Bí Ẩn Quân Hậu Đen

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
♛ ♛ ♛

❊ ❊ ❊

Mãi 2 giờ sáng Julia mới về đến nhà. César và Sergio đã đi bộ tháp tùng cô về tận cửa khu nhà. Hai người muốn cùng cô leo ba tầng gác lên tận căn hộ cô đang sống, nhưng cô không đồng ý, chỉ hôn tạm biệt họ rồi đi lên. Cô chậm chạp bước lên từng bậc cầu thang, đưa mắt nhìn quanh đầy e dè. Và khi cô thò tay vào túi lấy chìa khóa, các ngón tay cô bất ngờ chạm phải lớp kim loại lạnh ngắt của khẩu súng, một cảm giác giúp trấn an cô không ít.

Trong lúc xoay chìa khóa mở cửa, cô ngạc nhiên nhận ra, bất chấp tất cả, cô vẫn đang thực hiện việc này một cách bình tĩnh. Cô cảm nhận thấy một nỗi sợ hãi thuần túy và chính xác, thứ cô có thể đánh giá mà không cần viện đến bất cứ tài năng nào về các vấn đề trừu tượng, như César hẳn sẽ nói khi ám chỉ tới Muñoz một cách châm biếm. Nhưng nỗi sợ hãi đó không thổi bùng lên trong cô bất cứ cảm giác bị giày vò đầy bẽ bàng nào hay khiến cô muốn vùng bỏ chạy. Ngược lại, nó pha lẫn cảm giác tò mò cao độ, trong đó in đậm dấu ấn tự hào cá nhân và sự thách thức. Tựa như một trò chơi nguy hiểm đầy kích thích, giống như cuộc lùng giết cướp biển tại Neverland[1].

Lùng giết cướp biển. Cô đã trở nên quen thuộc với cái chết từ khi còn rất nhỏ. Kỷ niệm đầu tiên thời thơ ấu của cô là hình ảnh bố cô nằm hoàn toàn bất động, mắt nhắm nghiền, trên tấm đệm trong phòng ngủ, vây quanh là những người mặc đồ đen buồn bã khe khẽ trò chuyện với nhau, như thể sợ đánh thức ông dậy. Lúc đó cô mới sáu tuổi, và hình ảnh đó, trang nghiêm và khó hiểu, mãi mãi gắn liền với hình ảnh của mẹ cô, mặc toàn màu đen, khó gần hơn bao giờ hết, người cô chưa bao giờ thấy rơi một giọt nước mắt, kể cả lúc đó; cùng hình ảnh bàn tay khô khốc, độc đoán của bà nắm lấy tay cô khi bà buộc Julia đặt nụ hôn cuối cùng lên trán người đã khuất. Chính César, một César còn trẻ hơn rất nhiều trong ký ức của cô, đã bế cô lên trong vòng tay ông, đưa cô ra khỏi nơi đó. Ngồi trên đầu gối ông, Julia nhìn chăm chăm vào cánh cửa chắn giữa cô và những nhân viên nhà đòn đang chuẩn bị quan tài.

“Trông không giống bố cháu, bác César,” cô đã nói, cố gắng không òa lên khóc. Con dứt khoát không bao giờ được khóc, mẹ cô vẫn hay nhắc nhở như thế. Đó là bài học duy nhất học được từ bà mà cô còn nhớ. “Bố cháu trông không còn như trước nữa.”

“Phải rồi, không giống. Đó không còn là bố cháu nữa,” ông trả lời. “Bố cháu đã đi tới một nơi khác.”

“Nơi nào vậy ạ?”

“Lúc này điều đó không còn quan trọng, công chúa. Nhưng bố cháu sẽ không quay lại nữa.”

“Không bao giờ sao?”

“Không bao giờ.”

Julia cau mày theo kiểu trẻ con và vẫn giữ vẻ trầm ngâm.

“Cháu không muốn hôn bố nữa đâu. Da bố lạnh quá.”

César im lặng nhìn cô hồi lâu, rồi ôm chặt lấy cô, Julia có thể nhớ rõ cảm giác ấm áp trong vòng tay ông, mùi hương tinh tế từ làn da và trang phục của ông.

“Được rồi, cháu có thể tới hôn bác bao nhiêu lần tùy thích.”

Julia không thể nhớ chính xác thời điểm cô khám phá ra César là người đồng tính. Có lẽ cô đã nhận ra điều này một cách từ từ, qua những chi tiết nhỏ nhặt hay bằng linh cảm. Nhưng đến một ngày, khi cô mới bước sang tuổi mười hai, cô ghé vào cửa hiệu của ông sau giờ học và bắt gặp César đang vuốt má một người đàn ông trẻ. Tất cả chỉ có vậy; ông chỉ khẽ vuốt má chàng trai bằng những đầu ngón tay. Chàng trai bước qua trước mặt Julia, mỉm cười với cô rồi ra về. Lúc đó César đang châm một điếu thuốc lá, nhìn cô hồi lâu, rồi quay sang lên dây những chiếc đồng hồ.

Mấy ngày sau, trong lúc đang chơi với mấy hình nhân bằng sứ nhỏ nhắn của Bustelli, Julia hỏi:

“Bác César, bác có thích các cô gái không?”

Ông đang ngồi trước bàn làm việc và rà soát lại sổ sách. Thoạt đầu ông dường như không nghe thấy câu hỏi của cô. Chỉ một lát sau ông mới ngẩng đầu lên, đôi mắt xanh bình thản nhìn thẳng vào mắt Julia.

“Cô gái duy nhất bác thích là cháu, công chúa ạ.”

“Thế các cô gái khác thì sao?”

“Cô gái khác nào cơ?”

Đó là lần cuối cùng hai người nói về chủ đề này. Nhưng tối hôm đó, khi lên giường đi ngủ, Julia đã nghĩ tới những lời César nói và cảm thấy thật hạnh phúc. Sẽ không ai đoạt mất ông của cô; không có nguy hiểm nào hết. Ông sẽ không bao giờ rời xa cô như bố trước đây, tới nơi người ta không thể quay trở về nữa.

Rồi sau đó là quãng thời gian của những câu chuyện dài được kể dưới ánh đèn vàng trong cửa hiệu đồ cổ; thời trai trẻ của César, Paris và Rome cùng hòa quyện với lịch sử, nghệ thuật, những cuốn sách và những cuộc phiêu lưu. Rồi những câu chuyện thần thoại được cùng nhau chia sẻ, và câu chuyện Đảo kho báu được đọc từ chương này qua chương khác giữa những chiếc rương cũ và những món binh khí han gỉ. Những gã cướp biển đa sầu đa cảm đáng thương cảm thấy trái tim chai đá của chúng như tan chảy trong những đêm sáng trăng miền Caribe khi chúng nghĩ tới những người mẹ già của mình. Vì cả những tên cướp biển cũng có mẹ, thậm chí cả một gã vô lại mạt hạng như thuyền trưởng Hook, kẻ đã bộc lộ bản chất thật qua tính cách bẩn thỉu của y, vào cuối tháng cũng vẫn gửi vài đồng tiền vàng Tây Ban Nha về để phụng dưỡng tuổi già của người phụ nữ đã sinh ra y. Và giữa các câu chuyện, César lại lấy một đôi kiếm cũ từ trong một chiếc rương và chỉ cho cô thấy đám hải tặc sử dụng chúng ra sao trong chiến đấu – khi tự vệ và rút lui, mục đích là gây ra những vết sẹo chứ không phải để cắt cổ đối phương – cũng như cách tốt nhất để ném một chiếc móc bám bằng sắt. Ông lấy ra chiếc kính lục phân và dạy cô cách tìm đường trên biển dựa vào các vì sao. Còn cả con dao găm cán bạc do Benvenuto Cellini[2] chế tác, ông này, ngoài việc là thợ kim hoàn, còn hạ sát nguyên soái xứ Bourbon bằng một phát súng hỏa mai trong thời gian diễn ra cuộc cướp phá thành Rome; và con dao hóa kiếp ghê rợn, dài và tang tóc, mà tiểu đồng của Hoàng tử Đen từng dùng để đâm xuyên qua tấm giáp che mặt của các hiệp sĩ Pháp ngã ngựa trên chiến trường tại Crécy[3]…

Năm tháng trôi qua, và tính cách của Julia dần dần định hình. Giờ đến lượt César im lặng trong lúc lắng nghe những lời tâm tình thầm kín của cô. Tình yêu đầu ở tuổi mười bốn. Người yêu đầu tiên năm mười bảy tuổi. Ông lắng nghe mà không bao giờ phán xét. Ông chỉ mỉm cười, một lần duy nhất, mỗi khi cô nói xong.

Tối hôm nay, Julia sẵn lòng đổi bất cứ thứ gì để được thấy nụ cười đó, một nụ cười đem đến cho cô sự can đảm, đồng thời làm cho những thứ khác dường như trở nên ít quan trọng hơn, thu nhỏ chúng về đúng kích thước thực tế của chúng giữa một tổng thể lớn lao hơn, và giữa dòng chảy không gì cưỡng lại được của một đời người. Nhưng César không ở đó, và cô buộc phải tự xoay xở lấy. Như ông chắc hẳn sẽ nói, không phải lúc nào chúng ta cũng tự lựa chọn được bạn đời hay số phận của mình.

Cô bận rộn chuẩn bị một ly vodka kèm đá và bất chợt mỉm cười trong bóng tối khi đứng trước bức tranh của Van Huys. Cô có linh cảm lạ lùng là nếu có chuyện gì đó không hay sắp xảy ra, nó sẽ xảy ra với một người khác. Chưa bao giờ có chuyện không hay xảy đến với nhân vật chính, cô nhớ lại trong lúc uống vodka và cảm nhận những viên đá lạnh chạm vào răng mình. Chỉ có những người khác chết, những vai phụ, như Alvaro chẳng hạn. Trong tâm trí cô vẫn còn hiển hiện sống động hàng trăm cuộc phiêu lưu như thế, cô đã trải qua tất cả và luôn thoát ra mà không có lấy một vết xước nhỏ, tạ ơn Chúa. Còn cách nói khác nào nhỉ? Lạy chúa lòng lành!

Cô ngắm mình trong chiếc gương Venice, chỉ là một chiếc bóng giữa những chiếc bóng khác, hơi sáng hơn ở vùng khuôn mặt, với những đường nét mơ hồ, đôi mắt to, đen, một Alice ở xứ sở trong gương[4] thực sự. Cô cũng nhìn vào chính mình cả ở trong bức tranh của Van Huys, trong tấm gương vẽ trên bức tranh đang phản chiếu lại một tấm gương khác, tấm gương Venice trên tường, phản chiếu của phản chiếu trong phản chiếu. Và cô lại có cảm giác quay cuồng như lần trước. Cô chợt nảy ra ý nghĩ rằng vào ban đêm, những tấm gương, bức tranh và bàn cờ có thể tạo ra những ảo giác thật lạ lùng. Mà cũng có thể là do những khái niệm giống như thời gian và không gian rốt cuộc đã trở nên tương đối đến mức hầu như chẳng đáng bận tâm đến. Cô nhấp thêm một ngụm món đồ uống của mình, lại một lần nữa cảm thấy các viên đá va vào răng mình. Cô thầm nghĩ nếu vươn tay ra, cô hoàn toàn có thể đặt ly đồ uống xuống mặt chiếc bàn phủ khăn màu xanh lục, đúng nơi dòng chữ nằm ẩn dưới lớp sơn màu, giữa bàn tay bất động của Roger de Arras và bàn cờ.

Cô bước lại gần bức tranh hơn. Beatrice xứ Ostenburg đang ngồi bên khung cửa sổ có phần trên hình chóp nhọn, đôi mắt cụp xuống, đắm chìm vào cuốn sách đặt trong lòng. Bà làm Julia nhớ tới những hình ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh được vẽ bởi các bậc thầy của trường phái Flemish thời kỳ đầu: mái tóc vàng chải ra sau, được túm gọn dưới một chiếc mũ gần như trong suốt. Làn da trắng muốt. Trang trọng và xa cách trong bộ xiêm y màu đen, khác xa những chiếc áo khoác thông thường bằng vải len màu huyết dụ, thứ vải đặc trưng của vùng Flanders, quý giá hơn cả lụa hay gấm thêu. Màu đen, Julia bất chợt hiểu ra một cách rõ ràng, là biểu tượng của tang tóc, và bộ tang phục Pieter Van Huys, một thiên tài luôn say mê các biểu tượng và nghịch lý, đã khoác lên mình nữ công tước, không phải để tang cho chồng bà, mà cho người tình bị ám sát.

Khuôn mặt trái xoan của bà thanh tú một cách hoàn hảo, mọi sắc thái, mọi chi tiết đều làm nổi bật vẻ tương đồng với những bức chân dung Đức Mẹ Đồng Trinh thời Phục hưng. Không phải một Đức Mẹ mang vóc dáng của các phụ nữ Italia mà Giotto trân trọng, vốn có thể là thị nữ, bảo mẫu, hay thậm chí là những cô nhân tình cũng không giống những phụ nữ Pháp ngồi làm mẫu vẽ Đức Mẹ, nhưng lại thường là các bà mẹ hay các bà hoàng, mà như một cô gái thị dân, hay phu nhân của một ông ủy viên hội đồng thành phố hoặc một chủ đất quý tộc cai trị những đồng cỏ nhấp nhô rải rác những lâu đài, biệt thự, những dòng suối và tháp chuông giống như tòa tháp được họa lại trong mảng phong cảnh ngoài cửa sổ trong bức tranh của Van Huys. Người phụ nữ này trông có vẻ kiêu kỳ và bình thản, nghiêm trang và lạnh lùng, hiện thân của vẻ đẹp phương bắc a la maniera ponentina[5] vốn rất được ưa chuộng ở các quốc gia miền Nam châu Âu, tại Tây Ban Nha và Italia. Và đôi mắt xanh – ít nhất có thể đoán chúng màu xanh – cho dù tia nhìn của chúng không hướng về phía người chiêm ngưỡng bức tranh mà có vẻ tập trung vào cuốn sách của bà, vẫn đầy tỉnh táo và sắc sảo, giống như đôi mắt của tất cả các phụ nữ vùng Flanders được các danh họa Van Huys, Van der Weyden và Van Eyck vẽ lại. Những đôi mắt huyền bí không bao giờ hé lộ nơi chúng đang nhìn tới hay muốn nhìn tới, cũng như những gì chủ nhân của chúng đang suy nghĩ hay cảm nhận.

Julia vuốt tóc ra sau, đưa mấy ngón tay sờ lên bề mặt bức tranh, lần theo đường viền đôi môi của Roger de Arras. Trong vầng sáng vàng bao quanh vị hiệp sĩ như một vầng hào quang, tấm giáp che cổ bằng thép gần như có độ sáng của kim loại được đánh bóng kỹ càng. Ông đang tựa cằm lên ngón cái của bàn tay phải, bàn tay hơi nhuốm màu của quầng sáng xung quanh, còn cái nhìn chăm chú dõi xuống bàn cờ tượng trưng cho cả cuộc sống và cái chết của ông. Nếu suy đoán từ góc khuôn mặt nhìn nghiêng của ông, giống như khuôn mặt trông nghiêng được đúc trên một tấm mề đay cổ, Roger de Arras có vẻ không hề ý thức được sự hiện diện của người phụ nữ đang ngồi đọc sách phía sau ông. Nhưng có thể những ý nghĩ của ông không hề dành cho ván cờ; có thể chúng đang hướng tới Beatrice xứ Burgundy, người ông không hề đưa mắt nhìn vì kiêu hãnh, vì thận trọng, mà cũng có thể đơn thuần vì tôn trọng chủ nhân của mình. Trong trường hợp đó, chỉ có những ý nghĩ của ông được phép tự do tôn thờ bà. Và cũng vào chính khoảnh khắc ấy, nhiều khả năng tâm trí vị phu nhân cũng không hề có cuốn sách đang giở ra trong tay bà, và đôi mắt bà, không cần phải thực sự nhìn theo hướng của hai vị kỳ thủ, đang chiêm ngưỡng tấm lưng vạm vỡ, khuôn mặt bình thản, cao quý của vị hiệp sĩ, hồi tưởng lại những ký ức về đôi bàn tay và làn da của ông, hay chỉ đơn giản là tiếng vọng từ sự im lặng bị kìm nén, từ cái nhìn buồn bã, bất lực bà từng thổi bùng lên trong đôi mắt tràn ngập tình yêu của ông.

Tấm gương Venice treo trên tường và tấm gương vẽ trong tranh đóng khung Julia lại trong một không gian tưởng tượng, xóa nhòa đi ranh giới giữa hai bề mặt gương. Vầng sáng vàng cũng bao trùm lên cô trong khi, một cách rất chậm rãi, gần như tì một bàn tay lên tấm vải xanh trải trên chiếc bàn vẽ trong tranh, thận trọng để không làm động tới các quân cờ trên bàn cờ, cô cúi người về phía Roger de Arras và dịu dàng hôn lên khóe môi giá lạnh của ông. Và khi cô quay lại, cô bắt gặp một tia sáng, ánh lên từ tấm phù hiệu Hiệp sĩ Cừu vàng nổi bật trên nền nhung đỏ chói của chiếc áo chẽn trên người kỳ thủ còn lại, Ferdinand Altenhoffen, công tước xứ Ostenburg, đôi mắt ông đang nhìn cô chằm chằm, tối tăm và sâu thẳm.

❀ ❀ ❀

[1] : Một miền đất trong truyện Peter Pan.

[2] : Thợ kim hoàn, nhà điêu khắc, nhạc sĩ Italia thế kỷ 16, là một trong những nghệ sĩ quan trọng nhất của trường phái Kiểu cách.

[3] : Hoàng tử Đen, con trai cả vua Edward III của Anh đã dẫn dắt quân Anh chiến thắng quân Pháp trong trận Crécy, trận đánh diễn ra ngày 26 tháng Tám năm 1346 trong cuộc chiến Trăm Năm.

[4] : Phần 2 truyện Alice ở xứ sở diệu kỳ của Lewis Carrol.

[5] : Theo phong cách phương Tây.

có vài bản sao chụp tài liệu và một danh sách sự kiện được đánh máy theo trình tự thời gian. “Xem này. Có vẻ như anh ấy quyết định không đến, nhưng đã gửi cho chúng ta thứ này.” “Vẫn khiếm nhã như xưa,” César lẩm bẩm dè bỉu. “Đáng ra hắn t
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.