Chiếc chuông gắn trên cánh cửa kêu leng keng khi Julia đẩy cửa bước vào cửa hàng đồ cổ. Cô chỉ cần bước vào trong là lập tức cảm thấy mình được bao quanh bởi một bầu không khí yên bình ấm áp, quen thuộc. Những ký ức đầu tiên cô còn lưu giữ được đều tràn ngập thứ ánh sáng vàng dìu dịu chiếu xuống các món đồ gỗ cổ, những bức phù điêu và cột chạm khắc theo phong cách Ba Rốc, những chiếc tủ nặng nề bằng gỗ óc chó, những món đồ bằng ngà voi, những tấm thảm thêu, rồi đồ sứ và những bức tranh đã sẫm màu lại theo thời gian với những nhân vật có khuôn mặt nghiêm nghị luôn đắm chìm trong sầu muộn, chính những khuôn mặt nhiều năm trước từng chứng kiến những trò chơi thời thơ ấu của cô. Kể từ thời đó nhiều món đồ đã bị bán đi và được thế chỗ bằng những món đồ khác, nhưng ấn tượng tạo ra bởi những căn phòng muôn màu muôn vẻ và ánh sáng phản chiếu trên các món đồ cổ được sắp xếp một cách lộn xộn nhưng rất hài hòa thì vẫn luôn không thay đổi. Giống như màu sắc trên những bức tượng các nhân vật hài kịch bằng sứ mong manh được bàn tay nhà tạo mô hình thế kỷ 18 Bustelli tạo ra: một bức tượng Lucinda, một bức tượng Octavio và một bức tượng Scaramouche, chúng không chỉ là những món đồ chơi ưa thích của Julia khi còn nhỏ, mà còn là niềm tự hào, niềm vui bất tận của César. Có lẽ chính vì thế ông chưa bao giờ muốn chia tay mấy bức tượng mà giữ chúng lại trong tủ kính phía sau cửa hàng, bên cạnh khung cửa sổ có ô kính đã mờ xỉn mở ra khoảng sân phía trong của cửa hàng, nơi ông vẫn hay ngồi đọc sách – những cuốn sách của các nhà văn nổi tiếng như Stendhal, Mann, Sabatini, Dumas, Conrad – trong lúc đợi chuông kêu thông báo sự xuất hiện của một vị khách hàng.
“Chào bác, bác César.”
“Chào công chúa thân mến.”
César khoảng hơn năm mươi tuổi – Julia chưa bao giờ thành công trong việc ép ông khai ra tuổi thực của mình – và ông có đôi mắt xanh luôn tươi cười, giễu cợt của một đứa trẻ tinh quái, lấy việc thách thức thế giới mà ông buộc phải sống trong đó làm niềm vui lớn nhất cho mình. Ông có mái tóc trắng tinh lượn sóng – cô ngờ rằng ông đã nhuộm nó từ nhiều năm trước – và vóc dáng của ông vẫn rất chuẩn, ngoại trừ phần hông có hơi đẫy đà một chút. Ông luôn mặc những bộ đồ được cắt may rất đẹp, với chúng lời phê bình duy nhất người ta có thể nói là, trông chúng có vẻ hơi táo bạo so với một người ở độ tuổi như ông. Ông không bao giờ đeo cà vạt, thậm chí cả trong những sự kiện xã giao chọn lọc nhất, thay vào đó ông chọn những chiếc khăn Italia tuyệt đẹp thắt trên cổ áo sơ mi để mở, luôn bằng lụa, bên trên khăn có thêu hai chữ cái đầu tên họ của ông lồng vào nhau bằng chỉ màu xanh da trời hoặc trắng ở vị trí ngay bên dưới trái tim ông. Ông sở hữu một bề rộng và cấp độ văn hóa Julia chưa từng gặp ở bất cứ ai, ông thực sự là hiện thân hoàn hảo của câu nói rằng trong các tầng lớp thượng lưu, thái độ lịch thiệp đến thái quá chẳng qua chỉ là cách diễn đạt tinh tế nhất để một người thể hiện sự khinh thường dành cho những người khác. Trong môi trường xã hội của César, một khái niệm hoàn toàn có thể mở rộng để bao hàm toàn bộ nhân loại, Julia là người duy nhất có thể thoải mái tận hưởng thái độ lịch thiệp đó mà biết chắc cô hoàn toàn nằm ngoài tầm ngắm của sự khinh thường. Kể từ khi cô bắt đầu có khả năng tự suy nghĩ, với cô César là một sự pha trộn kỳ lạ của người cha, người tâm sự, người bạn và cha xưng tội, đồng thời cũng không thực sự chính xác là bất cứ ai trong số những vai trò ấy.
“Cháu gặp một rắc rối, bác César.”
“Thứ lỗi cho bác, nhưng trong trường hợp đó, chúng ta có một rắc rối mới đúng. Giờ hãy kể cho bác nghe đi nào.”
Và Julia kể cho ông nghe, không bỏ sót điều gì, kể cả dòng chữ bị giấu kín, chi tiết được César tiếp nhận với một cái nhướng mày thoáng qua. Hai người đang ngồi bên khung cửa sổ có ô kính mờ xỉn, và César đang hơi nhoài người về phía cô, chân phải vắt tréo lên chân trái, một bàn tay, trên đó lấp lánh một viên đá topaz đắt giá cẩn trên chiếc nhẫn vàng, hờ hững đặt lên trên chiếc đồng hồ hãng Patek Philippe ông đeo ở cổ tay bên kia. Chính tư thế quen thuộc này của ông, không hề có chút tính toán nào (mặc dù rất có thể từng một lần có lúc như vậy), đã luôn dễ dàng thu hút được những chàng trai trẻ đang bối rối tìm kiếm những cảm xúc tinh tế, những họa sĩ, nhà điêu khắc, những nghệ sĩ non nớt mới vào nghề mà César đón nhận và che chở với sự tận tụy hết lòng và bền lâu mà, phải nói là, thường kéo dài hơn nhiều so với những mối quan hệ tình cảm của ông.
“Cuộc đời rất ngắn và vẻ đẹp rất chóng tàn, công chúa thân mến ạ.” Bất cứ khi nào César lựa chọn giọng điệu tâm tình, hạ giọng xuống khẽ tới mức gần như thì thầm, những lời ông nói luôn mang chút âm hưởng buồn bã pha lẫn giễu cợt. “Và sẽ thật không phải khi muốn sở hữu nó mãi mãi. Vẻ đẹp nằm trong việc dạy một chú chim sẻ mới ra ràng tập bay, vì ẩn trong sự tự do của nó chính là việc ta thả cho nó bay đi. Cháu có nhận ra điểm tế nhị bác đang muốn nói trong câu chuyện ẩn dụ này không?”
Như cô từng công khai thừa nhận trước đây khi César, nửa tự mãn nửa thích thú, buộc tội cô gây ra một màn ghen tuông, Julia luôn cảm thấy bực bội một cách không thể lý giải nổi với tất cả những con chim sẻ mới ra ràng đang bay lượn quanh César, và chỉ sự yêu mến cô dành cho ông cũng như ý thức đầy lý trí nhắc nhở cô rằng ông cũng có quyền sống cuộc sống của riêng mình mới ngăn cô không nói ra thành lời. Như Menchu vẫn hay nói với tính cách thiếu tế nhị thường thấy của bà: “Thứ mà cô có ở đây, cô em thân mến, là phức cảm Electra[1] giả dạng phức cảm Oedipus31, hoặc ngược lại…” những câu ví von ẩn dụ của Menchu, không giống như của César, thường có xu hướng quá rõ ràng.
Khi Julia đã thuật lại xong câu chuyện liên quan tới bức tranh, César vẫn im lặng, trầm ngâm suy nghĩ về những gì cô vừa nói. Dường như ông không có vẻ ngạc nhiên – nếu nói về mỹ thuật, nhất là ở tuổi của ông, rất ít thứ có thể khiến ông ngạc nhiên – song sự giễu cợt trong mắt ông đã nhường chỗ cho vẻ quan tâm thực sự.
“Rất hấp dẫn,” cuối cùng ông cũng lên tiếng, và ngay lập tức Julia hiểu cô có thể trông cậy vào ông. Kể từ khi cô còn là một đứa trẻ, mấy lời này luôn là sự khuyến khích dấn bước vào những lần đồng lõa giữa hai người và những cuộc phiêu lưu lần theo dấu vết của một bí mật nào đó: kho báu của bọn hải tặc được giấu trong ngăn kéo chiếc bàn viết Isabelline – chiếc bàn mà ông đã bán cho bảo tàng Romantico ở Bồ Đào Nha – và câu chuyện ông bịa ra về một tác phẩm được cho là của họa sĩ Pháp thế kỷ 19 Ingres, bức chân dung vị phu nhân mặc bộ váy viền đăng ten, có người tình là một sĩ quan khinh kỵ tử trận ở Waterloo khi đang gọi tên bà ta giữa lúc đoàn kỵ binh xung trận. César đã nắm tay cô cùng trải qua cả trăm cuộc phiêu lưu như thế trong hàng trăm cuộc đời khác nhau, và một cách bất di bất dịch, trong mỏi câu chuyện đó những gì cô học được từ ông luôn là hãy biết trân trọng cái đẹp, đức hy sinh và sự tế nhị dịu dàng, cũng như niềm vui tinh tế và sâu sắc có được khi chiêm ngưỡng một tác phẩm nghệ thuật, từ bề mặt trong mờ của một món đồ sứ cho tới một ánh phản chiếu khiêm tốn của một tia nắng mặt trời trên bức tường được một món đồ pha lê tinh khiết tách ra thành dải phổ lộng lẫy sắc màu.
“Việc đầu tiên bác cần phải làm,” César nói, “là quan sát thật kỹ lưỡng bức tranh. Tối mai bác có thể ghé qua căn hộ của cháu, vào lúc khoảng 7 giờ 30.”
“Hay lắm,” cô nói, thận trọng đưa mắt nhìn ông. “Chỉ là rất có thể Alvaro cũng sẽ có mặt ở đó.”
Nếu César ngạc nhiên, ông cũng không nói ra lời. Ông chỉ phô ra một khuôn mặt tàn nhẫn với đôi môi bĩu lại.
“Thật vui làm sao. Lâu lắm rồi bác chưa gặp con lợn bẩn thỉu đó, vậy nên bác sẽ rất vui nếu có cơ hội gửi tặng hắn vài mũi phi tiêu tẩm độc, được bọc ngoài bằng dăm ba lời quanh co tinh tế, tất nhiên rồi.”
“Cháu xin bác mà, bác César.”
“Đừng lo, cô bé yêu quý, bác sẽ rất dễ mến… vì hoàn cảnh là vậy. Tay bác có thể có chút hung hãn, nhưng sẽ không có giọt máu nào rơi xuống tấm thảm Ba Tư của cháu đâu… mà chuyện đó thực tình hoàn toàn có thể giải quyết được bằng một lần cọ rửa cẩn thận.”
Cô dịu dàng nhìn ông, đưa hai bàn tay mình đặt lên hai bàn tay ông.
“Cháu yêu bác, bác César.”
“Bác biết. Cũng tự nhiên thôi mà. Hầu như ai cũng vậy.”
“Tại sao bác ghét Alvaro đến thế?”
Một câu hỏi thật ngốc nghếch, và ông dành cho cô một cái nhìn có phần chê trách.
“Bởi vì hắn ta làm cháu đau khổ,” ông nghiêm nghị đáp. “Nếu cháu cho phép, bác sẵn sàng móc mắt hắn ra mang cho chó ăn trên những con đường bụi bặm của thành Thebes. Tất cả đều đượm chất cổ điển, cháu có thể đóng vai dàn hợp xướng. Ngay lúc này bác cũng có thể mường tượng ra cháu, lộng lẫy như một nữ thần, đưa đôi cánh tay trần hướng lên Olympus, nơi chắc hẳn các vị thần đang ngáy vang, ngủ lịm đi vì say.”
“Cưới cháu đi, bác César. Ngay bây giờ.”
César cầm một bàn tay cô nâng lên hôn, ép chặt đôi môi của ông lên nó.
“Khi cháu lớn lên đã, công chúa.”
“Nhưng cháu lớn rồi mà.”
“Không, chưa đâu. Vẫn chưa đâu. Nhưng khi cháu đã lớn, công chúa yêu quý, bác sẽ dám nói với cháu rằng bác yêu cháu. Và rằng các vị thần, khi bọn họ tỉnh giấc, đã không tước đi của bác mọi thứ. Họ chỉ lấy mất vương quốc của bác.” Dường như ông có vẻ ngẫm nghĩ một lát trước khi nói thêm. “Mà nói cho cùng, đó cũng chỉ là một thứ vô giá trị.”
Đó là một cuộc trò chuyện rất riêng tư, đầy ắp kỷ niệm, những câu chuyện chỉ họ mới biết, nó cũng lâu năm như chính tình bạn giữa hai người. Họ ngồi trong im lặng, chỉ có tiếng kêu đều đặn vọng lại từ những chiếc đồng hồ cổ làm bạn, trong lúc chúng cần mẫn đếm từng khoảnh khắc thời gian trôi qua trong khi chờ đợi ai đó tới mua chúng.
“Nói tóm lại,” César nói, “nếu bác hiểu đúng cháu, vấn đề ở đây là tìm ra câu trả lời cho một vụ án mạng.”
Julia ngạc nhiên nhìn ông.
“Thật lạ khi bác có thể nói ra điều đó.”
“Tại sao? ít nhiều thì đúng là vậy mà. Việc nó xảy ra vào thế kỷ XV chẳng làm thay đổi điều gì hết.”
“Đúng thế. Nhưng từ ‘án mạng’ làm mọi thứ trở nên nhuốm màu tăm tối.” Cô lo lắng mỉm cười với César. “Có thể tối qua cháu quá mệt mỏi để có thể nhìn nhận sự việc theo hướng đó, nhưng cho tới lúc này cháu vẫn coi toàn bộ chuyện này như một trò chơi, giống như giải mã một bức mật thư… nói theo cách nào đó, như một chuyện hoàn toàn cá nhân. Một chuyện can hệ đến niềm tự hào cá nhân.”
“Vậy giờ thì sao?”
“À, như thể đó là điều tự nhiên nhất trên đời, bác nói đến việc điều tra một vụ án mạng thực sự, và đột nhiên cháu hiểu ra…” Cô ngừng lời, miệng há hốc, cảm thấy như thể mình đang đứng chới với bên bờ vực thẳm. “Bác không thấy sao? Vào ngày 6 tháng Một năm 1469, ai đó đã sát hại Roger de Arras, hay sai người sát hại ông ta, và danh tính của kẻ sát nhân nằm ẩn trong bức họa.” Cô đứng lên trong sự phấn khích. “Chúng ta có thể tìm ra lời giải cho một bí ẩn đã tồn tại từ năm trăm năm nay. Và có lẽ sẽ tìm ra lý do tại sao một sự kiện nhỏ trong lịch sử châu Âu đã diễn ra theo hướng này mà không phải hướng khác. Thử tưởng tượng xem giá của bức Ván cờ có thể lên tới mức nào trong cuộc đấu giá nếu chúng ta có thể làm được điều đó!”
“Hàng triệu peseta[2], cô bé của tôi ơi,” César xác nhận, với một tiếng thở dài như thể bị đẩy ra khỏi mũi ông chỉ đơn giản bởi sức nặng của sự hiển nhiên. “Rất nhiều tiền.” Ông ngẫm nghĩ về ý nghĩ ấy, lúc này đã hoàn toàn bị nó thuyết phục. “Với một chút quảng cáo khéo léo, Claymore có thể tăng giá chào bán lên gấp ba bốn lần. Bức tranh của cháu đúng là một mỏ vàng.”
“Chúng ta cẩn đi gặp Menchu. Ngay lập tức.”
César lắc đầu với vẻ dè dặt pha lẫn phật ý.
“Ôi không. Bất cứ việc gì trừ việc đó. Quên nó đi. Sẽ không có chuyện cháu lôi bác vào bất cứ trò ma quái nào của bà bạn Menchu quý hóa của cháu đâu. Mặc dù bác sẽ rất hạnh phúc được đứng đằng sau rào chắn, như một trợ thủ cho võ sĩ đấu bò.”
“Đừng khó khăn thế chứ. Cháu cần bác.”
“Bác hoàn toàn sẵn sàng để cháu tùy ý sử dụng, cô bé yêu quý. Nhưng đừng ép bác phải kề vai với cô ả Nefertiti[3] mới được sơn lại đó cùng đám trai bao luôn thay đổi xoành xoạch của bà ta, hay nếu cháu thích ăn nói một cách sành điệu, đám chuyên gia đào mỏ của bà ta. Bà bạn quý hóa của cháu khiến bác phát chứng đau nửa đầu” – ông ấn vào một bên thái dương – “ngay ở đây này. Thấy chứ?”
“Bác César…”
“Thôi được, bác chịu thua. Vae victis[4]. Bác sẽ gặp Menchu.”
Cô đặt một cái hôn thật kêu lên cái má được cạo nhẵn nhụi của ông, và cùng lúc ngửi thấy mùi nhựa thơm thoang thoảng. César luôn mua nước hoa ở Paris, còn những chiếc khăn quàng ở Rome.
“Cháu yêu bác, bác César. Rất nhiều.”
“Đừng cố làm bác mềm lòng. Thử hình dung cảnh cháu cố lượn lờ quanh bác như thế xem. Và ở độ tuổi của bác nữa.”
Menchu cũng mua nước hoa ở Paris, nhưng mùi của nó có phần kém tinh tế hơn so với César. Bà xuất hiện, bước đi vội vã và không có Max bên cạnh, giữa mùi hương nước hoa Rumba của hãng Balenciaga tỏa ra phía trước bà như một đội tiền trạm, bay ngang qua phòng tiền sảnh của khách sạn Palace.
“Tôi có vài tin mới đây,” bà nói, đưa một ngón tay gõ lên mũi rồi hít vào liên tiếp mấy lần trước khi ngồi xuống. Hẳn bà vừa ghé vào phòng vệ sinh nữ, vài chấm bột trắng nhỏ vẫn còn dính ở môi trên của bà. Điều này, Julia thầm nghĩ, lý giải vì sao trông bà lại đấy vẻ hào hứng như thế.
“Don Manuel đang đợi chúng ta tại nhà ông ta để thảo luận về bức tranh,” bà nói.
“Don Manuel ư?”
“Chủ sở hữu bức tranh. Cô có bị đần không thế? Cô biết đấy, ông ta chính là quý ông bé nhỏ dễ mến mà tôi đã nói đến.”
Cả hai người đều gọi cocktail nhẹ, và Julia bắt đầu cập nhật cho bạn cô những kết quả mà cuộc tìm kiếm của cô đem lại. Menchu mở to mắt trong khi nhanh chóng tính nhẩm các khoản phần trăm trong đầu.
“Điều đó thực sự làm thay đổi nhiều thứ.” Trên tấm khăn trải bằng vải đũi phủ lên chiếc bàn thấp kê giữa hai người, bà bận rộn làm phép tính với một móng tay sơn đỏ như máu. “Khoản năm phần trăm của tôi quá ít. Vậy nên tôi sẽ đề nghị một thỏa thuận với người của Claymore: trong số mười lăm phần trăm hoa hồng tính trên giá bức tranh đạt được ở buổi đấu giá, họ sẽ được bảy phẩy năm, và tôi được bảy phẩy năm.”
“Họ sẽ không bao giờ đồng ý. Như thế thấp hơn quá xa so với biên lợi nhuận thông thường của họ.”
Menchu bật cười. Sẽ là như thế hoặc không gì hết. Bên Sotheby và bên Christie đang chờ sẵn, và bọn họ hẳn sẽ rú lên vui sướng trước triển vọng được giành lấy vụ bức tranh của Van Huys lần này. Đây sẽ là chuyện chấp nhận hay bỏ cuộc.
“Thế còn chủ sở hữu ? Quý ông bé nhỏ của bà biết đâu lại có điều gì đó muốn nói về món tài sản của ông ta. Sẽ thế nào nếu ông ta quyết định tự mình thương thảo với Claymore? Hay với ai đó khác.”
Menchu dành cho cô một cái nhìn ranh mãnh.
“Ông ta không thể. Ông ta đã ký vào một cam kết.” Bà chỉ vào chiếc váy ngắn của mình, vốn cho phép phô bày một cách hết sức hào phóng đôi chân được lồng trong cặp tất sẫm màu. “Bên cạnh đó, như cô thấy đấy, tôi đã ăn vận sẵn sàng để xung trận. Nếu don Manuel bé bỏng của tôi không cắn câu, tôi sẵn sàng chấp nhận đeo mạng đi tu.” Như thể để kiểm tra thử hiệu quả, bà không ngừng gác tréo hai chân lên nhau rồi lại bỏ chân ra cho đám khách hàng nam giới của khách sạn tha hồ thưởng lãm. Hài lòng với kết quả thu được, bà chú tâm trở lại vào ly cocktail của mình. “Còn về phần cô…”
“Tôi muốn một phẩy năm trong số bảy phẩy năm phần trăm của bà.”
Menchu kêu lên như thể bị cắt ruột. Như thế là quá nhiều tiền, bà ta thốt lên đầy phẫn nộ. Gấp ba hay bốn lần mức thù lao người ta sẵn lòng trả cho công việc phục chế. Julia để cho bà thoải mái phản đối trong lúc lấy bao thuốc lá từ trong túi ra và châm một điếu.
“Bà không hiểu rồi,” cô giải thích trong khi nhả khói ra. “Thù lao cho phần việc của tôi sẽ được lấy trực tiếp từ don Manuel của bà, từ mức giá bức họa đạt được trong cuộc bán đấu giá. Khoản phần trăm còn lại chỉ là phần thêm vào chỗ thù lao này, và sẽ được tính từ phần lợi nhuận bà thu được. Nếu bức tranh bán được một trăm triệu peseta, Claymore sẽ đút túi bảy triệu rưỡi, bà được sáu triệu và tôi một triệu rưỡi.”
“Ai có thể ngờ được chứ?” Menchu nói, lắc đầu ra vẻ không thể tin nổi. “Cô dường như có vẻ là một cô gái đáng mến, với những chiếc cọ bé nhỏ và những lọ sơn dầu của cô. Vô hại biết chừng nào.”
“Thế ư, vậy thì bà biết rồi đấy. Chúa từng nói chúng ta cần tử tế với đồng loại của mình, nhưng ông ấy có nói gì về việc chúng ta nên chấp nhận để ông ấy rút xương sườn của chúng ta ra đâu.”
“Cô thực sự làm tôi choáng váng đấy. Hóa ra tôi vẫn ôm ấp một con rắn bên ngực trái của mình như Aida[5] vậy. Hay đó là Cleopatra[6] nhỉ? Tôi không thể ngờ cô lại biết về những khoản phần trăm.”
“Bà thử đặt mình vào vị trí của tôi xem. Nói cho cùng, tôi chính là người đã khám phá ra bí mật đó.” Cô đưa ngón tay lên khua khua trước mũi người bạn. “Bằng chính đôi bàn tay duyên dáng của mình.”
“Cô đang tận dụng sự mềm yếu của tôi đấy, cô nàng rắn độc bé bỏng.”
“Thôi vờ vịt than thở đi. Bà còn cứng hơn cả đá.”
Menchu trút ra một tiếng thở dài cường điệu thái quá. Vụ này sẽ giật mất miếng ăn khỏi miệng anh chàng Max của bà, nhưng bà tin chắc họ có thể đi tới một thỏa hiệp nào đó. Tình bạn dẫu sao vẫn là tình bạn. Bà liếc mắt nhìn ra cửa rồi làm bộ bí mật.
“Nói đến quỷ sứ…”
“Ý bà là Max?”
“Đừng có xấu tính thế chứ. Max đâu phải là quỷ sứ, anh ta là một chàng trai ngọt ngào.” Bà đảo mắt sang bên, gợi ý Julia đưa mắt nhìn theo. “Paco Montegrifo, người của Claymore, vừa mới bước vào. Và anh ta nhìn thấy cô và tôi rồi.”
Montegrifo là giám đốc chi nhánh của Claymore tại Madrid. Anh ta ngoài bốn mươi tuổi, cao ráo, hấp dẫn, ăn mặc với vẻ lịch lãm nghiêm chỉnh của một ông hoàng Italia. Mái tóc anh ta cũng bóng mượt như chiếc cà vạt anh ta đang đeo, và khi mỉm cười, anh ta phô ra một loạt những chiếc răng đều tăm tắp, quá hoàn hảo để có thể tin là thực.
“Xin chào các quý bà. Một sự tình cờ mới hạnh phúc làm sao!”
Anh ta vẫn đứng trong khi Menchu giới thiệu hai người với nhau.
“Tôi đã từng chiêm ngưỡng một số công việc cô thực hiện,” anh ta nói với Julia khi được biết cô chính là người đang phục chế bức họa của Van Huys, “và tôi chỉ có một từ duy nhất để diễn tả chúng: hoàn hảo.”
“Cảm ơn ông.”
“Tôi tin chắc công việc phục chế bức Ván cờ của cô cũng sẽ có chất lượng cao như thế.” Anh ta lại phô ra hàm răng trắng bóng của mình trong một nụ cười đầy chuyên nghiệp. “Chúng tôi đang gửi gắm những hy vọng lớn lao vào bức họa này.”
“Chúng tôi cũng vậy,” Menchu nói. “Nhiều hơn những gì anh có thể nghĩ.”
Montegrifo hẳn đã nhận ra vẻ châm chọc của bà trong nhận xét đó, vì đôi mắt nâu của anh ta đột nhiên trở nên đầy cảnh giác. Anh ta không hề là một gã ngốc, Julia thầm nghĩ khi anh ta ra hiệu chỉ về phía một chiếc ghế trống. Có người đang chờ anh ta, anh ta nói, song những người này chắc chắn sẽ vui lòng đợi thêm vài phút.
“Tôi có thể ngồi chứ?”
Anh ta ra hiệu cho một người phục vụ đang lại gần rằng mình không muốn thứ gì rồi ngồi xuống đối diện với Menchu. Vẻ niềm nở thân mật của anh ta vẫn nguyên vẹn không hề suy suyển, song bên cạnh nó giờ đây có thêm chút trông đợi pha lẫn thận trọng, như thể anh ta đang căng tai ra lắng nghe để tìm kiếm một âm hưởng bất đồng xa xôi nào đó.
“Có rắc rối gì sao?” anh ta bình thản hỏi.
Menchu lắc đầu. Không có rắc rối nào hết, không hẳn thế. Không có điều gì đáng để lo ngại. Montegrifo dường như không hề có chút lo ngại nào, chỉ đơn giản là quan tâm một cách lịch sự.
“Có lẽ,” Menchu đề xuất sau một lát cân nhắc, “chúng ta nên thương thảo lại các điều khoản trong hợp đồng giữa chúng ta.”
Tiếp theo là một quãng im lặng lúng túng. Montegrifo đang nhìn bà như thể nhìn một khách hàng không thể kiềm chế được cơn phấn khích của mình trong bầu không khí sôi sục của cuộc đấu giá.
“Thưa quý bà đáng mến, Claymore là một tổ chức nghiêm túc.”
“Tôi không hề nghi ngờ về điều đó,” Menchu cương quyết đáp. “Nhưng những nghiên cứu tiến hành trên bức tranh của Van Huys đã giúp chúng tôi khám phá ra một vài chi tiết quan trọng làm thay đổi hoàn toàn giá trị của nó.”
“Các chuyên gia đánh giá của chúng tôi không tìm thấy gì hết.”
“Nghiên cứu này được thực hiện sau khi người của các vị tiến hành kiểm tra. Những điều được khám phá…” – Menchu dường như có phần do dự, và thái độ này không hề bị bỏ qua – “không thể thấy ngay lập tức bằng mắt thường.”
Montegrifo quay sang Julia, trông có vẻ trầm ngâm. Đôi mắt anh ta lạnh như băng.
“Cô đã tìm ra cái gì vậy?” anh ta hỏi một cách lịch sự, giống như một cha xưng tội mở lời để giúp ai đó trút bỏ gánh nặng lương tâm của họ.
Julia nhìn Menchu với vẻ bối rối.
“Tôi không nghĩ tôi…”
“Chúng tôi không được phép nói,” Menchu chen vào cứu nguy cho cô. “Ít nhất cũng không phải hôm nay. Chúng ta phải chờ chỉ dẫn từ khách hàng của tôi.”
Montegrifo trầm ngâm lắc đầu, rồi từ tốn đứng dậy với vẻ mặt uể oải của một người từng trải.
“Tôi sẽ cân nhắc xem có thể làm được gì. Tôi xin phép…” Dường như anh ta không có vẻ lo lắng. Anh ta chỉ đơn thuần thể hiện một hy vọng – mà không rời mắt khỏi Julia dù chỉ một tích tắc, cho dù những lời anh ta nói đều dành cho Menchu – rằng “những khám phá” kia sẽ không tạo ra bất cứ thay đổi nào tới bản hợp đồng hiện tại giữa họ. Sau lời chào tạm biệt rất chân tình, anh ta quay đi, len lỏi giữa những dãy bàn để tới ngồi xuống góc đối diện của căn phòng.
Menchu nhìn chằm chằm vào chiếc ly của bà, khuôn mặt hiện lên vẻ ân hận.
“Tôi đã tự đẩy mình vào thế bí rồi.”
“Ý bà là sao? Sớm muộn gì ông ta cũng tìm ra thôi mà.”
“Phải, nhưng cô không biết Paco Montegrifo đâu.” Bà quan sát người phụ trách đấu giá qua chiếc ly của mình. “Có thể cô không nghĩ thế khi ngắm nhìn anh ta, với phong thái niềm nở và khuôn mặt điển trai của anh ta, nhưng nếu anh ta biết don Manuel, chắc chắn anh ta đã mò tới chỗ ông lão nhanh như một tia chớp để tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra, đồng thời tìm cách gạt chúng ta khỏi cuộc chơi.”
“Bà nghĩ vậy sao?”
Menchu khẽ bật cười mỉa mai. Con người Paco Montegrifo chẳng còn gì là bí mật với bà.
“Anh ta có khiếu mồm mép và là người tinh tế. Hơn nữa, anh ta không ngần ngại làm bất cứ việc gì và có thể đánh hơi thấy một vụ làm ăn hời từ cách xa năm mươi cây số.” Bà tặc lưỡi ngưỡng mộ. “Người ta còn nói anh ta có dính dáng đến chuyện đưa các tác phẩm nghệ thuật ra nước ngoài một cách bất hợp pháp cũng như việc anh ta thực sự là một nghệ sĩ thiên tài nếu bàn tới việc hối lộ các vị tu sĩ ở vùng nông thôn.”
“Dẫu vậy đi nữa, ông ta vẫn tạo cho người ta ấn tượng tốt.”
“Đấy chính là cách anh ta kiếm sống mà.”
“Điều tôi không hiểu là, nếu anh ta sở hữu một quá khứ bất hảo như thế, tại sao bà không tìm tới một người phụ trách đấu giá khác.”
Menchu nhún vai. Đời sống riêng và những gì Paco Montegrifo từng làm chẳng có gì liên quan tới chuyện đó. Bản thân Claymore vốn đã là một tổ chức hoàn hảo.
“Bà đã từng ngủ với ông ta chưa?”
“Với Montegrifo ư?” Menchu cười phá lên. “Không đâu, cô bé thân mến. Anh ta hoàn toàn không phải kiểu người tôi thích.”
“Tôi nghĩ ông ta hấp dẫn đấy chứ.”
“Đó là do lứa tuổi của cô thôi, cô bạn của tôi ơi. Tôi thích họ mãnh liệt hơn một chút, như Max chẳng hạn, kiểu những anh chàng lúc nào cũng có vẻ như họ sắp sửa nện cho cô một trận vậy. Những anh chàng như thế ấn tượng hơn nhiều khi ở trên giường và về lâu dài cô sẽ thấy họ kinh tế hơn.”
❀ ❀ ❀
[1] : Phức cảm Oedipus và phức cảm Electra là thuật ngữ chỉ tình yêu của một đứa trẻ đối với người cha mẹ khác giới tính với nó, Menchu muốn ám chỉ César là người đồng tính.
[2] : Peseta: đơn vị tiền tệ cũ của Tây Ban Nha, được sử dụng từ năm 1869 đến 2002.
[3] : Hoàng hậu Nefertiti, vợ của Pharaoh Akhenaten của Ai Cập.
[4] : Khốn thay cho những kẻ thua cuộc.
[5] : Một nhân vật trong một vở kịch opera nổi tiếng lấy bối cảnh Ai Cập cổ đại.
[6] : Nữ hoàng Ai Cập Cleopatra được cho là đã tự tử bằng cách dụ một con rắn độc cắn.