữa làn khói tỏa ra từ chiếc tẩu, anh lần giở một cuốn sách khác cho tới khi tìm ra một cái tên.

“Hãy nghe này. Roger de Arras, sinh năm 1431, cùng năm mà người Anh thiêu sống nữ tướng Jeanne d’Arc ở Rouen. Gia đình ông ta có họ hàng với dòng họ Valois, triều đại trị vì nước Pháp vào thời đó, và ông ta chào đời tại lâu đài Bellesang, nằm rất gần công quốc Ostenburg.”

“Liệu ông ta có thể là kỳ thủ thứ hai không?”

“Rất có thể. AR có thể hoàn toàn chính xác là viết tắt của Arras. Và Roger de Arras quả thực có xuất hiện trong mọi biên niên sử của thời kỳ này. Ông ta chiến đấu trong cuộc chiến tranh Trăm năm[15] bên cạnh Charles VII, vua nước Pháp. Thấy không? Ông ta tham gia vào quá trình chiếm lại Normandy và Guyenne[16] từ tay người Anh. Năm 1450, ông ta tham gia trận Formigny và ba năm sau, chiến đấu trong trận Castillon. Hãy nhìn vào bức tranh khắc này. Ông ta hoàn toàn có thể là một trong những người đó; có thể là vị hiệp sĩ với tấm giáp che mặt bị đóng xuống, người đã nhường ngựa của mình cho vua nước Pháp giữa sa trường khi ngựa của nhà vua bị giết, song nhà vua thì vẫn tiếp tục đi bộ chiến đấu…”

“Anh làm em kinh ngạc đấy, thưa giáo sư,” Julia nói, nhìn anh với vẻ ngỡ ngàng không giấu giếm. “Ý em muốn nói đến hình ảnh sống động về người chiến binh giữa sa trường vừa rồi. Anh là người vẫn luôn nói tưởng tượng chính là bệnh ung thư đối với tính chính xác của lịch sử mà.”

Alvaro bật cười.

“Hãy coi đó là một phút ngẫu hứng đầy thi vị dành cho em. Làm sao anh quên được em thích vượt qua giới hạn đơn thuần của các sự kiện như thế nào chứ? Anh vẫn nhớ khi em và anh…”

Anh ngừng bặt, đột nhiên trở nên do dự. Câu nói bóng gió về quá khứ của anh đã khiến cho khuôn mặt Julia tối sầm lại. Nhận ra mình vừa mới buột miệng nhắc về quá khứ, Alvaro vội vã lùi bước.

“Anh xin lỗi,” anh khẽ nói.

“Không sao đâu,” Julia đáp, hối hả dụi điếu thuốc vào gạt tàn đến mức làm bỏng cả mấy đầu ngón tay. “Thực sự đó là lỗi của em.” Cô nhìn anh một cách bình tĩnh hơn. “Vậy anh có những thông tin gì về vị hiệp sĩ của chúng ta rồi?”

Với vẻ nhẹ nhõm thấy rõ, Alvaro quay lại với sân chơi quen thuộc của anh. Roger de Arras, anh giải thích, không chỉ là một chiến binh, ngoài chinh chiến ông ta còn nhiều khía cạnh khác đáng chú ý. Chẳng hạn, ông ta là một hình mẫu về tinh thần thượng võ, là nhà quý tộc hoàn hảo của thời Trung cổ. Vào những lúc rảnh rỗi, ông ta còn là một thi sĩ và một nhạc sĩ. Vị hiệp sĩ rất được ái mộ trong triều đình của dòng họ Valois, những người anh em họ với ông ta. Thế nên danh xưng “Preux” hợp với ông ta như găng tay với bàn tay vậy.

“Ông ta có mối liên hệ nào với môn cờ vua không?”

“Không có manh mối nào nhắc tới chuyện đó cả.”

Julia đang bận rộn ghi chép, hoàn toàn bị cuốn theo dòng câu chuyện, nhưng rồi cô đột ngột dừng lại và nhìn Alvaro.

“Điều mà em không hiểu,” cô vừa nói vừa cắn bút, “đó là Roger de Arras đang làm gì khi ngồi chơi cờ với công tước Ostenburg trong một bức họa của Van Huys chứ?”

Alvaro cựa người trong chiếc ghế của mình với vẻ bối rối thấy rõ, như thể đột nhiên bị nỗi ngờ vực ám ảnh. Anh ngậm tẩu, đưa mắt nhìn chằm chằm lên bức tường sau lưng Julia với dáng vẻ của một người đang trải qua một cuộc tranh đấu nội tâm. Cuối cùng, anh cố nở một nụ cười thận trọng.

“Anh không biết ông ta đang làm gì ở đó – trừ việc đánh cờ ra.” Julia biết chắc anh đang nhìn cô với vẻ thận trọng rất không bình thường, như thể anh không thể nói ra thành lời một ý nghĩ đang lởn vởn trong đầu mình. “Những gì anh thực sự biết,” cuối cùng anh nói thêm, “và anh biết vì điều đó được nói đến trong tất cả những cuốn sách viết về chủ đề này, là Roger de Arras không chết tại Pháp, mà tại Ostenburg.” Sau một thoáng chần chừ, anh chỉ vào tấm ảnh chụp bức họa. “Em có thấy thời điểm bức tranh được vẽ không?”

Julia bối rối nói: “Có, 1471. Vậy thì sao?”

Alvaro chậm rãi nhả một ít khói rồi phát ra một âm thanh nghe giống như một tiếng cười cộc lốc khẽ khàng. Anh đang nhìn Julia như thể cố tìm trong đôi mắt cô câu trả lời cho một câu hỏi anh không thể nói ra lời.

“Có điều gì đó không được ổn lắm ở đây,” cuối cùng anh nói. “Hoặc thời điểm ghi trên tranh không chính xác, hoặc các cuốn biên niên ký đều nói láo, nếu không vị hiệp sĩ này không phải là quý ông Rutgier Ar. Preux. trong bức họa.” Anh cầm lên một bản sao in bằng máy ronéo của cuốn Biên niên sử các công tước xứ Ostenburg, và sau một hồi tìm kiếm trong đó, anh đặt cuốn sách trước mặt cô. “Cuốn sách này được Guichard de Hainaut, một người Pháp sống cùng thời với những sự kiện ông ta mô tả, viết vào cuối thế kỷ 15, dựa vào lời kể của những nhân chứng trực tiếp. Theo Hainaut, vị hiệp sĩ của chúng ta chết vào dịp lễ Hiển linh năm 1469, hai năm trước khi Pieter Van Huys vẽ bức Ván cờ. Em có hiểu không, Julia? Roger de Arras không bao giờ có thể ngồi làm mẫu cho bức tranh đó, vì vào thời điểm nó được vẽ, ông ta đã chết rồi.”

❀ ❀ ❀

[1] : Định mệnh.

[2] : Con gái của Priam, vua thành Troy, bị thần linh giáng cho lời nguyền phải trở thành một nhà tiên tri biết trước tương lai, nhưng không được một ai tin lời.

[3] : Vùng đất nay thuộc miền Đông nước Pháp.

[4] : Vùng đất ven biển phía Tây châu Âu, bao gồm Bỉ, Luxembourg và Hà Lan ngày nay.

[5] : Công tước xứ Ostenburg (tiếng Latin).

[6] : Vua Charles Đại đế (742-814) của đế quốc Frank (là một vùng đất bao gồm Đức, Pháp, Ý ngày nay).

[7] : Brugge, Gand, Louvain: các thành phố của xứ Flanders. Gand phát âm theo tiếng Hà Lan là Ghent.

[8] : Van Huys, Vander Goes, Dieric Bouts: các danh họa thế kỷ 15.

[9] : Pietrus Husyus, họa sĩ xuất chúng.

[10] : Bậc thầy Pietro Van Hus, họa sĩ người Bruggia (Brugge).

[11] : Kiệt tác của một người có tên Piero di Juys, họa sĩ nổi tiếng ở Fiandra (Flanders).

[12] : Đã được vẽ bởi bậc thầy vĩ đại và nổi tiếng Pietrus Juisus, người vùng Flanders.

[13] : Một nhân vật trong truyền thuyết về vua Arthur, là một hiệp sĩ tài ba và là cánh tay phải của vua Arthur.

[14] : Vị tướng vĩ đại dưới trướng vua Charlemagne.

[15] : diễn ra giữa Anh và Pháp suốt hơn một thế kỷ nhằm giành giật lãnh thổ và ngôi vua nước Pháp. Formigny và Castillon là hai trận trong cuộc chiến này, trong đó trận Castillon đem về thắng lợi cho Pháp.

[16] : Các vùng thuộc Pháp ngày nay.

có vài bản sao chụp tài liệu và một danh sách sự kiện được đánh máy theo trình tự thời gian. “Xem này. Có vẻ như anh ấy quyết định không đến, nhưng đã gửi cho chúng ta thứ này.” “Vẫn khiếm nhã như xưa,” César lẩm bẩm dè bỉu. “Đáng ra hắn t
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.