Tracy ném một chiếc khăn giấy vào trong thùng rác rồi bước ra khỏi nhà vệ sinh để ra sảnh. Kins đang đứng tựa vào tường, cố gắng tỏ ra chăm chú với cái điện thoại của mình.
“Anh có biết chuyện này không?” Cô hỏi.
Kins gật đầu như một cậu thiếu niên bị bắt quả tang. “Tôi đã không biết cô ta ở trong nhà vệ sinh, nhưng… Đây chính là chuyện tôi muốn nói với cô. Cô ta mới đến sáng nay. Nolasco đã giới thiệu rằng cô ta sẽ bắt đầu làm bánh xe dự phòng của chúng ta.”
“Cô ta biết tôi đang có bầu.” Tracy hạ thấp giọng vì có thêm nhiều người bước vào sảnh. “Làm thế quái nào mà cô ta biết được tôi đang có bầu chứ?”
Kins lắc đầu. “Tôi không biết. Tôi không nói với cô ta đâu đấy nhé.” Anh nhìn quanh sảnh và hất đầu ra hiệu cho Tracy theo anh đi xuôi hành lang. Họ chui vào một phòng họp và anh đóng cửa lại.
“Nghe này, tôi đang chuẩn bị tới South Park. Del và Faz có một vụ án mạng ở đó và cần hỗ trợ việc thẩm vấn, vì vậy tôi không có nhiều thời gian. Gonzalez có nói làm sao cô ta biết không?”
“Không. Cô ta nói cô ta có thể nhận ra, tôi thấy điều đó thật vô lý vì trước đây chúng tôi chưa bao giờ gặp nhau.”
“Và cô ta nói cô ta sẽ thế chỗ cô?”
“Cô ta nói cô ta cho rằng đó là lý do mình được thuê.”
“Tôi chắc chắn ý cô ta là cô ta chỉ thế chỗ cô trong thời gian cô nghỉ sinh thôi.” Anh nói.
“Vậy tại sao Nolasco lại thuyên chuyển Ron? Tại sao ông ta không để anh ấy tạm thời lấp chỗ trống của tôi, giống như lúc anh nghỉ để phẫu thuật hông?”
“Ron đã được bổ nhiệm làm điều tra viên chính thức của đội C.”
“Chuyện đó xảy ra khi nào vậy?”
“Tôi vừa mới biết chuyện đó vào sáng nay, khi Gonzalez xuất hiện. Hình như Arroyo sẽ nghỉ hưu vào tháng Một.”
Tin tức này khiến Tracy sửng sốt. “Arroyo sắp nghỉ hưu ư?”
Kins nhún vai. “Hình như thế.”
Họ đang lạc đề. “Ron đã làm việc cùng chúng ta ba năm.” Cô nói. “Tại sao Nolasco lại bổ nhiệm anh ấy làm điều tra viên chính thức của đội khác?”
“Có lẽ là vì chẳng ai trong chúng ta sẽ đi đâu cả. Cô sẽ không đi, đúng không?”
“Ý anh là gì?”
“Ý tôi là tôi cho rằng cô sẽ trở lại sau khi sinh con. Đúng thế không?”
“Chuyện này chẳng khác gì chuyện anh phẫu thuật hông cả. Anh nghỉ, Ron lấp chỗ trống, và bây giờ anh đã quay lại.”
“Ừ, nhưng tôi không phải bỏ cái hông của tôi ở nhà, Tracy ạ.”
Trong một thoáng, Tracy không nói gì, không dám chắc về mục đích của Kins khi nói ra câu ấy. Thế rồi cô nói: “Cái gì cơ?”
“Cô biết chuyện đó là thế nào mà. Nếu đi làm, cô sẽ phải để con của cô ở nhà. Trong khi đó, cô không nhất thiết phải đi làm. Chúng ta đều biết Dan kiếm ăn được… rất rất được.”
Tracy và Dan đã kết hôn một năm trước. “Dan vừa mới thuê một người để anh ấy có thể dành nhiều thời gian ở nhà hơn. Tôi không định nghỉ việc đâu, Kins ạ.” Biểu cảm của Kins thật kỳ lạ, giống như một người đàn ông đang đứng trên mép một vách đá, sợ không dám nhảy xuống. “Cái gì thế?” Cô hỏi.
Anh lắc đầu. “Không có gì.”
“Cái gì nào?”
“Không có gì mà. Tôi phải đi đây.”
“Nếu anh nghĩ những gì tôi làm là vô lý thì cứ nói với tôi.”
Anh nhìn đồng hồ đeo tay. “Thôi được rồi, nghe này, hãy hứa là không được cắn xé tôi đâu đấy nhé, được chứ? Tôi chỉ nói những điều này với tư cách một người bạn thôi – một người đã từng đi trên con đường này trước đó.”
Kins có ba cậu con trai. “Được.” Tracy đáp.
Kins cười vẻ lo lắng. “Tracy, tôi hiểu cô mà. Cô đang lắng nghe nhưng sẵn sàng hạ gục tôi và dùng tay giựt đứt túi mật của tôi.”
Cô lấy ra một cái ghế và ngồi xuống, bắt tréo chân. “Tôi đang bình tĩnh, được chưa? Và tôi đang lắng nghe.”
Kins ngừng một lát để sắp xếp các ý nghĩ trong đầu hoặc cũng có thể là để lấy can đảm. Anh nhảy xuống khỏi gờ đá. “Đây là đứa con đầu tiên của cô, vì vậy tôi nghĩ tôi có thể tự tin nói rằng cô không thể dự đoán được đầy đủ mình sẽ có cảm giác thế nào khi đứa trẻ chào đời.”
“Tôi biết…”
Kins giơ một tay lên. “Cứ nghe tôi nói đã.”
Cô giơ cả hai tay lên như muốn nói: Được rồi, tiếp tục đi.
“Tôi biết rằng khi cô có một đứa con, cô nghĩ sẽ chẳng có gì thay đổi cả, công việc của cô sẽ không thay đổi, nhưng nó có thay đổi đấy. Mọi thứ đều thay đổi, chỉ là không phải theo chiều hướng xấu đi. Nó chỉ thay đổi thôi. Điều khó khăn là – cô phải để lại máu thịt của cô ở nhà cùng với một người khác. Máu thịt của cô sẽ được một người khác nuôi dạy. Tôi không muốn điều đó. Shannah cũng vậy. Vì thế cô ấy đã nghỉ việc và ở nhà mặc dù chúng tôi thực sự khó khăn về mặt tài chính. Và, ngay cả khi Shannah đã ở nhà, tôi vẫn cảm thấy thật khó khăn khi phải xa chúng mỗi ngày để đi làm, Tracy ạ. Ngày nào đi làm tôi cũng nóng lòng sốt ruột mong đến giờ tan ca để về nhà và nhìn thấy các con trai của tôi.”
Qua nhiều năm làm việc cùng nhau, Tracy biết các con trai của Kins có ý nghĩa với anh như thế nào. Cô đã chứng kiến chúng lớn dần lên và nghe các câu chuyện về chúng.
“Tôi đã từng nóng lòng muốn được huấn luyện chúng ở [*]giải Little League và đến xem các trận đấu của chúng ở trường trung học. Tôi yêu điều đó. Tôi yêu từng giây từng phút của những dịp như thế. Giờ thì, chỉ vài tháng nữa thôi, chúng tôi sẽ tiễn Connor đi học đại học và tôi đang sợ ngày đó, bởi vì tôi biết chuyện đó sẽ thật đau lòng. Sẽ thật đau lòng khi biết nó không còn ngủ ở giường của nó nữa, nó sẽ có một cái giường khác và một cuộc sống khác, với những người mà tôi thậm chí còn không quen biết.” Giọng Kins nghẹn ngào và Tracy biết anh đang cố kiềm chế cảm xúc. Sau một thoáng ngừng, anh trút ra hơi thở mà anh đã kìm nén. “Tôi biết bậc cha mẹ nào cũng phải trải qua chuyện này. Bậc cha mẹ nào cũng phải nói lời tạm biệt với các con, nhưng tin tôi đi, dù có biết rõ điều đó cũng không làm cho chuyện này trở nên dễ dàng hơn. Vì thế tôi chỉ đang muốn nói với cô rằng, thời gian con cái ở bên cô trôi qua nhanh lắm. Trước khi cô nhận biết được, và nhanh hơn so với những gì cô nghĩ, cô sẽ thấy mình phải tiễn chúng đi học đại học và nói lời tạm biệt với chúng. Và cô sẽ tự hỏi mình: Những năm tháng ấy biến đi đâu mất rồi? Cô sẽ xem các bức ảnh và không thể nhớ nổi hồi chúng còn nhỏ như vậy, và cô sẽ ước gì chúng vẫn còn nhỏ như thế; cô sẽ ước gì mình có thể trở lại những ngày tháng ấy, và một lần nữa lại có chúng ở nhà bên mình. Vì thế, tôi chỉ đang muốn nói vói cô rằng, đừng coi việc ở nhà là một sự trừng phạt, Tracy, bởi vì nếu cô nghĩ như vậy, cô sẽ hối tiếc đấy và… Ôi trời, tôi phải đi đây.”
Kins mở cửa và rời đi mà không nói hết câu, nhưng anh không cần phải nói hết. Tracy biết anh đang nghĩ gì.
Và đây có thể là đứa con duy nhất của cô.
Sau khi rời khỏi phòng họp, Tracy tới bếp để lấy một cốc cà phê đã tách caffein, thứ mà cô nghĩ là tốt nhất dành cho mình trong tình trạng kích động hiện tại, rồi đi về phía bàn làm việc. Cô cảm thấy người mình nóng bừng, giống như lúc cô leo dốc để về trụ sở cảnh sát. Cuộc trò chuyện của cô với Andrea Gonzalez cứ văng vẳng trong đầu cô.
Cô được mấy tháng rồi? Sáu tháng nhỉ?
Chúa ơi, trông cô đã ộ ệ đến mức đó sao?
Kins cũng đã làm cô ngạc nhiên. Cô biết anh yêu ba cậu con trai của mình, đó là điều không có gì phải nghi ngờ, nhưng trước đây anh chỉ kể cho cô nghe những chuyện phiền toái: những trò ngớ ngẩn mà bọn trẻ đã làm, sự huyên náo hỗn loạn trong nhà, những chuyến đi đến trường bởi vì một trong số chúng gặp rắc rối hoặc thi trượt một môn nào đó. Thật là khó khăn khi chứng kiến anh ở trong phòng họp, chực trào nước mắt vì một trong những cậu con trai của anh sắp đi học đại học. Đó là thứ cảm xúc chân thật mà các sĩ quan cảnh sát không thường xuyên để lộ ra với những sĩ quan cảnh sát khác, nếu không muốn nói là họ chẳng bao giờ để lộ.
Tracy bước vào ô làm việc của đội A. Andrea Gonzalez đang ngồi ở bàn làm việc của Tracy. Đây là điều chưa bao giờ xảy ra ở Sở Cảnh sát Seattle. Bàn làm việc là chốn bất khả xâm phạm. Các bánh xe dự phòng thường ngồi ở các cổng máy tính phía cuối phòng. Gonzalez trông như đã chuyển hẳn vào đây vậy. Cô ta treo áo vest ở tủ để đồ của Tracy và có một cốc cà phê Starbucks với vết son môi đỏ chót trên vành chình ình ngự ở bàn làm việc của cô.
“Xin lỗi.” Cô nói. Gonzalez quay lại. “Cô đang làm gì ở bàn làm việc của tôi vậy?”
“Cái gì cơ?”
Tracy chỉ vào bàn của mình. “Cô đang làm gì ở bàn làm việc của tôi?”
Gonzalez tỏ vẻ như không hiểu câu hỏi ấy. “Theo như tôi biết thì cô phải ra tòa làm chứng trong cả ngày hôm nay. Trưởng ban Nolasco bảo tôi xem qua các hồ sơ vụ án của cô.”
Tracy nhìn vào máy tính và thấy một tài liệu trên màn hình. “Làm thế nào mà cô truy cập được các hồ sơ vụ án của tôi?”
“Trưởng ban Nolasco đã bảo nhân viên IT cung cấp cho tôi mật khẩu chung.”
Tracy nghiến răng, sợ rằng mình có thể nói ra điều gì đó không hay. Đáng lẽ cô phải biết rằng Nolasco sẽ liên quan đến chuyện này. Sẽ chẳng có ai vui mừng hơn ông ta khi Tracy nghỉ làm.
“Để tôi dọn dẹp.” Gonzalez nói. Cô ta đứng dậy và cầm cốc cà phê lên. “Nghe này, tôi xin lỗi. Tôi không biết mình đã vi phạm nguyên tắc ở đây. Ở [*]LA, chúng tôi thường chọn đại một bàn làm việc không ai sử dụng vào lúc đó và đăng nhập vào máy tính ở cái bàn ấy.”
Tracy không có hứng tranh cãi. “Tôi cần gọi điện thoại.”
Gonzalez kiểm tra đồng hồ đeo tay. “Tôi có cảm giác chúng ta đang hiểu lầm nhau. Tôi có thể mời cô một ly bia không?” Cô ta tỏ vẻ ngại ngần và liếc nhìn cái bụng của Tracy. “Tôi xin lỗi. Có lẽ là thứ gì đó không có cồn nhỉ?”
Tracy kìm nén cơn giận, nghĩ rằng mình nên trút bực dọc vào Nolasco chứ không phải Gonzalez. Có lẽ các hormone của cô đang xáo trộn. “Cảm ơn, nhưng tôi không thể nhận lời. Tôi đang phải ra tòa làm chứng và tôi cần liên lạc với công tố viên để chuẩn bị cho cuộc đối chất ngày mai.”
“Vâng. Tôi đã nghe nói về chuyện đó. Dù sao đi nữa, tôi xin lỗi vì đã sử dụng bàn làm việc của cô.”
Gonzalez rời đi.
Tracy ngồi xuống và nhấn vào phím cách. Trên màn hình máy tính hiện lên ô thoại đòi nhập mật khẩu, điều vẫn xảy ra mỗi lần bàn phím ở trong trạng thái rảnh rỗi quá lâu. Cô gõ mật khẩu của mình và màn hình máy tính trở lại bình thường. Trước mắt cô là một hồ sơ về vụ bắn súng ở khu South Park mà hình như Del vừa tạo, nhưng nó vẫn trống trơn. Các email của cô cũng đã bị mở ra. Cô kiểm tra mục Thư gửi đi, nhưng chẳng có gì được gửi đi từ máy tính của cô kể từ lần cuối cô sử dụng nó vào chiều hôm trước.
Điện thoại bàn của cô reo lên. Vì trong lòng đang tràn ngập nỗi hoang mang nghi ngờ nên cô cố tình không sử dụng cách trả lời điện thoại thông thường, trong đó kèm theo cả việc xưng tên mình, vì ngộ nhỡ cuộc điện thoại này là dành cho Gonzalez. “A lô.” Cô nói.
“Ồ, à, tôi muốn gặp điều tra viên Crosswhite?”
Một giọng nữ, nhưng Tracy không nhận ra giọng nói này là của ai. “Tôi là điều tra viên Crosswhite đây.”
“Chị Tracy?” Người gọi điện thoại có vẻ bối rối. “Em là Katie đây. Katie Pryor.”
“Katie. Chào em. Chị xin lỗi. Chị đang… chị đang bận một việc này và… Thôi đừng bận tâm. Này, công việc mới của em thế nào rồi?”
Sáu tháng trước, Talia Greenwood của đơn vị tìm kiếm người mất tích đã nghỉ hưu sau hơn ba mươi năm cống hiến. Tracy đã tiến cử Pryor cho công việc này. Vào một buổi chiều ở bãi tập bắn, Pryor, bà mẹ của hai cô con gái nhỏ với một ông chồng chỉ thích cô ấy nghỉ ở nhà, đã nói với Tracy rằng cô ấy đang tìm kiếm một công việc nào đó có giờ giấc ổn định hơn.
“Em thích công việc này như… chà, như bất cứ ai thích việc tìm kiếm người mất tích. Giờ giấc cố định giúp em sắp xếp tốt hơn thời gian ở nhà với bọn trẻ.”
Đã từng có thời chỉ nghe đến mấy chữ người mất tích thôi cũng gây ra một phản ứng bản năng cho Tracy. Em gái của cô là Sarah đã bị bắt cóc và chẳng ai biết gì về tung tích của cô ấy trong hơn hai mươi năm. Theo thời gian, cô đã dần chấp nhận được chuyện đó.
“Nghe này, em không muốn quấy rầy chị.” Pryor nói. “Em biết chị đang bận tham gia phiên tòa xét xử Stephenson, nhưng em vừa nhận được đơn trình báo của một cô gái nghĩ rằng người bạn cùng phòng của cô ấy bị mất tích và em có cảm giác không tốt về chuyện này. Thường thì em sẽ không làm phiền chị khi chưa có thêm thông tin gì, nhưng sếp của em đang ở châu Âu và sẽ ở đó trong hai tuần nữa, còn cô gái trình báo vụ việc thì sắp sửa rời khỏi đất nước này để đến sống ở London. Em nghĩ tốt hơn hết là nên nhờ ai đó thuộc ban Tội phạm Bạo lực nói chuyện với cô ấy trước khi cô ấy rời đi. Người bị mất tích có vẻ không phải là kiểu người đi đâu cứ lẳng lặng mà đi, không thông báo cho ai hay biết.”
“Cô ấy bao nhiêu tuổi?” Tracy hỏi.
“Hai mươi tư. Hai người họ sống chung trong một căn hộ ở Khu Đại học gần trường Đại học Washington.”
“Là sinh viên à?”
“Đã tốt nghiệp rồi. Cô gái bị mất tích hình như đang nộp đơn vào trường y.”
Hầu hết những người mất tích có xu hướng làm một nghề gì đó mang tính rủi ro cao, chẳng hạn như gái điếm, hoặc có hoàn cảnh mang tính rủi ro cao – chẳng hạn như nghiện ngập, thiểu năng trí tuệ hay người già bị bệnh Alzheimer hoặc bị lẫn.
“Người đến trình báo là bạn cùng phòng của cô gái bị mất tích?” Tracy hỏi.
“Trước thời điểm này thì là như vậy.”
“Đã có chuyện gì xảy ra?”
“Cô gái đến trình báo đã kết hôn ở Ấn Độ, nghe cô ấy kể thì đó có vẻ là một cuộc hôn nhân bất ngờ. Cô ấy thậm chí còn không có cơ hội để kể cho bạn cùng phòng nghe về đám cưới của mình cho đến khi cô ấy trở về Mỹ. Cô ấy sắp sửa chuyển đến London sinh sống.”
“Được rồi, vậy tại sao cô ấy lại nghĩ người bạn cùng phòng của cô ấy bị mất tích?”
“Cô ấy không thể liên lạc với bạn mình qua điện thoại di động, và bạn cô ấy không trả lời tin nhắn hay email. Cô ấy nói bạn cô ấy tự dưng biến mất. Thật phức tạp.”
“Bạn cô ấy mất tích bao lâu rồi?”
“Gần hai mươi tư giờ.”
Tracy biết hai mươi tư giờ có thể là một khoảng thời gian dài bất tận đối với một gia đình, nhưng với Sở Cảnh sát Seattle thì không, nhưng điều đó cũng đang thay đổi. Trước đây, thường thì phải sau bốn mươi tám giờ, Sở Cảnh sát Seattle mới coi một người là mất tích, nhưng họ đã trở nên thận trọng hơn sau một vụ án gần đây, trong vụ án đó, một nữ y tá đã đi gặp một người đàn ông quen qua mạng rồi mất tích. Họ đã tìm thấy các phần thi thể của cô ấy nằm rải rác trong các thùng rác khắp thành phố.
Pryor tiếp tục: “Cô gái ấy nói họ là bạn bè từ thời thơ bé và cô gái kia sẽ không tự dưng bỏ đi như vậy.” Tracy nghe tiếng Pryor sột soạt lật giở giấy tờ. “Em xin lỗi, em kể chuyện nghe rối quá nhỉ. Người trình báo tên là Aditi Dasgupta.”
“Người Ấn Độ.”
“Vâng. Dasgupta nói cô ấy và người bạn cùng phòng là Kavita Mukherjee đã học chung trường từ thuở nhỏ, và họ sống chung với nhau trong một căn hộ ở Khu Đại học trong hai năm qua. Cả hai người họ đều đang dự định sẽ nộp đơn vào trường y.”
“Chị chưa hiểu câu chuyện lắm.”
“Em cũng vậy. Viên cảnh sát tiếp nhận đơn trình báo nói rằng cô gái nộp đơn… Dasgupta… vừa mới kết hôn ở Ấn Độ – hình như đó là một cuộc hôn nhân sắp đặt. Người bạn cùng phòng bị mất tích của cô ấy là Kavita Mukherjee không biết gì về đám cưới ấy.”
“Cô ấy không biết người bạn cùng phòng của mình kết hôn?”
“Hình như là không. Dù sao đi nữa, Dasgupta nói người bạn cùng phòng của cô ấy là Kavita Mukherjee khá tức giận khi biết được chuyện đó.”
“Có thể nào cô ấy chỉ đang tức giận và cần chút thời gian ở một mình để suy nghĩ về những gì đã xảy ra?”
“Có thể là thế nhưng Dasgupta không nghĩ như vậy. Cô ấy nói hành động đó không phù hợp với tính cách của bạn cô ấy.”
“Em đã hoàn thành một EMPA chưa?” Tracy hỏi, nhắc đến bản Thông báo khẩn về người mất tíchđang gặp nguy hiểm.
“Em chưa kịp làm. Em bận gọi điện thoại cho gia đình người mất tích cùng vài người bạn và sếp của cô ấy. Chẳng ai nghe tin gì từ cô ấy cả.”
Tracy nhìn đồng hồ ở góc dưới bên phải màn hình máy tính. Cô đã hy vọng hôm nay sẽ được về nhà sớm. Cô cũng biết Nolasco sẽ không bao giờ để cô nhận một vụ mất tích khi chưa có thêm bằng chứng quan trọng chứng minh đó là một vụ án liên quan đến bạo lực, đặc biệt là khi Del và Faz còn đang phải xử lý một vụ án mạng ở khu South Park và có thể cần sự hỗ trợ.
“Em vẫn đang ở văn phòng chứ?” Tracy hỏi.
“Vâng.”
“Chị sẽ ghé qua chỗ em trên đường về nhà.” Cô nói. “Chị phải gọi một cú điện thoại đã. Em có thể nán lại một lát nữa không?”
“Vâng, em sẽ ở lại.” Pryor nói. “Chị có muốn em gửi cho chị những gì em có không?”
Tracy không muốn, bởi vì chưa chắc Nolasco sẽ đồng ý cho phép cô xử lý vụ đó. “Em cứ in đơn trình báo ra cho chị. Chị sẽ lấy nó khi nào chị ghé qua chỗ em.”
“Em cảm ơn chị. Em biết chị đang bận nhưng… Chị biết là chị có linh cảm tốt thế nào trong những vụ án như thế này mà, phải không? Khi có điều gì đó không ổn.”
Đúng là như vậy, Tracy vốn có linh cảm rất tốt trong những vụ việc như thế này.