Beatrice, nữ công tước Ostenburg, với một thoáng phiền muộn đọng trên đôi mắt đang chăm chú nhìn xuống cuốn sách – một cảm xúc có thể do tiếng đàn của cây măng cầm mà một người hẩu đang chơi bên ngoài chân tường khơi gợi – đang hồi tưởng lại tuổi trẻ của bà ở Burgundy, cùng những hy vọng, nhưng giấc mơ bà từng ấp ủ. Phía trên khuôn cửa sổ đóng khung lại một góc trời xanh không một gợn mây của xứ Flanders, là một bức tượng bằng đá khắc họa cảnh Thánh George đâm cây thương vào bụng con rồng đang quằn quại dưới vó ngựa của ngài. Con mắt bậc thầy của người họa sĩ khi quan sát bối cảnh đã không bỏ sót chi tiết mũi cây thương của Thánh George bị cùn mẻ đi theo thời gian, và bàn chân phải của vị thánh, nơi chắc hẳn từng đeo một cây đinh thúc ngựa nhọn, nổi bật lên giữa khung cảnh xung quanh, giờ đây chỉ còn lại một mẩu cụt – và những chi tiết ấy cũng không lọt khỏi mắt Julia khi cô như đang ngắm nhìn bức tranh. Vị Thánh George này, người đang kết liễu mạng sống của con rồng xấu xa, không chỉ được vũ trang nửa vời, chiếc khiên chạm bằng đá của ông đã mòn đi theo thời gian, mà còn cụt chân. Có lẽ điều đó chỉ càng làm người xem thêm xúc động khi chiêm ngưỡng bức tượng vị hiệp sĩ, nó gợi cho Julia nhớ, với những suy nghĩ lạ lùng, tới tư thế đứng nghiêm của một anh lính chì.
Vị phu nhân đang đọc sách, Beatrice xứ Ostenburg, người vì lý do huyết thống và niềm tự hào của gia đình, người bất chấp cuộc hôn nhân của mình, chưa bao giờ thực sự thôi là Beatrice xứ Burgundy. Và bà đang dọc một cuốn sách lạ lùng, với gáy sách được trang trí bằng những núm đinh bạc, có một dải ruy băng lụa để đánh dấu trang, một cuốn sách với các trang đầu chương được trang trí bằng những hình vẽ nhỏ rực rỡ màu sắc hết sức tinh xảo do bậc thầy cuốn Trái tim si tình sáng tạo nên, một cuốn sách có tiêu đề Thơ về hoa hồng và hiệp sĩ, một tác phẩm mà, cho dù tác giả về chính thức là khuyết danh, ai cũng biết nó được viết ra gần mười năm trước tại triều đình của vua Pháp là Charles Valois, bởi một nhà quý tộc Ostenburg có tên Roger de Arras:
Thưa phu nhân, những giọt sương
vào lúc bình minh
đọng trên những đóa hồng
trong khu vườn phủ đầy sương muối của bà
rớt xuống giữa chốn sa trường
như những giọt lệ
trên trái tim tôi
trên đôi mắt tôi, trên thanh kiếm của tôi.
Có những khi đôi mắt ấy, một đôi mắt Flanders trong sáng, rời khỏi cuốn sách đang đọc để hướng về phía hai người đàn ông đang chơi cờ tại bàn. Chồng bà đang tựa người lên khuỷu tay trái, các ngón tay lơ đãng mân mê tấm phù hiệu Hiệp sĩ Cừu vàng mà ông bác bên vợ, công tước Philip Nhân Từ quá cố, đã gửi tặng ông như một món quà cưới, món quà lúc này ông đang đeo trên cổ bằng một sợi dây chuyền vàng nặng nề. Ferdinand xứ Ostenburg không thể quyết định được nước đi tiếp theo của mình; ông đưa tay về phía một quân cờ, chạm vào nó, đổi ý, rồi với vẻ xin lỗi, nhìn vào đôi mắt bình thản của Roger de Arras, người đang nở một nụ cười lịch thiệp trên môi – “Chạm tay vào một quân cờ cũng đồng nghĩa với việc di chuyển nó, thưa đức ông,” đôi môi đó khẽ nói với chút đùa bỡn thân mật bạn bè, và công tước Ferdinand, không khỏi có chút bối rối, di chuyển quân cờ ông đã chạm tay vào, vì ông biết đối thủ của mình không chỉ đơn giản là một triều thần, mà còn là bạn ông. Ông khẽ cựa người trên ghế, cảm thấy hạnh phúc một cách mơ hồ, vì công tước biết sẽ là chuyện không tồi chút nào khi bên mình có ai đó thỉnh thoảng nhắc nhở ông rằng luôn tồn tại những nguyên tắc thậm chí các ông hoàng cũng phải tuân thủ.
Tiếng đàn măng cầm bay lên từ khu vườn tìm vào một khung cửa sổ khác, không thể nhìn thấy từ nơi này, khung cửa sổ căn phòng nơi Pieter Van Huys, họa sĩ của triều đình, đang chuẩn bị một tấm ván gỗ sồi, được tạo thành từ ba mảnh ván mà người phụ việc của ông mới dùng keo dán ghép lại với nhau. Người họa sĩ bậc thầy già cả vẫn chưa rõ ông sẽ dùng nó vào việc gì – có thể là một bức tranh chủ đề tôn giáo mà ông đã nghiền ngẫm trong đầu được một thời gian: một đức Mẹ trẻ tuổi, gần như một đứa trẻ, nhỏ những giọt lệ đỏ như máu trong khi đau đớn sững sờ nhìn xuống vòng tay trống rỗng của mình. Nhưng sau một hồi cân nhắc, Van Huys lắc đầu thở dài chán chường. Ông biết mình sẽ không bao giờ vẽ ra bức họa đó. Sẽ không ai hiểu được ý nghĩa thực sự của nó, và trong quá khứ ông đã có quá đủ rắc rối với Tòa án dị giáo; thân thể đã mỏi mệt của ông sẽ không thể chịu đựng thêm nổi một lần trên chiếc máy tra tấn ấy nữa. Người họa sĩ già đưa những ngón tay dính đầy màu vẽ lên gãi vầng trán hói bên dưới chiếc mũ bê rê len mình đang đội. Ông đã trở thành một người già cả và ông biết rõ điều đó; ông còn quá ít ý tưởng thực tế và quá nhiều ảo ảnh mơ hồ trong đầu. Để tống khứ chúng đi, ông nhắm đôi mắt mệt mỏi của mình lại. Khi người họa sĩ già mở mắt ra, ông thấy tấm ván gỗ sồi vẫn nằm đó, chờ đợi cái ý tưởng sẽ đem đến cho nó sự sống. Dưới vườn ai đó vẫn mải mê chơi măng cầm; hẳn là một anh hầu nào đó đang nặng trĩu tương tư. Người họa sĩ mỉm cười với chính mình, rồi sau khi nhúng cọ vào một chiếc lọ đất nung, ông phết lần sơn lót lên tấm ván theo từng lớp mỏng, từ trên xuống dưới, theo đường thớ gỗ. Thỉnh thoảng, ông lại đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, và đôi mắt người họa sĩ già chợt ngập tràn ánh sáng. Ông thầm biết ơn tia nắng mặt trời chiếu xiên vào phòng đã giúp sưởi ấm tấm thân già nua của mình.
Roger de Arras vừa khẽ đưa ra một lời nhận xét, và công tước đang bật cười, lần này với tâm trạng vui vẻ, vì ông vừa ăn được một quân hiệp sĩ. Beatrice xứ Ostenburg, hay xứ Burgundy, lại thấy điệu nhạc bà đang nghe buồn bã đến không sao chịu nổi. Nữ công tước đã định sai một tỳ nữ ra bảo người chơi đàn ngừng lại, nhưng rồi bà không làm thế, vì bà nghe thấy trong từng nốt nhạc của giai điệu ấy một tiếng vọng chính xác, một sự hài hòa hoàn hảo với nỗi phiền muộn đang tràn ngập trong tim bà. Điệu nhạc quyện lẫn vào những lời thì thầm của hai kỳ thủ đang mải mê với ván cờ, và đột nhiên vị phu nhân quyền quý nhận ra một vẻ đẹp đến nhói lòng trong những câu của bài thơ đang nằm run rẩy trên tay bà. Cũng sinh ra từ chính những giọt sương đã đọng trên bông hồng và thanh kiếm của người hiệp sĩ, một giọt lệ long lanh xuất hiện trong đôi mắt xanh của nữ công tước khi bà ngước nhìn lên và bắt gặp cái nhìn của Julia, đang im lặng ngắm nhìn trong bóng tối. Và nữ công tước thầm nghĩ cái nhìn của cô gái trẻ có đôi mắt sẫm màu đậm chất Italia đó chỉ là một hình ảnh phản chiếu của chính đôi mắt bà, bất động và sầu muộn, lờ mờ trên bề mặt một chiếc gương đặt phía xa. Beatrice xứ Ostenburg, hay xứ Burgundy, cảm thấy như thể bà đang ở bên ngoài căn phòng, ở phía bên kia của một tấm kính sẫm màu, từ đó bà dõi theo chính mình ngồi dưới bức tượng Thánh George cụt chân, bên một ô cửa sổ đóng khung bầu trời xanh ngắt tương phản hoàn toàn với bộ đồ đen bà đang mặc. Và nữ công tước biết không lời xưng tội nào có thể rửa sạch được tội lỗi của mình.