Tracy quan sát kĩ lưỡng các bồi thẩm viên khi họ nối đuôi nhau bước vào từ đằng sau phòng xử án đông đúc, giống như một nhóm tù nhân bị xích lại với nhau. Họ không nhìn vào mắt bị cáo, bác sĩ John Stephenson, hay luật sư bào chữa của ông ta. Thay vì thế, họ dán mắt vào lớp vải sơn lót sàn nhà đã sờn mòn hoặc nhìn chằm chằm vào thẩm phán Miriam Gowin đang đứng đằng sau ghế quan tòa. Dường như Adam Hoetig cũng hiểu được thông điệp ngầm này và khẽ liếc nhìn Tracy.
Khi tất cả mọi người đã ổn định chỗ ngồi, thẩm phán Gowin làm các thủ tục mào đầu đối với bồi thẩm đoàn trước khi hỏi xem họ đã chọn được chủ tịch ban hội thẩm chưa. Sự lựa chọn của họ khiến Tracy ngạc nhiên, và cô biết là Hoetig cũng sửng sốt không kém, vì anh ta lại liếc nhìn cô cái nữa. Tuy nhiên, nghĩ kĩ ra thì việc lựa chọn một bà mẹ hai con cũng là điều hợp lý, đặc biệt là khi họ đưa ra phán quyết là bị cáo có tội. Vợ của Stephenson cũng là một người mẹ.
“Bồi thẩm đoàn đã đưa ra được phán quyết chưa?” Gowin hỏi.
Chủ tịch ban hội thẩm xác nhận rằng họ đã đưa ra được phán quyết. Cô ta đọc từ một tập giấy ghi chép: “Đối với tội danh giết người cấp độ một, bồi thẩm đoàn chúng tôi nhận thấy bị cáo có tội đúng như cáo buộc.”
Sự phán quyết cũng giống như một cuộc mây mưa vậy, trước khoảnh khắc lên đỉnh, tất cả mọi thứ chỉ là màn dạo đầu, đầy kích thích, khiêu khích và đôi khi làm người ta tức điên lên. Màn đọc phán quyết này giúp xóa tan mọi sự căng thẳng đang đè nặng nhưng đồng thời cũng khiến cho tất cả những người có liên quan cảm thấy mệt rã rời như đã cạn kiệt mọi sức lực.
Hoetig kín đáo gật đầu với Tracy. Đằng sau họ, những người tham dự phiên tòa hoặc bật khóc hoặc thầm reo hò vui sướng. Vài người siết chặt nắm tay. Có những người lại gục đầu và thõng vai.
Litwin đề nghị các bồi thẩm viên biểu quyết, và lần lượt từng người đều chỉ thôi ra một từ duy nhất. “Có tội.”
Sau khi đưa ra phán quyết, bồi thẩm đoàn sẽ được nghỉ ngơi, có thể là vài tuần, rồi sẽ trở lại để ấn định án phạt, quá trình này thường kéo dài như một phiên tòa xét xử vậy. Tuy nhiên, vào lúc này, bổn phận công dân của họ đã hoàn thành.
Khi phiên tòa kết thúc, Hoetig cảm ơn Tracy, và họ cùng nhất trí sẽ đi uống mừng vào một ngày khác.
“Cô sẽ trở lại văn phòng à?” Kins hỏi khi anh và Tracy gặp nhau ở cửa phòng xử án. Anh đã ngồi ở hàng ghế dành cho những người đến dự phiên tòa.
“Tôi không định về ngay. Tôi cần làm một việc đã.” Cô nói. “Tôi sẽ kể với anh khi tôi quay về.”
“Việc đó có liên quan đến cô gái ở Khu Đại học đúng không?”
“Đơn vị Tệ nạn xã hội đang giữ máy tính của cô ấy. Tôi nhận được tin họ đã bẻ được khóa của nó và tải các email của cô ấy về.”
Đơn vị Tệ nạn xã hội trông giống như một lớp học công nghệ cao với những màn hình máy tính nằm giữa những máy móc thiết bị khác. Tracy đã thiết lập mối quan hệ tốt với các thành viên của đơn vị này từ hồi cô làm việc cho CSI trong cùng một tòa nhà. Một trong những người mà cô từng hợp tác rất tốt là Andrei Vilkotski.
Vilkotski là người Belarus, anh ta nhập cư vào Mỹ từ đầu những năm 1990 và được nhiều người coi là thiên tài trong lĩnh vực máy tính và các thiết bị điện tử khác. Quá khứ của anh ta bị bủa vây giữa vô số tin đồn, trong số đó có một tin đồn cho rằng anh ta là một cựu điệp viên của [*]KGB, và khi Liên Xô sụp đổ, anh ta đã nhanh chân cao chạy xa bay. Chẳng tin đồn nào trong số đó là đúng cả, ngoại trừ việc anh ta là một thiên tài máy tính.
“Andrei.” Tracy nói, đi tới bàn làm việc của anh ta. “Mọi chuyện thế nào?”
Vilkotski quay sang cô và nhún vai. Anh ta trông hơi giống một đan sĩ, với cái đầu hói nhưng có một mảng tóc vòng quanh phía sau đầu. “Không quá tệ.” Anh ta nói câu điệp khúc quen thuộc. “Để tôi đoán nhé! Cô đến để dẫn tôi đi ăn trưa và cuối cùng là cầu hôn tôi.” Giọng anh ta vẫn còn nặng.
Tracy tựa vào một góc bàn của anh ta. “Vợ anh sẽ nghĩ thế nào về chuyện đó hả Andrei?”
Vilkotski nhăn mặt ra chiều cân nhắc xem vợ anh ta có thể nghĩ gì. Rồi anh ta nói: “Có lẽ cô ấy sẽ bảo tôi mang theo đống quần áo bẩn chưa giặt và nói rằng đó là một cuộc đổi chác công bằng.”
Tracy cười và ngồi xuống. “Theo tôi biết thì anh đã mở được cái máy tính mà tôi gửi anh sáng nay.”
Vilkotski nhìn cô qua mép trên của cặp kính nửa tròng như thể ngạc nhiên. “Đó có phải là cái máy tính mà Katie Pryor để lại đây, chẳng hề kèm theo lệnh khám xét cho phép tôi bẻ khóa nó?”
Giờ thì đến lượt Tracy ngạc nhiên. “Đáng lẽ anh phải nhận được một bản sao lệnh khám xét đã ký rồi chứ. Tôi được biết là Katie đã xin được nó.”
Khóe môi Vilkotski cong lên, lần này gần như là một nụ cười. “Nếu mỗi lần nghe thấy điều đó tôi lại nhận được một đồng năm xu thì ắt hẳn tôi phải giàu lắm rồi đấy.”
“Kiểm tra hộp thư đến của anh đi. Nếu anh chưa nhận được nó, tôi có thể bảo cô ấy gửi nó đến cho anh.”
Vilkotski gõ bàn phím. “May cho cô là tôi không còn thói nín thở chờ đợi đấy. Nếu không thì tôi đã ngạt thở vô số lần, và da tôi sẽ tím tái suốt thôi.” Anh ta ngừng lại khi nhìn thấy một email từ Katie Pryor. “Ôi trời! Nhìn này.” Anh ta chỉ vào màn hình.
“Anh thấy đấy, Andrei, tôi chẳng nhờ anh làm điều gì bất hợp pháp đâu mà.”
“Giọng điệu cô lúc này nghe cứ như Vladimir Putin ấy.”
“Vậy thì anh là Donald Trump hả?”
“Một Donald Trump không có tóc, hiển nhiên rồi.”
Tracy cười. “Anh đã mở được cái máy tính ấy, đúng không?”
“Xin cô. Ngay cả cháu trai tôi cũng có thể mở được cái máy tính ấy, mà nó mới có ba tuổi thôi.”
“Cháu trai á?” Vilkotski từng nói với Tracy rằng anh ta kết hôn và có con từ rất sớm. Tracy đoán anh ta mới gần năm mươi tuổi chứ mấy.
Anh ta chỉ vào bức ảnh đứa cháu trai đính trên vách ngăn bàn làm việc của mình. “Nó đã ở củng chúng tôi trong kỳ nghỉ cuối tuần vừa rồi. Con trai tôi và vợ nó đang đi du lịch. Tôi vẫn còn mệt lử đây.” Anh ta với tay ra đằng sau và tóm lấy laptop của Kavita Mukherjee cùng với một cái USB, anh ta đã chuyển các email của cô ấy vào trong đó.
“Tôi đã lập trình cho chiếc máy tính này để có thể mở nó bằng một mật khẩu tạm thời. Tôi làm vậy trước khi nhận được lệnh khám xét, vì vậy mật khẩu là Tôi đã không hề nói chuyện với cô và chẳng biết gì về việc này.”
Tracy cười. “Anh không nghĩ là nó hơi dài à? Nó có viết hoa hết không đấy?”
Vilkotski cười. “Vậy thì mật khẩu là Mật Khẩu Một, Hai, Ba – từ nào cũng viết hoa chữ cái đầu tiên.”
“Thông minh ghê nhỉ!”
“Tôi làm gì có thời gian mà thông minh với chả không thông minh. Nhờ sếp của cô, bây giờ tôi phải luôn trong tình trạng sẵn sàng hai mươi tư giờ một ngày, bảy ngày một tuần, để giúp mấy người các cô tìm những chiếc iPhone bị đánh cắp.” Nghe giọng Vilkotski không được vui vẻ lắm.
“Tôi đã nghe nói về điều đó.” Giám đốc Sở Cảnh sát Seattle Sandy Clarridge đã ban hành sắc lệnh ấy sau khi có thông tin rằng chỉ trong sáu tháng đầu năm, đã có hơn hai nghìn chiếc điện thoại di động bị đánh cắp.
“Vâng, ôi chà, bây giờ tôi đến ngủ cũng không yên.”
Tracy cầm lấy chiếc laptop. “Cảm ơn sự giúp đỡ của anh, Andrei.”
“Vâng, vâng.” Anh ta nói.
Đáng lẽ Tracy có thể nhờ Vilkotski email cho cô những nội dung mà anh ta đã tải về hoặc nhờ Katie Pryor đến lấy cái máy tính, nhưng vẫn còn một câu hỏi khác mà cô hy vọng là anh ta có thể giải đáp giúp cô.
“Andrei, anh có thể lần ra dấu vết một chiếc điện thoại di động không?”
“Tôi không hiểu ý cô.”
Cô chỉ vào cái laptop. “Người phụ nữ này bị mất tích, tôi muốn lần ra dấu vết điện thoại di động của cô ấy. Tôi có thể làm điều đó không?”
“Sao cô không gọi cho nhà cung cấp dịch vụ di động và nhờ họ xác định tọa độ của nó?”
“Vâng, tôi được biết là sáng nay Katie Pryor đã làm việc đó.” Không muốn để lại bằng chứng cho thấy mình đang theo đuổi vụ này, mọi liên lạc Tracy đều thông qua Pryor.
“Tôi chỉ đang muốn biết liệu có cách nào khác để lần ra vị trí chiếc điện thoại của cô ấy không, nếu nó vẫn đang mở – mà không cần dùng Stingray.”
Vilkotski vờ như bị sốc. Anh ta nói, mắt mở to: “Stingray? Stingray gì cơ?”
Stingray là một tháp thu phát sóng di động giả do cảnh sát tạo ra để bí mật thu thập thông tin từ điện thoại của các nghi phạm, cũng như giám sát bất cứ thiết bị di động nào khác trong khu vực. Hầu hết các đơn vị cảnh sát đều phủ nhận việc có cỗ máy này. Nó vốn được sáng chế ra để phục vụ FBI và chỉ được cung cấp cho lực lượng hành pháp địa phương sau khi đơn vị đó ký cam kết giữ bí mật, không được phép nhắc đến công nghệ ấy. Dạo gần đây có tin rằng Sở Cảnh sát Tacoma đã sử dụng cỗ máy này, và các luật sư [*]ACLU nhanh chóng trở nên tức giận. Ở một thành phố luôn tự do như Seattle, thà để cho một tên trộm phạm tội còn hơn là xâm phạm sự riêng tư của hắn.
“Có cách nào khác không?” Tracy hỏi.
Vilkotski suy nghĩ một lát về vấn đề này. Rồi anh ta nói: “Cách khác thì lúc nào cũng có. Chẳng hạn như, có những ứng dụng mà nhiều người có thể dùng chung với nhau.”
“Ví dụ?”
“Ví dụ, điện thoại của cô gái đó có ứng dụng Tìm bạn tôi không?”
“Tôi không biết.” Tracy nói.
“Nếu cô ta có, cô có thể lần ra điện thoại của cô ta từ điện thoại của bạn cô ta.”
Tracy nghĩ đến Aditi. Cũng đáng để thử một phen. Cô thầm ghi nhớ trong đầu. “Được rồi, còn ứng dụng nào khác không?”
“Nhiều điện thoại có ứng dụng Tìm iPhone của tôi, nhưng cô sẽ cần ID Apple và mật khẩu của cô ta.”
“Làm sao để tôi có được nó?” Một lần nữa, cô nghĩ Aditi là một nguồn thông tin tiềm năng.
“Tôi sẽ kiểm tra máy tính của cô ta. Một vài người lưu thông tin đó như một địa chỉ liên hệ trong danh bạ để khỏi quên. Nó hơi giống một loại chìa khóa tổng ấy. Chính tôi cũng làm như thế đấy.”
Tracy thầm ghi nhớ thêm là phải kiểm tra cái laptop đó.
“Cô gái ấy có sống cùng với gia đình không?” Vilkotski hỏi.
“Không. Sao vậy?”
Anh ta nhún vai. “Các thành viên trong gia đình thường sử dụng chung một ID Apple để họ có thể chia sẻ âm nhạc, phim ảnh và những cuốn sách mà không phải mua nhiều lần. Chính tôi cũng làm điều đó.”
“Và anh có thể chia sẻ thứ này giữa nhiều điện thoại khác nhau?”
“Nhiều điện thoại và thiết bị khác nhau – chang hạn như laptop, iPad, máy tính bàn.”
Tracy suy nghĩ một lát về điều đó. “Còn bạn bè thì sao? Họ có thể dùng chung một ID Apple không?”
“Cô nói cô gái này là sinh viên đại học à?”
“Vừa tốt nghiệp.”
Vilkotski đảo mắt. “Sinh viên đại học chẳng bao giờ trả tiền cho thứ gì nếu họ tìm ra cách có được nó miễn phí, và họ thường làm được điều đó.”
Tracy mang máy tính của Kavita Mukherjee và chiếc USB tới cho Katie Pryor ở đơn vị tìm kiếm người mất tích.
“Em đã nhận được thông tin gì từ nhà cung cấp dịch vụ di động chưa?” Tracy hỏi.
“Em vừa mới gửi đơn Yêu cầu cho Trường hợp Khẩn cấp.” Pryor đáp. Cô ấy hất đầu về phía máy tính. “Chị lấy USB rồi chứ?”
Tracy đưa nó cho cô ấy. Pryor cắm chiếc USB vào ổ và mở các email của Kavita Mukherjee lên, cả thư nhận được và thư gửi đi. Cô ấy và Tracy lập tức tập trung chú ý vào những email mà Mukherjee nhận được sau năm giờ chiều thứ Hai. Mukherjee đã không trả lời thư nào trong số chúng. Họ không tìm thấy bất cứ email nào liên quan đến cuộc hẹn của cô ấy vào tối thứ Hai, cũng không tìm thấy email nào xác nhận việc đặt phòng khách sạn hay vé máy bay.
Tracy truy cập vào laptop của Mukherjee bằng mật khẩu tạm thời mà Vilkotski đã cung cấp để kiểm tra lịch sử duyệt Internet của Mukherjee, để xem cô ấy có tìm kiếm về các hãng bay, công ty cho thuê xe, hay các trang web có liên quan đến các bang khác và các đất nước khác không. Cô chẳng tìm thấy gì cả.
“Hãy mở danh bạ của cô ấy lên xem.” Tracy nói.
“Chúng ta sẽ tìm thứ gì ở đó?” Pryor hỏi.
“Vilkotski nói thi thoảng người ta lưu các loại mật khẩu trong một file tổng dưới dạng một địa chỉ liên hệ. Để xem cô ấy có làm vậy không.”
Trong mục danh bạ, Pryor tìm kiếm cái tên Mukherjee và thấy cha mẹ cùng anh trai và em trai của cô gái. Ngoài ra còn có những người khác mà Tracy không biết nhưng cô suy luận rằng đó là bà con họ hàng của cô ấy.
“Không có cô ấy trong này.” Pryor nói, nghĩa là không có tên của Kavita.
Tracy nghĩ về những cuộc trò chuyện với Aditi Baneqee và gia đình của Mukherjee. “Hãy gõ cái tên Vita xem.”
Pryor làm theo và nhận được kết quả là một người có tên Vita Kumari. “Đó là ai nhỉ?” Cô ấy hỏi.
“Không biết nữa.” Tracy nói.
Pryor mở thông tin liên hệ của người đó và kéo chuột xuống phần ghi chú. Ở đó có lưu các số tài khoản khách hàng thân thiết, các số tài khoản ngân hàng, các tên đăng nhập và mật khẩu. Danh sách này được xếp theo thứ tự ABC và Pryor nhận thấy có một tài khoản của ngân hàng Mỹ. “Chờ đã.” Cô lật giở các tài liệu trên bàn làm việc của mình và xác nhận đây chính là số tài khoản mà cha mẹ Mukherjee đã cung cấp. “Đó là tài khoản ngân hàng của cô ấy.” Cô nói.
“Cô ấy dùng tên giả.” Tracy nói, nghĩ rằng Mukherjee làm vậy để đề phòng trường hợp máy tính của cô ấy bị mất cắp.
“Vậy thì đây là các tên đăng nhập và mật khẩu của cô ấy.” Pryor nói.
“Em thử mở trang web của ngân hàng Mỹ và gõ tên đăng nhập cùng mật khẩu này xem sao.”
Chỉ trong vài phút, Pryor đã vào được trang web ấy. Thông tin đăng nhập của Mukherjee hoàn toàn khớp. Tài khoản này không có bất cứ giao dịch gì sau chiều thứ Bảy. Giao dịch cuối cùng là rút hai mươi đô la từ một cây ATM ở đại lộ Đại học vào thứ Năm tuần trước, để lại số dư tải khoản là một nghìn bốn trăm chín mươi hai đô la. Cô ấy sẽ gặp khó khăn trong việc trả tiền thuê nhà tháng tới.
“Tại sao cô ấy lại xé tấm séc của Aditi chứ?” Pryor hỏi. “Ý em là, phải chăng lòng tự trọng của cô ấy quá cao nên cô ấy mới từ chối sự giúp đỡ?”
“Có thể thế.” Tracy nói. “Aditi nói cô ấy là người cứng đầu. Cũng có thể cô ấy đã quyết định chuyển đi hoặc kiếm một người bạn cùng phòng khác.”
Pryor tiếp tục rê chuột qua các ghi chú của địa chỉ liên hệ có tên Vita Kumari này. Gần đến cuối danh sách, Tracy nói: “Dừng lại. Cái gì thế kia? Đó có phải là một tài khoản ngân hàng khác không?”
“Wells Fargo.” Pryor nói. “Có vẻ là một tài khoản khác thật.”
“Thử truy cập vào nó xem.” Tracy nói.
Pryor mở trang web của ngân hàng Wells Fargo ra, nhập tên đăng nhập và mật khẩu tương ứng. Chỉ mất một giây, họ đã mở được tài khoản này. Tracy huýt sáo. Cô và Pryor đang nhìn chằm chằm vào một tài khoản có số dư là hai mươi chín nghìn hai trăm ba mươi đô la. “Có lẽ đây là lý do cô ấy xé tấm séc.” Pryor nói.
Tracy ngồi ngả người ra sau, bối rối. “Aditi nói Kavita đang tiết kiệm để chuẩn bị cho việc học trường y, nhưng chị khó mà tin nổi cô ấy tiết kiệm được ngần này tiền khi mà cô ấy chỉ đang làm việc cho một cửa hàng quần áo với mức lương tối thiểu.”
“Cha mẹ cô ấy cho thì sao?” Pryor nói.
“Nếu họ muốn cô ấy chuyển về nhà thì họ sẽ chẳng đời nào cho cô ấy tiền.” Tracy nói. “Nhìn tên tài khoản này xem. Vita Kumari. Và địa chỉ là một hòm thư ở bưu điện.” Tracy nói. “Rõ ràng cô ấy không muốn bất kỳ ai biết về tài khoản này.”
Tracy di tay dọc theo một trong các cột số; mỗi khoản tiền gửi đều giống nhau. “Đó là tiền gửi tự động định kỳ.”
“Một khoản tiền được gửi đều đặn vào một ngày nhất định mỗi tháng.” Pryor nói. “Chúng ta có thể dùng số định tuyến để truy ra ai là người gửi khoản tiền đó, nhưng em sẽ cần xin lệnh khám xét để yêu cầu ngân hàng tra cứu thông tin.”
Tracy nghĩ đến Aditi, cụ thể là cái cách cô gái trẻ ấy nhìn chồng mình, như thể ngại ngùng khi Tracy hỏi các câu hỏi về Kavita.
“Em có ngại đi một chuyến không?” Cô hỏi. “Chị có thể biết cách để có được câu trả lời nhanh hơn đấy.”