Bí Ẩn Quân Hậu Đen

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

Khi giọng nói khe khẽ của César dừng lại, ông nở một nụ cười lơ đãng rồi thong thả đưa mắt từ một nơi vô định nào đó trong căn phòng trở lại bộ quân cờ bằng ngà voi trên mặt bàn. Sau đó ông nhún vai như thể muốn nói, “Vậy đấy, không ai được quyền chọn quá khứ của chính mình.”

“Ông chưa bao giờ kể cho tôi nghe chuyện đó,” Julia nói, và giọng của cô nghe như một sự xâm phạm lố bịch.

César im lặng một hồi trước khi trả lời. Ánh sáng tỏa ra qua chiếc chao đèn giấy chỉ soi sáng một nửa khuôn mặt ông, trong khi nửa còn lại chìm trong bóng tối. Điều kiện ánh sáng càng làm nổi bật các đường nét của đôi mắt và khuôn miệng ông, tô đậm thêm góc nhìn nghiêng quý phái, phần mũi và chiếc cằm tinh tế của ông, giống như hình rập nổi trên một chiếc mề đay cổ.

“Bác khó có thể nói với cháu về một thứ không hề tồn tại,” ông dịu giọng thì thầm, và đôi mắt ông, hoặc có lẽ chỉ đơn thuần là tia sáng mờ đục ánh lên từ đôi mắt đang chìm trong vùng tranh tối tranh sáng của ông, dừng lại ở Julia. “Trong bốn mươi năm bác đã cẩn thận yêu cầu mình phải tin rằng đúng là như thế.” Giờ đây trong giọng nói của ông lại có âm hưởng mỉa mai, hẳn là dành cho chính mình. “Bác không bao giờ động đến cờ vua nữa, kể cả khi chỉ có một mình. Không bao giờ.”

Julia lắc đầu, cảm thấy khó có thể tin nổi.

“Ông thật bệnh hoạn.”

Ông bật cười cụt lủn, không chút hài hước.

“Cháu làm bác thất vọng quá, công chúa. Bác vẫn hy vọng ít nhất cháu cũng không dùng tới những cách nói sáo mòn đó.” Ông trầm ngâm ngắm nhìn chiếc đót hút thuốc bằng ngà voi của mình. “Bác cam đoan với cháu là bác hoàn toàn tỉnh táo. Nếu không làm sao bác có thể xây dựng nên câu chuyện đẹp đẽ này hoàn chỉnh tới từng chi tiết như vậy được?”

“Đẹp đẽ?” Cô ngỡ ngàng nhìn vị chủ nhà. “Chúng ta đang nói về Alvaro và Menchu đấy… Một câu chuyện đẹp đẽ ư?” Cô rùng mình kinh sợ và ghê tởm. “Vì Chúa! Ông đang nói về chuyện điên rồ nào vậy?”

César đón nhận cái nhìn của cô không chút dao động, sau đó quay sang Muñoz như thể tìm kiếm sự ủng hộ.

“Có những khía cạnh… duy mỹ,” ông nói, “có một vài yếu tố độc đáo lạ thường không thể bị gạt bỏ theo cách hời hợt như thế. Bàn cờ không chỉ là màu đen và màu trắng. Có những cấp độ cao hơn thế, từ đó cháu có thể nhìn thấy các sự kiện. Những cấp độ khách quan.” Ông nhìn hai người với vẻ mặt đột ngột trở nên đau khổ một cách chân thành. “Tôi cứ nghĩ cả hai người đã nhận ra điều đó.”

“Tôi biết ý ông muốn nói gì,” Muñoz lên tiếng. Ông vẫn đứng im ở vị trí cũ, hai tay vẫn đút trong túi chiếc áo mưa nhàu nhĩ. Nụ cười thoáng qua lại xuất hiện trên khóe môi, mơ hồ và xa xăm.

“Ông biết, thật vậy sao?” Julia kêu lên. “Ông biết những gì về nó?”

Cô phẫn nộ nắm chặt hai bàn tay, nén lại trong lồng ngực hơi thở đang âm vang trong hai tai cô giống như tiếng thở dốc của một con vật sau một cữ chạy đường dài. Nhưng Muñoz không phản ứng gì, và Julia nhận thấy César lặng lẽ nhìn ông đầy hàm ơn.

“Tôi đã đúng khi chọn ông,” vị chủ nhà nói. “Và tôi thật mừng vì điều đó.”

Muñoz không đáp. Ông chỉ đưa mắt nhìn qua các bức tranh, những món đồ gỗ, các hiện vật có mặt trong căn phòng và chậm rãi gật đầu, như thể đang rút ra những kết luận bí hiểm. Sau khoảnh khắc im lặng, ông hất hàm ra hiệu về phía Julia.

“Tôi nghĩ cô ấy đáng được biết toàn bộ câu chuyện.”

“Cả ông cũng vậy, ông bạn thân mến,” César nói thêm.

“Phải, tôi cũng vậy. Mặc dù tôi chỉ có mặt ở đây với vai trò nhân chứng.”

Không có chút hàm ý chỉ trích hay đe dọa nào trong những lời ông nói. Như thể người kỳ thủ đang khăng khăng giữ một vị thế trung lập kỳ quặc nào đó. Một vị thế trung lập không có chỗ để tồn tại, Julia thầm nghĩ, bởi sớm muộn gì cũng tới thời điểm không còn chỗ cho lời nói nữa và chúng ta sẽ phải đưa ra một quyết định.

Tuy vậy, bị tê liệt bởi một cảm giác không có thực mà cô không thể rũ bỏ được, Julia cảm thấy thời điểm đó vẫn còn ở xa phía trước.

“Vậy thì bắt đầu thôi,” cô nói, và khi nghe thấy giọng nói của chính mình, cô nhận ra với tâm trạng nhẹ nhõm không hề trông đợi rằng cô đang lấy lại được sự bình tĩnh đã đánh mất. Cô dành cho César một cái nhìn khắc nghiệt. “Hãy nói cho chúng tôi nghe về Alvaro.”

César gật đầu.

“Phải rồi, Alvaro,” ông khẽ lặp lại. “Nhưng trước hết tôi nên nói về bức tranh.” Một cái nhìn phiền muộn bất ngờ xuất hiện trên mặt ông, như thể ông đã quên mất vài điều thuộc về phép lịch sự tối thiểu. “Tôi vẫn chưa hỏi các vị có muốn uống gì đó không… Thật không thể tha thứ được. Hai người có muốn dùng gì không?”

Không ai trả lời. César bước tới bên chiếc rương cổ bằng gỗ sồi ông dùng làm chỗ cất đồ uống.

“Lần đầu tiên bác trông thấy bức tranh đó là khi bác có mặt tại căn hộ của cháu, Julia. Cháu còn nhớ chứ? Người ta vừa mang nó tới vài giờ trước, và trông cháu chẳng khác gì một cô bé vừa có đồ chơi mới. Trong suốt gần một giờ đồng hồ bác lặng lẽ quan sát cháu tỉ mẩn nghiên cứu từng chi tiết nhỏ của bức tranh, giải thích cho bác những kỹ thuật cháu nghĩ sẽ dùng để phục chế nó, và bác đã nói đó là tác phẩm tuyệt vời nhất cháu từng thực hiện.” Vừa nói César vừa chọn một chiếc cốc hẹp lòng đắt tiền bằng thủy tinh được cắt gọt tinh xảo, rồi cho đá và đổ đầy rượu gin cùng nước chanh vào đó. “Bác đã rất ngạc nhiên được chứng kiến cháu hạnh phúc đến thế, và sự thực là, công chúa yêu quý, bác cũng rất hạnh phúc vào lúc đó.” Ông quay lại, cầm cốc trên tay, và sau khi thận trọng nhấp thử món đồ uống đựng trong đó, dường như ông rất hài lòng với nó. “Nhưng điều lúc đó bác chưa nói với cháu… À phải, ngay cả lúc này cũng khó nói thành lời. Cháu đang phấn khích tột độ trước vẻ đẹp của hình ảnh, sự cân xứng của bố cục, cùng màu sắc và ánh sáng. Bác cũng có tâm trạng đó, nhưng vì những lý do khác. Bàn cờ đó, các kỳ thủ và quân cờ, vị phu nhân ngồi đọc sách bên cửa sổ, tất cả đã làm sống dậy niềm đam mê cũ của bác. Vốn vẫn tin nó đã hoàn toàn bị lãng quên, bỗng chốc bác cảm thấy nó quay trở lại như một tia chớp lóe sáng trên trời xanh. Bác cảm thấy đồng thời cả cơn phấn khích bừng lên lẫn cảm giác kinh hoàng, như thể sự điên rồ đang phả hơi thở của nó lên má bác vậy.”

César chợt im lặng, nửa miệng ông bên phía có ánh đèn vẽ thành nụ cười thân mật một cách tinh quái, như thể giờ đây ông cảm thấy một sự khoan khoái đặc biệt khi nhâm nhi ký ức đó.

“Nó không chỉ là cờ vua,” ông nói tiếp, “mà là một cảm nhận sâu sắc hoàn toàn cá nhân về trò chơi này như một mối liên hệ giữa sự sống và cái chết, giữa thực tế và mộng mơ. Và trong khi cháu, Julia, đang nói về bột màu và sơn phủ, bác hầu như chẳng nghe thấy gì, sững sờ trước rung động của khoái cảm và nỗi thống khổ tinh tế đang lan đi trong khắp cơ thể bác trong lúc bác ngồi cạnh cháu trên xô pha và nhìn vào, không phải những gì Pieter Van Huys đã vẽ trên tấm ván gỗ Flemish đó mà những gì ông ta có trong đầu khi thực hiện bức họa.”

“Và ông quyết định mình nhất định phải có nó.”

César nhìn Julia với vẻ chê trách đầy mỉa mai.

“Đừng đơn giản hóa mọi thứ thái quá như thế, công chúa.” Ông nhấp một ngụm nhỏ món đồ uống của mình rồi mỉm cười với cô như thể mong cô rộng lượng. “Điều bác đã quyết định, một cách hết sức đột ngột, là dứt khoát bác phải để cho đam mê của mình được thỏa sức tự do. Một người đã sống lâu như bác thì hẳn phải vì một lý do nào đó. Chắc chắn chính vì thế bác hiểu ra ngay lập tức, không phải bản thông điệp được mã hóa, như sau đó chúng ta đã khám phá ra, mà là sự thật hiển nhiên rằng bức tranh chứa đựng một bí ẩn đầy cuốn hút và ghê gớm nào đó. Thử nghĩ về nó xem: rất có thể bí ẩn đó cuối cùng sẽ chứng minh bác có lý.”

“Có lý sao?”

“Phải. Thế giới không đơn giản như người đời muốn chúng ta tin. Các đường ranh giới đều mơ hồ; chỉ có các chi tiết là đáng quan tâm. Không có thứ gì là độc một màu đen hay trắng, cái ác có thể là tấm mặt nạ giả trang cho cái thiện hay vẻ đẹp và ngược lại, trong khi cái này không nhất thiết phải loại trừ cái kia. Một con người có thể vừa yêu vừa phản bội đối tượng của tình yêu đó mà không hề làm suy suyển sự chân thực trong cảm xúc của người đó. Ta có thể là người cha, người anh trai, người con trai và người tình cùng một lúc; là cả nạn nhân và đao phủ… Cháu có thể tự chọn lấy ví dụ cho mình. Cuộc sống là một cuộc phiêu lưu đầy bất trắc trên một bối cảnh không giới hạn, với những đường biên không ngừng dịch chuyển, nơi mọi ranh giới đều giả tạo, nơi vào bất cứ lúc nào mọi thứ cũng có thể dừng lại để rồi bắt đầu lại từ đầu hoặc đột ngột chấm dứt, cứ thế lặp đi lặp lại mãi mãi, như một nhát chém bất ngờ ập xuống từ một lưỡi rìu. Nơi thực tế duy nhất, tuyệt đối, chắc chắn, không thể bàn cãi và rõ ràng là cái chết. Nơi chúng ta chỉ như một tia sáng nhỏ nhoi lóe lên giữa đêm trường vĩnh cửu, và cũng là nơi, công chúa, chúng ta có rất ít thời gian.”

“Tất cả những điều này có gì liên quan tới cái chết của Alvaro?”

“Mọi thứ đều liên quan tới mọi thứ khác.” César đưa một bàn tay lên, ra hiệu yêu cầu cô kiên nhẫn. “Bên cạnh đó, cuộc sống là một chuỗi các sự kiện kế tiếp nhau cho dù người ta có muốn hay không.” Ông giơ chiếc cốc ra ánh sáng, ngắm nhìn thứ đồ uống dựng trong cốc như thể đó là nơi suy nghĩ của ông đang nổi bổng bềnh. “Sau đó – ý bác là trong ngày hôm ấy, Julia – bác quyết định tìm cho ra mọi thứ có thể về bức tranh. Và, cũng như cháu, người đầu tiên bác nghĩ tới là Alvaro. Bác chưa bao giờ ưa hắn, cả khi cháu còn quan hệ với hắn lẫn sau đó, với sự khác biệt quan trọng là bác không bao giờ tha thứ cho tên khốn đó về chuyện hắn đã làm cháu bị tổn thương như thế…”

“Đó là việc của tôi,” Julia nói, “không phải của ông.”

“Cháu sai rồi. Nó cũng là việc của bác nữa. Alvaro đã chiếm được vị trí mà bác không bao giờ có được. Nói theo cách khác…” ông do dự một lát và mỉm cười cay đắng, “hắn là tình địch của bác. Kẻ duy nhất có khả năng mang cháu đi khỏi bác.”

“Chuyện giữa anh ấy và tôi đã kết thúc. Thật lố bịch khi liên hệ hai chuyện này với nhau.”

“Không lố bịch lắm đâu. Nhưng chúng ta không bàn tới chuyện này nữa. Bác căm ghét hắn, và sự thật là thế. Tất nhiên, đây không phải là lý do để giết ai đó. Nếu vì lý do này, bác có thể cam đoan với cháu bác đã không đợi lâu đến thế trước khi ra tay. Thế giới này của chúng ta, thế giới của mỹ thuật và đồ cổ, là một nơi rất nhỏ bé. Alvaro và bác thỉnh thoảng vẫn có liên hệ về vấn đề chuyên môn, điều đó là không thể tránh khỏi. Mối quan hệ giữa bác và hắn không thể coi là thân mật, tất nhiên rồi, nhưng đôi khi tiền bạc và lợi ích tạo ra những kẻ cùng hội cùng thuyền thật lạ lùng. Bằng chứng là khi gặp phải khó khăn với bức tranh của Van Huys, chính cháu cũng đi thẳng tới tìm hắn. Vậy là bác cũng tìm hắn và đề nghị hắn tìm kiếm tài liệu về bức tranh. Bác không trông đợi hắn làm vậy vì tình yêu dành cho nghệ thuật, tất nhiên rồi. Bác đề nghị với hắn một khoản tiền hợp lý. Anh chàng bạn trai cũ của cháu, Chúa an ủi linh hồn anh ta, luôn là một anh chàng cao giá. Rất cao giá.”

“Tại sao ông không nói gì với tôi về việc này?”

“Vì vài lý do. Thứ nhất, bác không muốn thấy cháu bắt đầu một mối quan hệ nữa với hắn, cho dù chỉ thuần túy chuyên môn. Cháu sẽ chẳng bao giờ đảm bảo được rằng không còn vài mẩu than hồng vẫn còn âm ỉ cháy dưới lớp tro. Nhưng cũng còn một nguyên nhân khác nữa. Bức tranh đó có liên quan tới những cảm xúc cá nhân rất riêng tư.” Ông chỉ vào bộ cờ bằng ngà voi đặt trên mặt bàn. “Nó liên quan tới một phần con người bác mà bác từng nghĩ đã mãi mãi từ bỏ, một góc nội tâm của bác mà không ai được phép tiếp cận, kể cả cháu, công chúa. Nói với cháu cũng có nghĩa là mở toang cánh cửa dẫn tới những điều bác sẽ chẳng bao giờ đủ can đảm để trò chuyện về chúng với cháu.” Ông nhìn sang Muñoz, người vẫn đang đứng ngoài cuộc đối thoại. “Bác nghĩ ông bạn đây của chúng ta có thể khai sáng cho cháu về chủ đề này. Có phải vậy không? Cờ vua là sự thể hiện cái tôi cá nhân, thất bại là sự thất vọng trong khoái cảm xác thịt và những thứ thú vị tối tăm tương tự. Những nước đi dài theo đường chéo xuyên qua bàn cờ của quân giám mục.” Ông liếm quanh miệng cốc và khẽ rùng mình. “À, phải. Bác dám chắc ông lão Sigmund sẽ có khối thứ để nói về chủ đề này.”

Ông thở dài mặc niệm những bóng ma của chính mình, rồi chậm rãi nâng cốc lên hướng về phía Muñoz.

“Tôi vẫn không hiểu,” Julia khăng khăng, “những điều ông vừa nói có gì liên quan tới Alvaro.”

“Ban đầu thì không nhiều,” César thừa nhận. “Bác chỉ muốn một bản tập hợp tư liệu nho nhỏ về lịch sử bức tranh. Một thứ mà vì nó, như bác đã nói, bác sẵn sàng trả hào phóng. Nhưng mọi chuyện trở nên rắc rối khi cháu quyết định cũng tìm đến nhờ hắn tư vấn. Về nguyên tắc thì chuyện này cũng không có gì quan trọng. Với Alvaro, hắn đã thể hiện thái độ kín đáo chuyên nghiệp một cách đáng khen ngợi, kìm nén không kể cho cháu nghe mối quan tâm của bác với bức tranh, vì bác đã đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu hắn phải hoàn toàn giữ bí mật.”

“Nhưng chẳng lẽ anh ấy không thấy lạ về việc ông bí mật tìm hiểu về bức tranh sau lưng tôi sao?”

“Không hề. Hoặc nếu có thì hắn cũng không nói ra lời. Có lẽ hắn nghĩ bác muốn dành cho cháu một bất ngờ, bằng cách cung cấp cho cháu vài thông tin mới. Hoặc có lẽ hắn nghĩ bác đang lừa cháu.” César trầm ngâm cân nhắc một cách nghiêm túc. “Bây giờ, khi nghĩ tới điều đó, chỉ riêng việc ấy thôi cũng đáng để hắn bị giết.”

“Anh ấy đã cố gắng báo trước cho tôi. Anh ấy có nói về việc gần đây tranh của Van Huys trở nên rất thời thượng.”

“Một kẻ đê tiện tới lúc chết,” César nhận xét. “Bằng cách nói với cháu lời ám chỉ chung chung đó, hắn đã giữ được thể diện trước mặt cháu, đồng thời cũng không làm bác bực mình. Hắn giữ cho cả hai chúng ta cùng cảm thấy hài lòng: hắn vừa có tiền, vừa để mở được khả năng hâm nóng lại những cảnh lãng mạn của một năm trước.” Ông nhướng một bên mày lên, bật cười cụt lủn. “Nhưng bác đang kể cho cháu nghe chuyện gì đã xảy ra giữa Alvaro và bác.” Ông lại chăm chú ngắm nghía chiếc cốc của mình. “Hai ngày sau cuộc nói chuyện giữa bác và hắn, cháu tới nói cho bác biết về dòng chữ bị che kín. Bác đã cố giấu kín cảm xúc của mình tốt nhất có thể, song phát hiện đó tác động lên bác như một cú điện giật vậy. Nó xác nhận linh cảm của bác về sự tồn tại của một bí ẩn nào đó. Bác biết điều đó sẽ làm tăng giá trị bức tranh của Van Huys, và bác nhớ từng nói với cháu như thế. Điều đó, cùng với lịch sử bức tranh và các nhân vật của nó, sẽ có thể mở ra những khả năng mà vào lúc đó bác nghĩ sẽ thật tuyệt diệu: bác và cháu sẽ cùng nhau chia sẻ cuộc tìm kiếm và giải đáp bí ẩn. Sẽ giống như những ngày xưa, cháu thấy đấy, giống như tìm kiếm các kho báu bị chôn giấu, nhưng lần này là một kho báu thực sự. Và với cháu, Julia, điều đó sẽ đồng nghĩa với sự nổi tiếng. Tên tuổi của cháu nổi bật trên các tạp chí chuyên ngành, trong các cuốn sách về mỹ thuật. Còn về phần bác… hãy chỉ nói đơn giản là bác hài lòng với điều đó. Nhưng tự mình tham gia vào trò chơi cũng đồng nghĩa với một thách thức cá nhân phức tạp. Có một điều chắc chắn, tham vọng không liên quan gì tới việc này hết. Cháu có tin bác không?”

“Tôi tin ông.”

“Bác rất mừng. Vì chỉ vậy cháu mới có thể hiểu được những gì diễn ra sau đó.” César lắc những viên đá trong chiếc cốc của ông, tiếng chúng va vào nhau lanh canh dường như giúp ông sắp xếp lại ký ức trong đầu tuần tự hơn. “Khi cháu về rồi, bác gọi điện thoại cho Alvaro, bác và hắn nhất trí bác sẽ tới gặp hắn vào buổi trưa. Bác tới nơi không có bất cứ dự tính ác ý nào, và bác thú nhận lúc đó bác đang run lên thuần túy vì phấn khích. Alvaro nói với bác những gì hắn tìm hiểu được. Bác hài lòng nhận thấy hắn không biết gì về dòng chữ bị giấu kín. Mọi việc diễn ra xuôi chèo mát mái cho tới khi hắn bắt đầu nói về cháu. Khi đó, công chúa ạ, bầu không khí của cuộc gặp gỡ thay đổi hoàn toàn.”

“Theo hướng nào vậy?”

“Theo mọi hướng.”

“Ý tôi là Alvaro đã nói gì về tôi?”

César cựa người trên ghế, có vẻ bối rối, trước khi miễn cưỡng trả lời.

“Cuộc viếng thăm của cháu đã gây ấn tượng rất mạnh với hắn. Hay ít nhất đó là những gì hắn nói. Bác thấy cháu đã khuấy động trở lại những cảm xúc cũ theo cách nguy hiểm nhất có thể, còn Alvaro chẳng hề ngại nếu mọi thứ lại đi theo con đường cũ.” Ông ngừng lời và cau mày. “Julia, cháu chỉ đơn giản không thể tưởng tượng được điều đó làm bác khó chịu tới mức nào. Alvaro đã hủy hoại hai năm của đời cháu, còn bác đang ngồi đó, đối diện với hắn, lắng nghe những dự định trơ tráo vô liêm sỉ của hắn để xâm nhập trở lại cuộc sống của cháu. Bác đã nói với hắn, một cách dứt khoát, rằng hãy để cháu được yên. Hắn nhìn bác như thể bác là một bà hoàng già nua hay nhúng mũi vào chuyện của người khác, và hai người bắt đầu to tiếng. Bác sẽ không bắt cháu phải nghe những chi tiết của nó, nhưng quả thực đó là một cuộc đôi co đáng chán đến tột độ. Hắn buộc tội bác đã nhúng mũi vào chuyện không ai khiến bác quan tâm.”

“Và anh ấy đã nói đúng.”

“Không, hắn không hề đúng. Cháu rất quan trọng với bác, Julia. Cháu có ý nghĩa với bác hơn bất cứ thứ gì trên thế giới này.”

“Đừng lố bịch. Sẽ không bao giờ có chuyện tôi nối lại quan hệ với Alvaro.”

“Bác lại không thấy chắc chắn đến thế. Bác hiểu gã khốn đó có ý nghĩa đến thế nào với cháu.” Ông nhìn vào khoảng không, mỉm cười châm biếm như thể hồn ma của Alvaro, đã bị làm cho trở thành vô hại, lúc này cũng đang có mặt ở đó. “Trong lúc bác và hắn tranh cãi, bác cảm thấy cảm giác căm ghét lâu ngày dành cho hắn đang trỗi dậy trong con người mình. Nó dâng lên đầu bác giống như thứ vodka nóng bỏng của cháu. Cô bé yêu quý, đó là một cảm giác căm ghét bác không nhớ từng cảm thấy trước đó; một sự căm ghét mạnh mẽ, dữ dội, đậm chất Latin. Bác đứng dậy, và bác nghĩ mình đã mất tự chủ, vì bác lớn tiếng nhục mạ hắn, sử dụng vốn từ vựng chọn lọc nhất của một bà hàng cá mà bác luôn dành riêng cho những dịp rất đặc biệt. Thoạt đầu, hắn dường như ngỡ ngàng trước cơn nổi khùng của bác. Sau đó, hắn châm tẩu thuốc và cười vào mặt bác. Hắn nói mối quan hệ của hắn với cháu kết thúc là do lỗi của bác. Rằng bác là kẻ đáng trách trong chuyện cháu không bao giờ trưởng thành lên được. Sự hiện diện của bác trong cuộc đời cháu, sự hiện diện mà hắn mô tả là không lành mạnh và bệnh hoạn, đã cắt mất đôi cánh của cháu. ‘Và điều tệ hại nhất,’ hắn nói thêm với một nụ cười nhục mạ, ‘là ở chỗ, trong sâu thẳm, chính ông là người Julia luôn yêu, vì ông chính là hiện thân cho người cha cô ấy chưa bao giờ biết… Và đó là lý do vì sao cô ấy rơi vào mớ bòng bong hiện tại.’ Nói xong, Alvaro đút một tay vào túi, rít vài hơi thuốc từ chiếc tẩu của hắn rồi nhìn chằm chằm vào bác qua làn khói. ‘Mối quan hệ của hai người,’ hắn kết luận, ‘là một trường hợp loạn luân trong tâm tưởng không hơn không kém. Chỉ do một may mắn tình cờ mà ông lại là kẻ đồng tính.’ ”

Julia nhắm mắt lại. César để những lời nói của mình lơ lửng trong không gian và rút lui vào im lặng. Khi cô lấy lại được đủ can đảm để đưa mắt nhìn ông lần nữa, trong tâm trạng hổ thẹn và bối rối, ông chỉ nhún vai khinh khỉnh như thể ông không chịu trách nhiệm về những gì sắp nói ra.

“Với những lời đó, công chúa, Alvaro đã tự ký án tử hình cho hắn. Hắn tiếp tục ngồi hút thuốc trên chiếc ghế đối diện với bác, nhưng trên thực tế hắn đã là người chết. Không phải vì những gì hắn đã nói – vì nói cho cùng, quan điểm của hắn cũng hợp lý như của bất cứ ai khác – mà vì những điều hắn nói đã làm hé lộ cho bác về bản thân mình. Như thể hắn đã kéo lên một tấm màn suốt nhiều năm qua đã chia tách bác khỏi thực tế. Có lẽ vì nó xác nhận những suy nghĩ bác vẫn giữ kín trong những góc tối tăm nhất của nội tâm, chưa bao giờ cho phép mình dùng ánh sáng của lý trí và logic để soi rọi lên chúng.”

Ông ngừng lời, như thể đã đánh mất mạch chuyện đang nói dở, và do dự nhìn Julia cùng Muñoz. Cuối cùng, với nụ cười mơ hồ trên môi, vừa quái ác vừa e dè, ông đưa cốc lên miệng nhấp một ngụm gin.

“Một cảm hứng bất ngờ đã thúc đẩy bác. Rồi sau đó, như một điều kỳ diệu phi thường nhất trong những điều phi thường, cả một kế hoạch hoàn chỉnh tự nó hiện ra, như thể trong một câu chuyện thần tiên. Mỗi chi tiết trôi nổi ngẫu nhiên tìm thấy vị trí và ý nghĩa chính xác của nó. Alvaro, cháu, bác, bức tranh. Nó cũng ăn khớp với phần tính cách ẩn kín trong bóng tối của bác, với tất cả những tiếng vọng xa xôi, những cảm xúc đã chìm vào quên lãng, những đam mê đang ngủ yên. Trong vài giây ngắn ngủi ấy, mọi thứ bày ra trước mắt bác, giống như một bàn cờ khổng lồ trên đó mỗi con người, mỗi ý tưởng, mỗi tình huống đều tìm thấy biểu tượng đại diện cho chúng ở một quân cờ, đều tìm thấy vị trí chính xác của chúng trong thời gian và không gian. Đó là một Ván cờ với chữ V viết hoa, ván cờ vĩ đại của cuộc đời bác. Và của cả cuộc đời cháu. Bởi vì tất cả đều ở đó, công chúa: cờ vua, sự phiêu lưu, tình yêu, sự sống và cái chết. Và đến đoạn kết của nó, là cháu đang đứng đó, được giải thoát khỏi mọi thứ và mọi người, xinh đẹp và hoàn mỹ, được phản chiếu trong tấm gương sáng chói của sự trưởng thành. Cháu cần phải chơi cờ, Julia; chắc chắn là như vậy. cháu cần phải giết tất cả chúng ta một cách lần lượt để cuối cùng được tự do.”

“Lạy Chúa.”

César lắc đầu.

“Chúa không liên quan gì đến chuyện này cả. Bác có thể cam đoan với cháu rằng khi bác lao tới chỗ Alvaro và dùng chiếc gạt tàn bằng đá vỏ chai trên mặt bàn nện vào gáy hắn, bác không còn căm ghét hắn nữa. Hành động đó chẳng là gì ngoài một phần nhạt nhẽo của kế hoạch. Khó chịu nhưng cần thiết.”

Ông ngắm nghía bàn tay phải của mình với chút tò mò. Dường như ông đang đánh giá khả năng gieo rắc cái chết chứa đựng trong những ngón tay dài trắng trẻo của mình, với những móng tay được cắt ngắn chỉn chu, mà vào khoảnh khắc đó, với điệu bộ tao nhã lười nhác, đang cầm cốc rượu gin của ông.

“Hắn đổ vật xuống như một tảng đá,” ông kết luận bằng giọng bình thản dửng dưng, sau khi đã thôi ngắm nghía hai bàn tay mình. “Hắn ngã xuống mà thậm chí không kịp kêu một tiếng, chiếc tẩu vẫn cắn chặt giữa hai hàm răng. Khi hắn đã lăn ra sàn, bác giáng tiếp một cú nữa để đảm bảo là hắn thực sự chết hắn, lần này có vẻ được thực hiện chuẩn xác hơn. Nói cho cùng, đó cũng là một việc đáng làm, đáng được làm một cách chu đáo. Phần còn lại thì cháu đã biết rồi: vòi hoa sen và những thứ khác chỉ là vài nét chấm phá nghệ thuật. Brouillez les pistes[1], Arsene Lupin[2] từng nói như thế. Mặc dù Menchu, Chúa giúp bà ta được an nghỉ, hắn sẽ cho rằng câu nói này là của Coco Chanel[3]. Người đàn bà tội nghiệp.” Ông nhấp một ngụm gin như để tưởng nhớ Menchu. “Dù sao đi nữa, bác cũng đã lau sạch mọi dấu vân tay của mình bằng một chiếc khăn mùi soa và mang theo chiếc gạt tàn để phòng xa, sau đó ném nó vào một thùng rác cách đó vài cây số. Bác biết mình không nên nói thế này, công chúa, nhưng với một người mới nhập môn thì đầu óc của bác đã làm việc một cách thực sự đáng ngưỡng mộ trong vai trò tội phạm. Trước khi rời đi, bác cầm theo tập tài liệu về bức tranh mà Alvaro định chuyển cho cháu, và bác đánh máy địa chỉ lên phong bì.”

“Và ông cũng cầm theo một ít thẻ ghi chú màu trắng của anh ấy.”

“Không, thực ra thì không. Đó là một ý tưởng tài tình, nhưng nó chỉ đến với bác sau này. Bác không thể quay lại để lấy chúng, vậy là bác đã mua một ít thẻ giống hệt như thế tại một cửa hàng văn phòng phẩm. Nhưng trước hết bác cần lên kế hoạch cho ván cờ; mỗi nước đi cần phải thật hoàn hảo. Việc bác đã làm là đảm bảo cháu nhận được tập tài liệu. Điều tối cần thiết ở đây là cháu phải biết mọi thứ cần biết về bức tranh.”

“Vậy là ông viện tới người phụ nữ mặc áo mưa.”

“Phải. Và đến đây bác có một điều phải thú nhận. Bác chưa bao giờ mặc đồ phụ nữ đi ra ngoài đường, ý tưởng đó chưa bao giờ khiến bác có bất kỳ chút hứng thú nào. Đôi lúc, nhất là khi còn trẻ, bác cũng từng mặc thử đồ phụ nữ chỉ để cho vui, như thể lúc đó là thời gian diễn ra hội Carnival vậy. Nhưng bác luôn làm việc đó khi chỉ có một mình, trước một tấm gương.” Khuôn mặt César mang vẻ tinh nghịch, đê mê của một người đang nhắc lại những hồi ức vui vẻ. “Khi cần phải tìm cách chuyển chiếc phong bì tới cho cháu, bác đã nghĩ hẳn sẽ rất thú vị nếu thử lặp lại trải nghiệm đó. Đúng là một ý tưởng bất chợt, hay một dạng thách thức, nếu cháu muốn nghĩ về nó một cách khoa trương hơn. Để thử xem liệu bác có thể đánh lừa người khác bằng cách giả bộ nói ra một dạng sự thật hay một phần của nó. Vậy là bác đi mua sắm. Một quý ông dáng vẻ lịch lãm đi mua một chiếc áo mưa, một túi xách tay, một đôi giày nữ đế bằng, một bộ tóc giả màu vàng, tất dài và một chiếc váy sẽ không gây ra bất cứ sự nghi ngờ nào nếu ông ta làm thế đúng cách, tại một trong những cửa hàng bách hóa lớn luôn đông nghịt người. Phần còn lại được hoàn tất sau một màn cạo râu cẩn thận và một chút trang điểm, mà lúc này bác có thể thú nhận không chút bối rối là bác quả thực đã tự thực hiện cho mình. Không có gì xuất sắc, tất nhiên rồi. Chỉ là một chút chấm phá tế nhị về màu sắc. Không ai tại công ty chuyển phát có bất cứ nghi ngờ nào. Và bác phải nói bác thấy nó quả là một trải nghiệm thú vị… và hữu ích nữa.” Ông buông một tiếng thở dài buồn bã được cân nhắc kỹ lưỡng. Sau đó khuôn mặt ông tối sầm lại.

“Thực ra,” ông nói thêm, giọng nói lúc này đã bớt đi vẻ phù phiếm, “cháu có thể gọi đó là phần đùa cợt vui vẻ trong vụ này.” Ông nhìn Julia thật chăm chú, như thể đang cẩn thận lựa chọn từ ngữ để dành cho một thính giả vô hình và nghiêm túc hơn nhiều, người ông tin cần phải tạo được một ấn tượng tốt. “Phần khó khăn thực sự đến sau đó. Bác cần dẫn dắt cháu và Muñoz tới việc giải quyết bí ẩn, đó là phần thứ nhất của ván cờ, và tới phần thứ hai, nguy hiểm và phức tạp hơn nhiều. Rắc rối là ở chỗ, bác không chơi cờ một cách chính thức. Chúng ta cần cùng nhau tiến triển trong cuộc điều tra với bức tranh, nhưng bác lại bị trói tay khi muốn giúp cháu. Thật khủng khiếp. Bác cũng không thể chơi cờ chống lại chính mình; bác cần một đối thủ, một ai đó có tầm cỡ. Vậy là bác không còn lựa chọn nào khác ngoài tìm kiếm một Virgil để dẫn dắt cháu trong cuộc phiêu lưu này. Ông ta là quân cờ cuối cùng bác cần đưa lên bàn cờ.”

Ông uống nốt cốc rượu gin rồi đặt xuống bàn. Sau đó ông dùng chiếc khăn mùi soa lụa vừa rút ra từ cánh tay chiếc áo choàng ngủ và cẩn thận lau môi. Cuối cùng, ông đưa mắt nhìn sang Muñoz và dành cho người kỳ thủ một nụ cười thân mật.

“Chính vào lúc đó, sau khi đã tham khảo cẩn thận ý kiến hàng xóm của tôi, senor Cifuentes, giám đốc câu lạc bộ Capablanca, tôi quyết định chọn ông, ông bạn thân mến.”

Muñoz gật đầu, một cái duy nhất. Nếu ông có suy nghĩ nào về vinh hạnh mơ hồ này, ông cũng kìm lại không nói ra lời.

“Ông không bao giờ nghi ngờ rằng tôi sẽ thắng, đúng không?” Muñoz khẽ hỏi.

César làm điệu bộ ngả một chiếc mũ tưởng tượng trong cử chỉ cúi chào đầy mỉa mai.

“Không, không bao giờ,” ông đồng ý. “Ngoài tài năng với tư cách một kỳ thủ của ông, điều đã rõ ràng ngay từ khoảnh khắc tôi thấy ông đứng trước bức tranh của Van Huys, tôi đã chuẩn bị sẵn sàng, ông bạn thân mến, để cung cấp cho ông một loạt manh mối rất hấp dẫn, mà nếu được lý giải đúng đắn, sẽ dẫn ông tới việc khám phá ra bí ẩn thứ hai: danh tính của gã kỳ thủ bí hiểm.” Ông tặc lưỡi hài lòng, như thể nhâm nhi một món ngon hiếm có. “Tôi phải thừa nhận ông đã gây được ấn tượng với tôi. Nói thật lòng, ngay cả lúc này cũng vẫn thế. Đó là cách thức rất đặc trưng của riêng ông mà ông đã dùng để phân tích từng nước đi và toàn bộ ván cờ, dần dần loại bỏ những giả thiết không hợp lý. Tôi chỉ có thể mô tả nó là bậc thầy.”

“Tôi rất hân hạnh,” Muñoz đáp một cách vô cảm, và Julia không dám chắc những lời ông nói có chủ ý chân thành hay mỉa mai.

César ngả đầu ra sau, khẽ bật ra một điệu cười khoan khoái đầy chất kịch.

“Tôi phải nói,” ông nói thêm với cái nhìn đầy mâu thuẫn, gần như làm dáng, trên khuôn mặt, “rằng cảm giác dần dần bị ông dồn vào chân tường đã trở nên rất kích thích, thực sự là thế. Có điều gì đó… gần như kích thích về thể xác, nếu ông cho phép tôi dùng từ đó. Mặc dù, phải thừa nhận ông quả thực không phải kiểu tôi thích.” Ông tiếp tục chìm đắm trong suy nghĩ một lát nữa, như thể cố xác định xem chính xác nên xếp loại Muñoz như thế nào, nhưng rồi có vẻ lại từ bỏ nỗ lực này. “Với những nước đi cuối cùng, tôi nhận ra mình bắt đầu trở thành đối tượng tình nghi duy nhất. Và ông biết rằng tôi biết điều đó… Tôi không nghĩ mình sai khi nói rằng từ khoảnh khắc đó chúng ta bắt đầu xích lại gần nhau hơn. Ông không đồng ý sao? Buổi tối chúng ta cùng ngồi trên một băng ghế đối diện với tòa nhà nơi Julia sống, canh chừng với sự trợ giúp của chai cô nhắc tôi mang theo, chúng ta đã trò chuyện rất lâu về các đặc tính tâm lý của kẻ sát nhân. Tới lúc đó, ông đã gần như chắc chắn tôi chính là đối thủ của ông. Tôi mê mẩn chăm chú lắng nghe trong lúc ông giải thích, để trả lời các câu hỏi tôi đặt ra, về mối quan hệ giữa các giả thiết đã biết về bệnh lý của cờ vua. Trừ một giả thiết, tất nhiên rồi. Giả thiết ông đã không hề nhắc đến cho tới hôm nay, cho dù ông luôn biết rõ về nó. Ông biết tôi đang nhắc tới giả thiết nào.”

Muñoz gật đầu, một cử chỉ xác nhận bình thản. César chỉ về phía Julia.

“Ông và tôi biết, nhưng cô ấy thì không. Hay ít nhất cũng chưa biết tất cả. Chúng ta cần giải thích cho cô ấy rõ.” Julia nhìn César.

“Phải,” cô nói, cảm thấy mệt mỏi và bực bội với cả hai người đàn ông đang có mặt. “Có lẽ tốt hơn ông nên giải thích mình đang nói về cái gì, vì tôi bắt đầu thấy chán ngấy đến tận cổ câu chuyện điên loạn quái gở này rồi.”

Muñoz vẫn chăm chú nhìn César.

“Khía cạnh toán học của cờ vua,” ông trả lời, hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi thái độ bực dọc của Julia, “đem đến cho trò chơi này một tính chất rất đặc thù, một thứ mà các chuyên gia hẳn sẽ định nghĩa là dâm loạn đồng giới. Ông hiểu ý tôi muốn nói gì: cờ vua là trận chiến trong im lặng giữa hai người đàn ông, nó gợi cho người ta liên tưởng tới những khái niệm như gây hấn, chứng tự yêu bản thân, thủ dâm… và đồng tính luyến ái. Thắng cuộc đồng nghĩa với việc khuất phục được người cha hay người mẹ vốn chi phối anh ta, vươn lên cao hơn họ. Thua cuộc đồng nghĩa với thất bại, quy phục.” César giơ một ngón tay lên yêu cầu được chú ý.

“Trừ phi, tất nhiên rồi,” ông chỉ ra một cách lịch thiệp, “đó là chiến thắng thực sự.”

“Phải,” Muñoz nói. “Trừ phi chiến thắng bao hàm chính xác việc thể hiện nghịch lý: đánh bại chính bản thân mình.” Ông nhìn Julia một lát. “Ông đã đúng trong lời nhận xét ông từng nói với Belmonte: ván cờ, cũng giống như bức tranh, đã tự tố cáo chính nó.”

César nhìn ông với vẻ ngạc nhiên gần như hứng khởi. “Hoan hô,” ông nói. “Biến bản thân thành bất tử trong thất bại của chính mình, phải vậy không? Giống như ông lão Socrates khi uống nước cây độc cần[4].” Ông quay sang Julia với vẻ đắc thắng. “Ông bạn Muñoz thân mến của chúng ta biết hết tất cả những điều này từ nhiều ngày trước rồi, công chúa, nhưng không nói một lời với bất cứ ai, thậm chí với cả cháu và bác. Thấy mình thật dễ nhận ra qua sự vắng mặt của bản thân trong những tính toán đối thủ đưa ra, bác đã khiêm tốn tự suy đoán rằng ông ấy đang đi đúng hướng. Trên thực tế, một khi ông ấy đã nói chuyện cùng gia đình Belmonte và cuối cùng có thể chính thức loại trừ họ khỏi diện đối tượng nghi vấn, ông ấy không còn gì phải nghi ngờ về danh tính kẻ thù nữa. Tôi nói có đúng không?”

“Đúng thế.”

“Tôi có thể hỏi một câu riêng tư được không?”

“Cứ hỏi đi, rồi ông sẽ được biết.”

“Ông cảm thấy thế nào khi cuối cùng cũng tìm ra nước đi đúng, khi ông biết kẻ bí ẩn chính là tôi?”

Muñoz nghĩ ngợi một hồi.

“Nhẹ nhõm,” ông nói. “Tôi sẽ rất thất vọng nếu hắn là một kẻ khác.”

“Thất vọng vì đã suy đoán sai danh tính của gã kỳ thủ bí hiểm chăng? Tôi sẽ không phóng đại tài năng của mình lên, nhưng không hiển nhiên đến thế đâu, ông bạn thân mến. Thậm chí ông còn không biết gì về một vài nhân vật trong câu chuyện này, và chúng ta mới chỉ biết nhau vài tuần. Ông chỉ có trong tay bàn cờ của mình để suy đoán.”

“Ông nhầm rồi,” Muñoz trả lời. “Tôi muốn hắn là ông. Tôi thích cái ý tưởng đó.”

Julia nhìn hai người đàn ông, vẻ không thể tin nổi vào những gì đang được nghe hiện lên rõ mồn một trên khuôn mặt cô.

“Tôi rất vui khi thấy hai người tâm đầu ý hợp với nhau đến vậy,” cô lên tiếng mỉa mai. “Nếu hai người muốn, lát nữa tất cả chúng ta có thể ra ngoài uống một ly, vỗ vai kể cho nhau nghe những khoảnh khắc vui vẻ mà chúng ta đều được nếm trải trong chuyện này.” Cô lắc đầu, như thể cố thức tỉnh để trở lại với thực tế. “Thật không thể tin nổi, nhưng tôi có cảm giác mình hoàn toàn đang là chướng ngại vật ở đây.”

César dành cho cô một cái nhìn đượm vẻ yêu mến đau khổ. “Có những điều cháu không thể hiểu được, công chúa.”

“Đừng gọi tôi là công chúa! Hơn nữa, ông lầm rồi. Tôi hiểu quá rõ mọi thứ. Và bây giờ đến lượt tôi có một cầu hỏi dành cho ông. Ông sẽ làm gì sáng hôm đó ở chợ Rastro, nếu tôi không phát hiện ra bình khí và tấm thẻ, nếu tôi chỉ đơn giản chui vào trong chiếc xe có lốp đã bị biến thành một quả bom và khởi động động cơ?”

“Thật ngớ ngẩn.” César có vẻ phật ý. “Bác sẽ không bao giờ để cháu làm thế.”

“Thậm chí bất chấp cả nguy cơ làm lộ bản thân?”

“Tất nhiên rồi. Cháu biết thế mà. Muñoz đã nói từ trước rồi đó thôi. Cháu chưa bao giờ gặp bất cứ nguy hiểm nào. Sáng hôm đó, mọi thứ đã được lên kế hoạch tới từng chi tiết nhỏ nhất: bộ đồ hóa trang chuẩn bị sẵn sàng trong căn phòng nhỏ chật chội có hai cửa riêng biệt mà bác đã thuê làm nhà kho, cuộc hẹn với đối tác, một cuộc gặp có thật mà bác đã giải quyết xong trong vòng vài phút… Bác thay đồ nhanh nhất có thể, đi tới con hẻm, bơm khí vào lốp xe, để lại tấm thẻ rồi đặt bình khí rỗng lên nắp ca pô. Sau đó bác dừng lại ở chỗ người phụ nữ bán tranh và tượng thánh để đảm bảo chắc chắn bà ta sẽ nhớ bác, rồi quay lại căn phòng kho, và sau khi thay quần áo và tẩy trang, quay ra đi tới gặp cháu ở quán cà phê. Cháu phải thừa nhận việc căn thời gian của bác thực sự không chê vào đâu được.”

“Một cách bệnh hoạn.”

César nhìn cô trách móc.

“Đừng thô thiển vậy chứ, công chúa.” Ông nhìn cô với thái độ thật thà thực sự đáng ghi nhận bởi vẻ chân thật hoàn toàn của nó. “Sử dụng những từ ngữ kinh khủng đó sẽ chẳng dẫn chúng ta tới đâu cả.”

“Tại sao phải nhọc công đến vậy để hù dọa tôi?”

“Đó là một cuộc phiêu lưu, phải không nào? Nhất thiết phải có chút đe dọa ám ảnh trong không khí. Cháu có thể hình dung ra một cuộc phiêu lưu nào lại vắng mặt nỗi sợ hãi không? Bác không thể kể cho cháu nghe những câu chuyện từng khiến cháu run rẩy khi cháu còn là một cô bé con, vậy là bác sáng tạo ra cuộc phiêu lưu kỳ thú nhất bác có thể tưởng tượng được. Một cuộc phiêu lưu cháu sẽ không bao giờ quên trong suốt cuộc đời mình.”

“Về chuyện đó ông có thể yên tâm.”

“Vậy thì nhiệm vụ đã hoàn tất. Cuộc tranh đấu giữa lý trí và sự bí ẩn, cuộc tiêu diệt những bóng ma đang chăng bẫy cháu. Không tồi, phải không nào? Và thêm vào đó là việc khám phá ra cái thiện và cái ác không hoàn toàn tách biệt khỏi nhau như những ô đen và ô trắng trên bàn cờ.” Ông nhìn Muñoz trước khi nhếch mép mỉm cười, như thể muốn nhắc tới một bí mật chỉ riêng hai người biết với nhau. “Tất cả các ô vuông, cô bé yêu quý, đều màu xám, được nhuộm màu bởi ý thức về cái ác, thứ ý thức tất cả chúng ta đều thu được qua trải nghiệm, một ý thức nhắc nhở ta rằng thứ chúng ta gọi là cái thiện nhiều khi hóa ra có thể vô tích sự và hèn hạ một cách ti tiện đến thế nào. Cháu chắc còn nhớ Settembrini, một nhân vật bác từng rất ngưỡng mộ trong cuốn tiểu thuyết Ngọn núi thần kỳ. Ông ta từng nói cái ác chính là vũ khí sắc bén và sáng chói của lý trí để chống lại các thế lực xấu xa đen tối.”

Julia chăm chú quan sát khuôn mặt của César. Có những khoảnh khắc có vẻ như chỉ một nửa khuôn mặt của ông đang nói, nửa có thể nhìn thấy hoặc nửa đang chìm trong bóng tối, còn nửa kia chỉ ở đó làm nhân chứng. Và cô tự hỏi nửa nào trong chúng thật hơn.

“Buổi sáng hôm đó, khi chúng ta tấn công chiếc Ford màu xanh, tôi đã thực sự yêu ông, César.”

Một cách vô thức, cô hướng câu nói tới nửa khuôn mặt được chiếu sáng của ông, song câu trả lời lại tới từ nửa khuôn mặt đang chìm trong bóng tối.

“Bác biết là thế. Và điều đó giải thích cho tất cả. Bác cũng không hề biết chiếc xe ấy đang làm gì ở đó. Nó cũng khiến bác tò mò chẳng kém gì cháu. Thậm chí còn nhiều hơn, vì những lý do hiển nhiên. Chẳng có ai, nếu cháu chấp nhận lượng thứ cho cách pha trò có phần u ám này, mời nó tới dự tang lễ cả.” Ông khẽ lắc đầu trong lúc nhớ lại. “Bác phải nói là vài mét ngắn ngủi đó, cháu với khẩu súng trong tay và bác với cây gậy sắt, cũng như cuộc tấn công của chúng ta nhằm vào hai gã ngốc đó, trước khi chúng ta phát hiện ra bọn họ là đám đệ tử của thanh tra Feijoo” – ông làm điệu bộ như thể không thể tìm ra từ nào phù hợp để diễn tả những cảm xúc của mình – “quả là tuyệt diệu. Bác ngắm nhìn cháu tiến thẳng tới kẻ thù, mày cau lại đầy giận dữ, răng nghiến chặt, can đảm và khủng khiếp như một nữ thần báo oán. Cùng với sự phấn khích, bác cảm thấy thực sự tự hào. Ngay kia là một người phụ nữ có tính cách thực thụ, bác tự nhủ, thực thụ một cách đáng ngưỡng mộ. Nếu như cháu thuộc về một kiểu người khác, kiểu người hay dao động hoặc dễ bị tổn thương, bác đã không bao giờ lôi cháu vào một bài kiểm tra như thế. Nhưng bác biết chắc cháu sẽ vượt qua nó để trở thành một người phụ nữ mới, cứng cỏi hơn, mạnh mẽ hơn.”

“Ông không nghĩ rằng cái giá phải trả cho điều đó quá đắt sao? Alvaro, Menchu… bản thân ông nữa.”

César dường như đang tìm kiếm trong trí nhớ, như thể cần cố gắng để nhớ ra người mà Julia vừa nhắc tới. “À, phải, Menchu,” cuối cùng ông thốt lên, và cau mày. “Menchu khốn khổ, bị mắc kẹt trong một ván cờ quá phức tạp với bà ta. Cho dù, nếu cháu lượng thứ cho cách diễn đạt thiếu khiêm tốn của bác, chuyện xảy ra với bà ta quả là một phút ngẫu hứng chói sáng. Sáng hôm đó, khi bác gọi điện thoại cho cháu để xem mọi chuyện diễn biến ra sao, Menchu đã nhấc máy và nói cháu không có nhà. Bà ta có vẻ vội vã muốn gác máy, và giờ chúng ta đã biết vì sao. Bà ta đang đợi Max để thực thi kế hoạch đánh cắp bức tranh lố bịch của bọn họ. Tất nhiên bác không biết gì về chuyện đó. Nhưng ngay khi đặt ống nghe xuống, bác biết nước đi tiếp theo của bác sẽ là gì: Menchu và bức tranh. Nửa giờ sau bác bấm chuông cửa, trong bộ dạng người phụ nữ mặc áo mưa.”

Nói đến đây, César có vẻ thú vị, như thể cố làm cho Julia nhìn ra khía cạnh hài hước kỳ cục của tình huống mà ông đang mô tả.

“Công chúa,” ông nói tiếp, nhướng một bên mày lên, “bác luôn nói với cháu rằng cháu nên trổ một khe nhòm trên cửa ra vào – rất hữu dụng nếu cháu muốn biết người đang gọi cửa là ai. Menchu rất có thể đã không mở cửa cho một phụ nữ tóc vàng đeo kính đen. Nhưng bà ta chỉ nghe thấy giọng của César nói với bà ta rằng ông ấy nhận được một lời nhắn của cháu bảo tới gấp. Bà ta chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài mở cửa, và bà ta đã làm thế thật.” Ông ngửa hai bàn tay lên, như thể một lời xin lỗi muộn màng dành cho sai lầm của Menchu. “Bác đoán vào khoảnh khắc đó bà ta nghĩ kế hoạch của mình cùng với Max sắp hỏng bét, nhưng rồi tâm trạng lo lắng chuyển thành ngạc nhiên khi bà ta nhìn thấy một người phụ nữ lạ mặt đứng trước ngưỡng cửa. Bác chỉ có vừa đủ thời gian để thấy cái nhìn sững sờ của bà ta trước khi tặng cho bà ta một đòn chí tử vào cổ họng. Bà ta chết ngay lập tức, không kịp biết ai đã giết mình, bác dám chắc là vậy. Bác đóng cửa lại, bắt tay vào dàn dựng mọi thứ. Thế rồi – việc này quả thực bác không lường đến – bác nghe thấy tiếng chìa xoay trong ổ khóa.”

“Max,” Julia nói, dù không cần thiết.

“Đúng thế. Chính là anh chàng trai bao đẹp mã, kẻ mà như sau này bác được biết, khi hắn ta thuật lại mọi chuyện cho cháu tại đồn cảnh sát, đã quay lại lần thứ hai vào sáng hôm đó để mang bức tranh đi trước khi Menchu gây hỏa hoạn trong căn hộ của cháu. Cũng phải nói đó quả là một kế hoạch hoàn toàn ngớ ngẩn, nhưng lại hoàn toàn đặc trưng cho đầu óc của Menchu và gã ngốc của bà ta.”

“Cũng có thể người ngoài cửa chính là tôi. Ông có nghĩ tới tình huống đó không?”

“Bác phải thú thực khi nghe thấy tiếng chìa khóa mở cửa, bác đã nghĩ đó là cháu.”

“Và nếu đúng là thế thì ông sẽ làm gì? Tặng cho tôi một đòn chí tử vào cổ họng chăng?”

Ông lại nhìn cô với dáng vẻ của một người bị phán xét không công bằng.

“Một câu hỏi như thế,” ông nói, tìm kiếm một câu trả lời hợp lý, “sẽ là vừa tàn nhẫn vừa kỳ quái.”

“Thật sao?”

“Phải, đúng thế. Bác không biết chính xác trong trường hợp đó bác sẽ phản ứng ra sao nữa. Nhưng sự thật là bác cảm thấy luống cuống thực sự, và tất cả những gì bác có thể nghĩ ra là trốn vào chỗ nào đó. Bác chạy vào phòng tắm, nín thở, cố tìm một lối thoát ra ngoài từ đó. Nhưng chắc chắn sẽ không có gì xấu xảy ra với cháu. Trong trường hợp đó ván cờ chỉ đơn giản là sẽ kết thúc nửa chừng. Vậy thôi.”

Julia bĩu môi, cảm thấy câu trả lời đang nóng rát lên trong miệng cô.

“Tôi không tin ông, César. Không bao giờ nữa.”

“Cho dù cháu có tin bác hay không, cô bé yêu quý, cũng không có bất kỳ sự thay đổi nào.” Ông phác một cử chỉ cam chịu, như thể cuộc đối thoại bắt đâu làm ông mệt mỏi. “Đến lúc này điều đó thực sự không còn quan trọng nữa. Điều quan trọng là người đó không phải cháu mà là Max. Bác nghe hắn ta gọi: ‘Menchu, Menchu.’ Hắn hoảng hồn, nhưng không dám la to lên, tên khốn kiếp. Lúc đó bác đã bình tĩnh lại. Bác có sẵn trong túi một con dao, con dao của Cellini mà cháu vẫn thường trông thấy. Và nếu lúc đó Max bắt đầu sục sạo quanh các căn phòng, chắc hắn hắn ta đã gặp con dao đó theo cách ngu ngốc nhất có thể, ngay đúng tim, một cách bất ngờ, trước khi hắn ta kịp thốt ra dù chỉ một lời. May cho hắn, và cho bác, hắn không có đủ can đảm, mà thay vào đó hắn quyết định chuồn. Quả là một người anh hùng.”

Ông ngừng lời và thở dài, nhưng không có chút khoa trương nào.

“Vi thế hắn đã giữ được mạng, tên ngốc,” ông nói thêm, rồi đứng dậy. Sau khi đứng lên, ông đưa mắt nhìn Julia và Muñoz, cả hai đều đang nhìn ông, rồi đi vẩn vơ quanh phòng, tấm thảm trải sàn nuốt chửng tiếng bước chân của ông.

“Đáng ra bác cũng nên làm điều mà Max đã làm là cao chạy xa bay càng nhanh càng tốt, vì theo như tất cả những gì bác biết, cảnh sát có thể sắp tới. Nhưng thứ mà chúng ta có thể gọi là danh dự nghệ sĩ của bác đã chiếm ưu thế, và bác kéo Menchu vào trong phòng ngủ và… vậy đấy, cháu biết chuyện gì đã xảy ra. Bác chỉnh trang lại bối cảnh một chút, để đảm bảo lời buộc tội sẽ rơi xuống đầu Max. Tất cả mất năm phút.”

“Tại sao ông phải làm như thế với cái chai? Điều đó hoàn toàn không cần thiết. Thật ghê tởm và kinh khủng.”

César tặc lưỡi. Ông dừng bước trước một trong những bức tranh treo trên tường, bức Con người của danh họa Luca Giordano, và ngắm nhìn nó như thể trông đợi vị thần bị giam hãm trong bộ giáp trụ sáng ngời kiểu Trung cổ đã hoàn toàn lỗi thời cung cấp cho mình câu trả lời.

“Cái chai,” ông lẩm bẩm, không quay mặt lại nhìn hai vị khách, “là một chi tiết bổ sung. Một nét chấm phá cuối cùng theo cảm hứng.”

“Nó chẳng có gì liên quan tới cờ vua cả,” Julia lên tiếng, giọng cô sắc lạnh như một lưỡi dao cạo. “Đúng hơn là một kiểu trả thù… tất cả phụ nữ.”

César chậm rãi quay lại hướng về phía cô. Lần này đôi mắt ông không cầu xin sự rộng lượng hay tỏ vẻ mỉa mai châm biếm nữa; ngược lại, chúng có vẻ xa xăm, bí hiểm.

“Sau đó,” cuối cùng ông lên tiếng, nói với giọng dửng dưng như thể không hề nghe thấy những gì Julia vừa nói, “bác dùng chiếc máy chữ của cháu để gõ nước đi tiếp theo, rồi cầm lấy bức tranh đã được Max đóng gói và cùng với nó rời khỏi đó. Tất cả chỉ có thế.”

Ông nói với giọng bình thản, như thể cuộc đối thoại không còn làm ông quan tâm nữa. Song Julia còn lâu mới coi như câu chuyện đã kết thúc.

“Nhưng tại sao lại giết Menchu? Ông có thể vào căn hộ của tôi bất cứ khi nào ông muốn. Có cả nghìn cách khác để đánh cắp bức tranh.”

Lời nhận xét đó làm đôi mắt César lại bừng lên đầy sức sống.

“Công chúa, bác thấy là cháu cương quyết dành cho vụ trộm tranh tầm quan trọng được phóng đại thái quá. Thực tế, nó cũng chỉ là một chi tiết như mọi chi tiết khác. Trong suốt câu chuyện này bác đã thực hiện một số hành động đơn giản vì chúng bổ sung cho những hành động khác. Như lớp kem trên chiếc bánh, cháu có thể gọi như vậy cũng được,” ông nói, cố gắng tìm ra cách diễn đạt ưng ý. “Có vài lý do Menchu phải chết: lúc này một số đã trở nên vô nghĩa, một số khác thì không. Hãy cho rằng chúng xuất phát từ lý do thuần túy thẩm mỹ, và cũng vì thế ông bạn Muñoz của chúng ta có được khám phá đáng kinh ngạc về mối liên hệ giữa họ của Menchu và quân tháp bị ăn, cho tới những nguyên nhân sâu xa hơn. Bác đã sắp xếp mọi thứ để giải thoát cháu khỏi những ràng buộc và ảnh hưởng tai hại, để cắt đứt những mối liên hệ giữa cháu với quá khứ. Thật không may cho bà ta, Menchu, với sự ngu ngốc và thô thiển bẩm sinh của mình, là một trong những mối liên hệ đó, cũng như Alvaro.”

“Và ai đã cho ông quyền phán quyết về sự sống và cái chết?”

César dành cho cô một nụ cười độc ác.

“Chính bác, chỉ mình bác. Hãy thứ lỗi cho bác nếu câu trả lời nghe có phần ngạo mạn.” Dường như ông vừa đột ngột nhớ ra sự hiện diện của Muñoz. “Về phần còn lại của ván cờ, bác không có nhiều thời gian. Muñoz giống như một con chó săn nòi bám sát đường đi nước bước của bác. Chỉ thêm vài nước cờ nữa và ông ấy hẳn sẽ chỉ tay thẳng vào bác. Nhưng bác biết ông bạn thân mến của chúng ta sẽ không ra tay cho tới khi ông ấy đã hoàn toàn chắc chắn. Mặt khác, tới lúc đó ông ấy đã biết chắc cháu không hề gặp bất cứ nguy hiểm nào. Ông ấy cũng là một nghệ sĩ, theo cách riêng của mình. Chính vì thế ông bạn của chúng ta để cho bác được tiếp tục ván cờ, trong khi ông ấy tìm kiếm những bằng chứng cho phép khẳng định các kết luận từ quá trình phân tích của mình. Tôi nói đúng chứ, ông bạn Muñoz?”

Muñoz chỉ trả lời bằng một cái gật đầu chậm rãi. César đã tới bên chiếc bàn nhỏ có bày bộ cờ. Sau khi ngắm nhìn các quân cờ một hồi, ông kiểu cách cầm quân hậu trắng lên, như thể nó được làm bằng thủy tinh mong manh dễ vỡ, và nhìn nó hồi lâu.

“Tối hôm qua,” ông nói, “trong lúc cháu đang làm việc trong xưởng phục chế ở bảo tàng Prado, bác vào trong bảo tàng mười phút trước giờ đóng cửa. Bác lang thang qua các căn phòng dưới tầng trệt và cài tấm thẻ vào chỗ bức tranh của Brueghel. Sau đó bác đi uống cà phê cho qua thời gian trước khi có thể gọi điện thoại cho cháu. Tất cả là vậy. Điều duy nhất bác không lường trước là Muñoz lại tìm ra tập tạp chí cờ vua cũ đó trong thư viện của câu lạc bộ. Bác đã quên mất sự tồn tại của nó.”

“Có điều gì đó không đúng ở đây,” Muñoz đột ngột lên tiếng, và Julia ngạc nhiên quay về phía ông. Người kỳ thủ đang nhìn chằm chằm vào César, đầu hơi nghiêng sang một bên, một tia sáng tò mò đang lóe lên trong đôi mắt; đó là dáng vẻ của ông khi ông đang tập trung vào bàn cờ, lần theo một nước đi không hoàn toàn làm ông hài lòng. “Ông là một kỳ thủ xuất sắc, chúng ta nhất trí về điều này. Hay đúng hơn, ông sở hữu năng lực để có thể trở thành một kỳ thủ xuất sắc. Dẫu vậy, tôi không tin ông có khả năng chơi được ván cờ theo cách ông đã chơi. Các nước đi kết hợp với nhau một cách quá hoàn hảo, không thể có được ở một người đã rời xa bàn cờ suốt ba mươi lăm năm. Trong cờ vua, kinh nghiệm và thực hành là những điều cốt yếu nhất. Đó là lý do tại sao tôi biết chắc ông đã nói dối chúng tôi. Hoặc ông đã chơi cờ rất nhiều trong suốt những năm qua, một mình, hoặc phải có ai đó khác giúp ông. Tôi không muốn làm tổn thương lòng kiêu hãnh phù phiếm của ông, César, nhưng tôi dám chắc ông có một kẻ tòng phạm.”

Một hồi lầu im lặng nặng nề buông xuống sau những câu nói này. Julia đưa mắt nhìn cả hai người đầy bối rối, không thể tin nổi vào những gì Muñoz vừa nói. Nhưng đúng vào lúc cô định nói rằng chuyện đó thật ngớ ngẩn, cô nhận ra César, khuôn mặt vốn nãy giờ dường như đóng băng lại thành một tấm mặt nạ vô cảm không thể nhìn thấu qua được, cuối cùng cũng nhướng một bên lông mày lên đầy bỡn cợt. Nụ cười xuất hiện sau đó là một nụ cười hết cỡ biểu lộ sự thừa nhận và ngưỡng mộ. Ông thở dài thật sâu, khoanh tay lại và gật đầu.

“Ông bạn của tôi,” ông chậm rãi nói, nhấn nhá từng từ một, “ông xứng đáng trở thành ai đó khá hơn nhiều so với việc chỉ đơn thuần là một người vô danh tìm đến chơi cờ ở câu lạc bộ cờ địa phương mỗi dịp cuối tuần.” Ông vung bàn tay phải ra như thể chỉ ra sự hiện diện của một nhân vật vẫn luôn có mặt cùng họ suốt từ đầu cuộc gặp, trong một góc tối của căn phòng. “Quả thực, đúng là tôi có một tòng phạm, mặc dù trong trường hợp này kẻ tòng phạm của tôi có thể coi mình được an toàn trước bất cứ sự trừng phạt nào của công lý. Ông có muốn biết tên của anh ta không?”

“Tôi đang hy vọng ông sẽ cho tôi biết.”

“Tất nhiên là thế rồi, vì tôi không nghĩ sự phản bội của mình sẽ gây hại gì nhiều cho anh ta.” Ông nở một nụ cười, lần này còn rộng hơn. “Tôi hy vọng ông sẽ không cảm thấy bị xúc phạm, ông bạn đáng kính, khi tôi dành sự thỏa mãn nhỏ nhoi này cho bản thân mình. Tin tôi đi, việc biết được ông không thể hoàn toàn tìm ra mọi thứ khiến tôi khoan khoái vô cùng. Ông có thể đoán ra anh ta là ai không?”

“Tôi không thể, và tôi dám chắc đó không phải là một người tôi quen biết.”

“Ông nói đúng đấy. Tên anh ta là Alfa PC-1212. Anh ta là một chiếc máy tính cá nhân có cài một chương trình chơi cờ vua phức tạp với hai mươi cấp độ chơi. Tôi đã mua nó một ngày sau khi giết Alvaro.”

Đây mới là lần thứ hai kể từ khi biết ông, Julia nhìn thấy vẻ ngỡ ngàng trên khuôn mặt Muñoz. Ánh sáng trong đôi mắt ông tắt ngấm, và miệng ông há ra kinh ngạc.

“Ông không có gì để nói sao?” César hỏi, quan sát người kỳ thủ với vẻ tò mò thích thú.

Muñoz nhìn ông hồi lâu song không trả lời. Sau một hồi, người kỳ thủ đưa mắt nhìn sang Julia.

“Cô vui lòng cho tôi xin một điếu thuốc,” ông đờ đẫn nói.

Cô đưa cho ông cả bao thuốc, và người kỳ thủ xoay xoay nó bằng các ngón tay của mình trước khi lấy ra một điếu đưa lên môi. Julia quẹt diêm châm thuốc cho ông, và Muñoz chậm rãi hít một hơi thuốc thật sâu vào đầy hai buồng phổi. Dường như tâm trí ông đang cách xa nơi ông đứng cả triệu cây số.

“Thật khó để chấp nhận nổi, phải không nào?” César nói, bật cười khẽ. “Suốt thời gian vừa qua ông đã chỉ đấu trí với một chiếc máy tính, một cỗ máy không có bất cứ cảm xúc hay cảm giác nào. Tôi chắc ông sẽ đồng ý với tôi rằng đây là một nghịch lý thật thú vị, một biểu tượng hoàn hảo cho thời đại chúng ta đang sống. Cỗ máy kỳ diệu của Maelzel có một người ẩn nấp bên trong, theo như suy đoán của Poe. Ông còn nhớ chứ? Nhưng thời thế đã thay đổi, ông bạn thân mến. Giờ đến lượt các cỗ máy tự động ẩn nấp bên trong hình hài của con người.” Ông giơ quân hậu làm bằng ngà voi đã ngả vàng lên, trưng nó ra đầy mỉa mai. “Và tất cả tài năng của ông, trí tưởng tượng phong phú và khả năng phân tích toán học hiếm có ông sở hữu, senor Muñoz thân mến, cũng chỉ tương đương với một chiếc đĩa mềm nhỏ bé bằng chất dẻo đặt gọn trong lòng bàn tay, giống như một hình ảnh phản chiếu đầy mỉa mai trong một tấm gương chỉ cho phép chúng ta thấy một hình ảnh châm biếm về con người của chính mình. Tôi e rằng, cũng như Julia, ông sẽ không bao giờ có thể trở lại như trước đây sau trải nghiệm này. Cho dù trong trường hợp của ông,” vị chủ nhà thừa nhận với nụ cười trầm ngâm, “tôi không nghĩ ông sẽ thu được gì nhiều từ sự thay đổi này.”

Muñoz vẫn không nói gì. Ông chỉ đứng đó, hai tay đút trở lại vào túi áo mưa, điếu thuốc vẫn ngậm trên môi, đôi mắt hơi khép lại trong làn khói thuốc, không biểu lộ bất cứ cảm xúc nào. Trông ông giống như một người đang nhại lại điệu bộ của một anh chàng thám tử ăn mặc tồi tàn mà người ta vẫn hay thấy trong các bộ phim đen trắng.

“Tôi xin lỗi,” César nói, và dường như ông đang chân thành. Vị chủ nhà trả quân hậu xuống bàn cờ với điệu bộ của một người chuẩn bị hạ màn kết thúc một buổi tối vui vẻ rồi đưa mắt nhìn Julia.

“Để kết thúc,” ông nói, “tôi sẽ cho hai người xem một thứ.”

Ông bước đến chiếc bàn viết có ngăn kéo bằng gỗ gụ, mở và lấy ra một phong bì dày được dán kín và ba bức tượng sứ nhỏ của Bustelli.

“Cháu giành được giải thưởng, công chúa.” Ông mỉm cười nhìn cô với một thoáng tinh nghịch trong ánh mắt. “Một lần nữa cháu lại tìm ra kho báu được cất giấu. Giờ cháu có thể làm gì với nó tùy thích.”

Julia nhìn những bức tượng sứ và chiếc phong bì với vẻ nghi ngờ.

“Tôi không hiểu.”

“Cháu sẽ hiểu sau một phút nữa thôi. Trong mấy tuần vừa qua, bác cũng đã có thời gian để tự mình quan tâm tới lợi ích của cháu. Vào lúc này, bức Ván cờ đang nằm ở một nơi tốt nhất có thể: một két an toàn trong một ngân hàng Thụy Sĩ, được thuê bởi một công ty chỉ tồn tại trên giấy tờ có trụ sở tại Panama. Các luật sư và chủ ngân hàng Thụy Sĩ là những con người khá tẻ nhạt, nhưng rất biết điều, họ không đưa ra dù chỉ một câu hỏi chừng nào cháu tôn trọng luật pháp của đất nước họ và trả phí nghiêm chỉnh.” Ông đặt phong bì lên mặt bàn, gần chỗ Julia. “Bảy mươi lăm phần trăm cổ phiếu trong công ty đó là của cháu, các giấy tờ chứng thực đều nằm cả trong phong bì. Demetrius Ziegler, một luật sư người Thụy Sĩ và là một người bạn lâu năm của bác mà cháu từng nghe bác nhắc tới trước đây, đã thực hiện việc này. Không ai, ngoại trừ chúng ta và một người thứ ba, về người này chúng ta sẽ bàn tới sau, biết được bức tranh của Van Huys sẽ nằm tại nơi đó và sẽ được cất giữ trong một thời gian, trong két an toàn ngoài tầm mắt người đời. Trong thời gian đó, câu chuyện về bức Ván cờ sẽ trở thành một sự kiện nổi bật trong thế giới mỹ thuật. Các phương tiện truyền thông, các tạp chí chuyên ngành sẽ khai thác triệt để sự hấp dẫn của vụ tai tiếng này. Bác và ông luật sư đã dự kiến, như một con số ước lượng làm tròn, giá trị của nó trên thị trường quốc tế lên tới chừng vài triệu… đô la, tất nhiên rồi.”

Julia nhìn phong bì, rồi lại nhìn César, ngỡ ngàng không thể tin nổi vào những gì vừa nghe thấy.

“Cho dù giá trị của nó có cao đến đâu cũng vô ích,” cô lẩm bẩm, không khỏi có chút khó khăn khi nói ra lời.

“Ông không thể bán một bức tranh ăn cắp, cho dù ở nước ngoài.”

“Điều đó phụ thuộc vào việc bán cho ai và bằng cách nào,” César đáp. “Khi mọi thứ đã sẵn sàng – hãy nói là sau vài tháng nữa – bức tranh sẽ rời khỏi nơi nó được cất giữ để xuất hiện, không phải trong một cuộc bán đấu giá công khai, mà trên thị trường chợ đen của các tác phẩm nghệ thuật. Cuối cùng, bức tranh sẽ bí mật nằm trên tường tòa dinh thự xa hoa của một trong những nhà sưu tập triệu phú ở Brazil, Hy Lạp hay Nhật Bản, những người luôn háo hức lao bổ vào những tác phẩm giá trị như thế này chẳng khác gì những con cá mập, hoặc để bán lại chúng, hoặc để thỏa mãn đam mê cá nhân dành cho sự xa hoa, quyền lực và cái đẹp. Đó cũng là một cách đầu tư dài hạn tốt, vì tại một số quốc gia giới hạn truy cứu hình sự với các tác phẩm nghệ thuật bị đánh cắp là hai mươi năm. Và khi đó cháu vẫn còn rất trẻ trung tươi vui. Như vậy có tuyệt không? Dù sao đi nữa, cháu cũng không phải lo chuyện đó. Điều đáng bận tâm vào lúc này là, sau vài tháng nữa, trong khi bức tranh của Van Huys bắt đầu cuộc hành trình bí mật của nó, tài khoản ngân hàng của công ty mới tinh đặt trụ sở tại Panama của cháu, mới được mở hai ngày trước tại một ngân hàng Thụy Sĩ đáng kính khác, sẽ giàu lên thêm vài triệu đô la nữa. Cháu sẽ không phải làm gì hết, vì một người khác sẽ thực hiện toàn bộ quá trình chuyển tiền phiền phức đó. Công chúa, bác đã thu xếp để đảm bảo chắc chắn mọi thứ, đặc biệt là lòng trung thành có ý nghĩa sống còn của người đó. Một tay lính đánh thuê trung thành, phải nói là vậy. Nhưng cũng tốt như bất kỳ tay lính đánh thuê nào khác, thậm chí còn tốt hơn. Đừng bao giờ tin vào sự trung thành không vụ lợi.”

“Người này là ai vậy? Ông bạn Thụy Sĩ của ông chăng?”

“Không. Ziegler là một luật sư làm việc có phương pháp và hiệu quả, song ông ta không biết mấy về nghệ thuật. Vì thế bác tìm tới một người có trong tay những mối liên hệ cần thiết, một kẻ không bao giờ do dự về bất kỳ lý do nào và có đủ hiểu biết để thực hiện giao dịch một cách suôn sẻ trong thế giới ngầm vô cùng phức tạp đó. Paco Montegrifo.”

“Ông đùa chắc.”

“Bác không đùa khi liên quan tới chuyện tiền bạc. Montegrifo là một con người kỳ lạ, một người, cũng cần phải nói, ít nhiều phải lòng cháu, cho dù chuyện này không liên quan gì tới việc chúng ta đang nói tới. Điều quan trọng ở đây là anh ta cùng lúc vừa là một tên đê tiện hạng nhất vừa là một nhân vật cực kỳ tài năng, và anh ta sẽ không bao giờ làm gì có hại đến cháu.”

“Tôi không thấy tại sao lại không. Nếu anh ta có bức tranh, anh ta sẽ chuồn ngay lập tức. Montegrifo sẵn sàng bán cả mẹ đẻ anh ta để đổi lấy một bức tranh màu nước.”

“Không nghi ngờ gì về chuyện đó, nhưng anh ta không thể làm thế với cháu. Thứ nhất, vì Demetrius Ziegler và bác đã buộc anh ta ký một loạt văn bản sẽ không có giá trị pháp lý gì nếu mang ra công bố công khai, vì toàn bộ vụ này vốn đã sặc mùi phi pháp, nhưng thừa đủ để chứng minh cháu không có bất cứ can hệ nào tới mọi chuyện liên quan đến bức tranh, chúng cũng cho phép buộc tội anh ta nếu anh ta trở nên quá lắm lời hay định chơi bẩn, đủ để tất cả cảnh sát trên thế giới này truy lùng anh ta suốt phần đời còn lại. Bác cũng nắm được một vài bí mật nếu được công bố sẽ hủy hoại tiếng tăm của anh ta, đồng thời khiến anh ta gặp rắc rối lớn với pháp luật. Theo bác được biết, Montegrifo, bên cạnh những chuyện khác, từng ít nhất hai lần thực hiện việc đưa ra khỏi đất nước và bán bất hợp pháp các hiện vật đáng ra phải thuộc về di sản quốc gia của chúng ta, những hiện vật đã tới tay bác và bác dùng anh ta làm môi giới trung gian: một tấm màn ban thờ từ thế kỷ 15 được cho là của cha Oller và đã bị đánh cắp khỏi nhà thờ Santa Maria ở Cascalls năm 1978 và bức họa nổi tiếng của danh họa Juan de Flandes biến mất khỏi bộ sưu tập của Olivares bốn năm trước, cháu còn nhớ chứ?”

“Có, tôi nhớ. Nhưng tôi chưa bao giờ hình dung ông…”

César thản nhiên nhún vai.

“Đời là thế mà, công chúa. Trong nghề của bác, trung thực một cách không thể chê trách là con đường chắc chắn nhất để chết dói. Nhưng không phải chúng ta đang nói về bác, mà về Montegrifo. Tất nhiên, anh ta sẽ cố giữ lại cho mình nhiều tiền nhất có thể; đó là chuyện khống tránh khỏi. Nhưng anh ta sẽ phải thu mình bên trong một số giới hạn mà không làm ảnh hưởng tới mức lợi tức tối thiểu mà công ty của cháu ở Panama đảm bảo, các quyền lợi của công ty này sẽ được Ziegler canh giữ cẩn thận như canh giữ con ngươi của ông ta vậy. Một khi vụ làm ăn đã xong xuôi, Ziegler sẽ tự động chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của công ty đó tới một tài khoản cá nhân khác có số tài khoản chỉ riêng cháu biết. Sau đó, ông ta sẽ đóng tài khoản của công ty kia lại để xóa dấu vết của chúng ta, đồng thời hủy toàn bộ các giấy tờ, ngoại trừ các giấy tờ liên quan tới phần can dự của Montegrifo vào vụ làm ăn. Ông ta sẽ giữ chúng lại để đảm bảo lòng trung thành của ông bạn chuyên gia bán đấu giá của chúng ta. Mặc dù bác tin chắc tới lúc đó biện pháp phòng xa như thế không còn cần thiết nữa… Nhân tiện bác cũng muốn nói luôn, Ziegler đã đưa ra các chỉ thị chuyển một phần ba khoản lợi nhuận thuộc về cháu vào nhiều hình thức đầu tư an toàn có lợi tức cao để rửa số tiền đó, đồng thời cũng đảm bảo tài chính cho cháu trong suốt phần đời còn lại, kể cả nếu cháu có quyết định phóng tay tiêu pha theo cách hoang phí nhất đi nữa. Hãy làm theo bất cứ lời khuyên nào ông ta đưa ra cho cháu, vì Ziegler là một người tử tế, người bác đã quen hơn hai mươi năm qua: trung thực, theo giáo phái Calvin[5] và đồng tính luyến ái. Tất nhiên, ông ta cũng kỹ tính chu đáo không kém trong việc khấu trừ các khoản hoa hồng và chi phí của mình.”

Cho tới lúc đó Julia, vẫn bất động lắng nghe, bất giác giật mình. Mọi thứ ăn khớp với nhau một cách hoàn hảo, như những mảnh của một bức tranh ghép kỳ quái khó lòng tin nổi. César không để lọt một kẽ hở nào. Cô nhìn ông hồi lâu, đồng thời đứng dậy đi quanh phòng, cố nhập tâm những gì vừa được nghe. Thật quá nhiều cho một buổi tối, cô thầm nghĩ khi dừng lại trước mặt Muñoz, người đang lặng lẽ quan sát cô. Thậm chí còn là quá nhiều cho cả một đời người.

“Tôi thấy,” cô nói, quay lưng lại phía César, “rằng ông đã nghĩ tới mọi thứ. Hay hầu như mọi thứ. Chắc hẳn ông cũng đã nghĩ tới don Manuel Belmonte rồi chứ? Có thể ông chỉ coi đây là một chi tiết vặt vãnh, nhưng ông ấy là chủ nhân của bức tranh.”

“Bác đã nghĩ tới chuyện đó. Không cần phải nói, cháu luôn có thể cảm thấy một cơn khủng hoảng lương tâm rất đáng ca ngợi và quyết định không chấp nhận kế hoạch của bác. Trong trường hợp đó, cháu chỉ cần thông báo cho Ziegler và bức tranh sẽ lại xuất hiện tại một nơi thích hợp nào đó. Điều này sẽ làm Montegrifo bực bội, song anh ta đành phải chấp nhận thôi. Sau đó, mọi thứ sẽ y nguyên như trước: vụ tai tiếng sẽ làm tăng giá trị bức tranh, và Claymore vẫn giữ nguyên quyền mang nó ra bán đấu giá. Nhưng nếu cháu chấp nhận rẽ theo con đường hợp lý hơn, vẫn còn đủ lý lẽ để làm dịu lương tâm của cháu: Belmonte muốn tống khứ bức tranh đi để đổi lấy tiền, vậy nên, một khi cháu đã loại trừ mọi giá trị về tình cảm liên quan tới bức tranh, sẽ chỉ còn lại giá trị kinh tế của nó. Và thứ này đã được bảo hiểm đền bù rồi. Bên cạnh đó, không gì ngăn cản cháu giấu tên chuyển cho ông ta bất cứ khoản đền bù nào cháu thấy hợp lý. Cháu sẽ có thừa đủ tiền để làm như thế. Còn về Muñoz…”

“Phải,” Muñoz nói, “tôi đang tò mò muốn biết ông sẽ dành điều gì cho tôi.”

César dành cho người kỳ thủ một cái nhìn đượm vẻ châm biếm.

“Ông, bạn thân mến, ông đã trúng số độc đắc.”

“Ông không đùa chứ.”

“Ồ, tôi hoàn toàn nghiêm chỉnh. Lường trước quân hiệp sĩ trắng thứ hai sẽ sống sót qua ván cờ, tôi đã tự cho mình quyền gắn ông, trên giấy tờ, với công ty tôi vừa nhắc tới, cụ thể là với hai mươi lăm phần trăm cổ phiếu của nó, điều này, ngoài những việc khác, sẽ cho phép ông mua cho mình vài chiếc áo sơ mi mới và chơi cờ vua ở Bahamas nếu ông thích.”

Muñoz đưa một bàn tay lên miệng và cầm lấy phần còn lại của điếu thuốc đang hút. Ông nhìn qua đầu mẩu thuốc rồi cố tình ném nó xuống thảm.

“Ông thật rộng rãi,” ông nói.

César nhìn đầu mẩu thuốc đã tắt dưới sàn, sau đó nhìn lên Muñoz.

“Đó là những điều tối thiểu tôi có thể làm. Theo cách nào đó tôi cần mua sự im lặng của ông, bên cạnh đó, ông còn hơn cả xứng đáng được như thế. Hãy coi như đó là cách tôi bù đắp lại mánh khóe tồi tệ tôi đã dùng để lừa ông với chiếc máy tính.”

“Ông có bao giờ nghĩ tới việc có thể tôi sẽ từ chối tham gia vào tất cả những trò này không?”

“Tất nhiên. Nói cho cùng, ông là một con người kỳ lạ. Nhưng giờ đó không còn là chuyện của tôi nữa. Giờ đây ông và Julia đã trở thành hai đối tác mới, vậy hai người có thể tự thu xếp với nhau. Tôi còn những chuyện khác cần bận tâm đến.”

“Vẫn còn ông nữa, César,” Julia nói.

“Bác ư?” Ông mỉm cười – một cách đau khổ, Julia thầm nghĩ. “Công chúa yêu quý của bác, bác có quá nhiều tội lỗi cần phải trả giá và còn quá ít thời gian để làm việc đó.” Ông chỉ vào phong bì dán kín trên mặt bàn. “Trong đó cháu sẽ tìm thấy một lời thú tội chi tiết, giải thích toàn bộ câu chuyện này từ đầu đến cuối, ngoại trừ, tất nhiên rồi, những gì chúng ta đã thu xếp ở Thụy Sĩ. Cháu, Muñoz và, vào lúc này, cả Montegrifo nữa, đều bước ra khỏi cuộc phiêu lưu hoàn toàn sạch sẽ tinh tươm. Về phần bức tranh, bác đã mô tả lại một cách cực kỳ chi tiết việc mình đã hủy hoại nó ra sao, kèm theo những lý do cá nhân và tình cảm đã thúc đẩy bác tới hành động đó. Bác tin chắc sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng bản thú tội của bác, đám chuyên gia tâm lý của cảnh sát sẽ hân hoan dán cho bác cái mác một kẻ nguy hiểm mắc chứng tâm thần phân liệt.”

“Ông định trốn ra nước ngoài ư?”

“Chắc chắn là không rồi. Điều duy nhất làm cho việc có nơi nào đó để đi trở nên đáng ao ước là nó đem đến cho ta cái cớ thực hiện một chuyến đi. Nhưng bác đã quá già cho việc đó rồi. Mặt khác, bác cũng không mấy hứng thú với nhà tù hay một trại tâm thần. Cuộc sống hắn sẽ khá rầy rà với những anh chàng y tá hấp dẫn cơ bắp cuồn cuộn lôi ta ra xối nước lạnh dưới vòi hoa sen. Bác e là không, cô bé yêu quý. Bác đã năm mươi tuổi và không còn thấy hứng thú với những chuyện như thế nữa. Bên cạnh đó, còn một chi tiết nho nhỏ nữa.”

Julia nghiêm nghị nhìn ông.

“Là gì vậy?”

“Cháu có từng nghe qua” – César nở một nụ cười mỉa mai – “về một thứ gì đó được gọi là ‘mắc phải’ hay ‘hội chứng’, thứ đang dường như trở nên thời thượng một cách khủng khiếp thời gian gần đây không? Thế đấy, bác là một ca giai đoạn cuối. Hay đại khái đó là điều họ nói.”

“Ông nói dối.”

“Không hề. Đó là cách họ gọi nó: giai đoạn cuối, giống như nhà ga cuối âm u của một tuyến tàu điện ngầm vậy.”

Julia nhắm nghiền mắt lại. Mọi thứ xung quanh cô dường như nhòa đi, và trong tâm trí cô chỉ còn đọng lại một âm thanh trầm đục, giống như tiếng một tảng đá rơi xuống hồ nước. Khi cô mở mắt ra, đôi mắt cô đã ướt đẫm.

“Ông nói dối, César. Không phải như thế. Hãy nói với tôi là ông đang nói dối đi.”

“Bác cũng muốn thế lắm, công chúa. Bác cam đoan với cháu không có gì làm bác vui thích hơn khi được nói với cháu rằng những gì bác vừa nói chỉ là một trò bỡn cợt với khẩu vị tệ hại nhất trên đời. Nhưng cuộc sống hoàn toàn có thể chơi khăm người ta như vậy đấy.”

“Ông biết đã bao lâu rồi?”

César uể oải phẩy tay gạt câu hỏi sang một bên, như thể thời gian không còn làm ông bận lòng nữa.

“Hai tháng, quãng chừng đó,” ông nói. “Đầu tiên là một khối u nhỏ xuất hiện ở trực tràng. Chẳng dễ chịu chút nào.”

“Ông chưa bao giờ nói gì với tôi cả.”

“Sao bác phải làm thế? Nếu cháu vui lòng thứ lỗi cho lời lẽ có phần khiếm nhã, cô bé yêu quý, bác luôn cảm thấy trực tràng hoàn toàn là chuyện riêng của bác.”

“Ông còn bao nhiêu thời gian nữa?”

“Không nhiều lắm. Sáu hay bảy tháng, bác chắc vậy. Và họ nói bác sẽ cứ thế mà sút cân.”

“Vậy họ sẽ đưa ông tới một bệnh viện. Ông sẽ không phải vào tù. Thậm chí cũng không phải tới một trại tâm thần, như ông mới vừa nói.”

César bình thản lắc đầu.

“Bác sẽ không đi tới bất cứ đâu trong những nơi đó hết, cô bé yêu quý. Cháu có thể hình dung ra còn điều gì kinh khủng hơn việc phải chết dần chết mòn vì một thứ thô thiển đến vậy không? Ồ, không. Dứt khoát không. Bác từ chối. Ít nhất bác đòi hỏi quyền được dành chút dấu ấn cá nhân cho đoạn kết của chính mình. Thật kinh khủng khi hình ảnh cuối cùng của mình trên thế giới này lại phải gắn liền với một chai dịch truyền treo lủng lẳng trên đầu, với những người tới thăm phải bước qua bình ôxy mình đang dùng.” Ông nhìn quanh các món đồ vật, những tấm thảm và bức tranh trong phòng. “Bác muốn dành cho mình một cách chết theo phong cách Florence giữa những đồ vật mình yêu quý. Một đoạn kết tế nhị, nhẹ nhàng sẽ hợp với sở thích và tính cách bác hơn.”

“Khi nào?”

“Lát nữa. Ngay khi hai người vui lòng để bác ở lại một mình.”

❀ ❀ ❀

[1] : Hãy làm xáo trộn các dấu vết.

[2] : Nhân vật đạo chích nổi tiếng trong loạt tiểu thuyết của nhà văn Pháp Maurice Leblanc.

[3] : Người sáng lập ra thương hiệu nước hoa, mỹ phẩm và thời trang Chanel.

[4] : Socrates bị kết án tử hình bằng cách uống thuốc độc từ cây độc cần do đã đưa ra nghịch lý về sự khôn ngoan khiến những người cầm quyền ở Athens trở thành trò cười. Ông đã cố tình thách thức bồi thẩm đoàn của phiên tòa xử tội ông để được xử án tử hình, như thể tự tử là ý của ông và ông đã chiến thắng họ trong cuộc tranh đấu cuối cùng này.

[5] : Một trường phái thần học được đặt theo tên nhà cải cách John Calvin.

có vài bản sao chụp tài liệu và một danh sách sự kiện được đánh máy theo trình tự thời gian. “Xem này. Có vẻ như anh ấy quyết định không đến, nhưng đã gửi cho chúng ta thứ này.” “Vẫn khiếm nhã như xưa,” César lẩm bẩm dè bỉu. “Đáng ra hắn t
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.