Tracy gác máy sau khi nói chuyện với công tố viên là Adam Hoetig. Họ đã thảo luận về lời khai của cô, cũng như khoanh vùng những điểm mà Leonard Litwin có thể sẽ cố gắng tấn công cô trong cuộc đối chất ngày mai. Cô cũng nói với Hoetig rằng cô bị viêm bàng quang và sẽ cần được nghỉ giải lao vào giữa buổi sáng – nếu Litwin định kéo dài cuộc đối chất hơn một tiếng đồng hồ. Vì Tracy được sắp xếp là nhân chứng cuối cùng đưa ra lời khai, và Hoetig không nghĩ là sẽ có các nhân chứng phản bác, nên anh ta xin miễn gặp trực tiếp để anh ta có thể hoàn thành phần kết luận vụ án của mình.
Sau cú điện thoại đó, Tracy đi ra khu văn phòng bên ngoài. Cô muốn tóm gọn Nolasco trước khi ông ta về nhà. Cô muốn hỏi ông ta về Ron Mayweather và về việc Arroyo sắp nghỉ hưu, cũng như muốn tự mình cảm nhận xem liệu có phải Nolasco biết rằng cô đang mang thai và nói điều đó với Gonzalez hay không. Các tấm mành che cửa sổ của văn phòng ông ta đều buông kín mít, khiến cô không thể nhìn vào bên trong. Tracy gõ cánh cửa đang đóng, nghe tiếng Nolasco nói “Mời vào,” rồi đẩy mở cánh cửa.
Nolasco ngồi sau bàn làm việc, cầm một tách trà. Andrea Gonzalez đang ngồi ở một trong hai cái ghế đối diện với ông ta. Cô ta quay sang nhìn Tracy.
“Hai người đã gặp nhau chưa?” Nolasco hỏi.
“Rồi.” Tracy và Gonzalez đồng thanh đáp.
Tracy nhìn Nolasco. “Lát nữa tôi sẽ quay lại.”
“Không.” Gonzalez đứng dậy. “Tôi đang định ra ngoài đây. Cảm ơn, Trưởng ban. Tôi sẽ xử lý việc đó.” Cô ta mỉm cười với Tracy khi đi lướt qua cô.
“Cô cũng cần nghe chuyện này.” Nolasco nói trước khi Tracy kịp bước một bước vào bên trong văn phòng. “Cô đã nghe nói về vụ bắn chết người ở khu South Park chưa?”
Tracy gật đầu. “Rồi, tôi đã nghe Kins nói lúc từ tòa án về.”
“Có kẻ đã xả súng ở sân chơi của một tòa chung cư và giết chết một bà mẹ hai con. Cô ta là người đã lên tiếng chống lại vấn nạn ma túy và các băng đảng ở đó. Giới săn tin đang rất quan tâm đến vụ án ấy, nghĩa là họ đang để ý đến nhất cử nhất động của chúng ta. Tôi đang cử bất cứ người nào không vướng bận công việc tới hỗ trợ Del và Faz rà soát khu vực đó. Phiên tòa của cô đến đâu rồi?”
“Sáng mai tôi phải tiếp tục làm chứng.”
“Sau cô là ai?”
“Không có ai cả, trừ phi Hoetig gọi ai đó lên phản bác, hoặc Litwin đổi ý sau một đêm. Hoetig nghĩ anh ta sẽ kết luận vụ án vào cuối buổi sáng hoặc đầu giờ chiều ngày mai.”
“Del và Faz sẽ cần sự hỗ trợ của cô ngay khi cô xong việc.” Ông ta nói. Điều tra viên chính trong một phiên tòa xét xử tội phạm giết người thường ngồi cùng công tố viên ở bàn luật sư từ khi truy tố bị can cho đến khi bồi thẩm đoàn đưa ra phán quyết. Điều đó nhằm mục đích tạo ra một bộ mặt cụ thể cho việc tố tụng của bang.
“Chúng ta đang giả thiết rằng mục đích của vụ giết người này là trả thù sao?” Tracy hỏi.
“Đúng vậy.”
“Dưới đó là địa bàn của băng đảng Sureño.” Tracy nói. Cô từng xử lý hai vụ băng đảng thanh toán nhau ở khu South Park.
“Tôi muốn cô gọi điện cho Del với Faz ngay khi cô xong việc và tìm hiểu xem họ cần gì.” Nolasco cúi đầu xuống, dường như đang nghĩ cuộc trò chuyện của họ đã kết thúc. Ông ta ngẩng lên khi thấy Tracy vẫn ở yên đó. “Còn chuyện gì nữa à?”
“Ông đã cung cấp mật khẩu cho Gonzalez để đăng nhập vào máy tính của tôi à?”
“Không. Tôi bảo cô ấy hỏi xin nhân viên IT mật khẩu tạm thời.”
“Ông biết cô ta có một cái máy tính ở đằng sau mà, đúng chứ? Cô ta đâu cần phải dùng máy tính của tôi.”
“Vì Del và Faz đã ra ngoài, còn cô và Kins thì đang ở tòa án, nên tôi muốn có người nào đó trực trong ô làm việc của đội cô. Và tôi muốn cô ấy làm quen với các hồ sơ của đội cô để có thể bắt nhịp với công việc.”
“Vâng, nhưng nếu dùng mật khẩu tạm thời để sử dụng máy tính của tôi, cô ta có thể truy cập vào các hồ sơ riêng tư, các hồ sơ báo cáo của tôi.” Các điều tra viên đều có thể truy cập vào các tài liệu chung của đơn vị, nhưng chỉ có điều tra viên chính trong một vụ án cụ thể mới có thể mở các hồ sơ báo cáo, hay hồ sơ riêng tư. Bất cứ sự truy cập trái phép nào vào các hồ sơ đó đều được báo cáo cho điều tra viên chính ấy trong một V-mail, viết tắt của [*]Versaterm.
“Mấy người ai cũng cứ giữ khư khư máy tính của mình. Các hồ sơ phải được công khai để mọi người dễ dàng hợp tác với nhau trong công việc chứ. Tôi chả hiểu việc dùng chung máy tính thì có vấn đề gì.” Nolasco nói.
Tracy không chắc liệu có phải Nolasco đang khiêu khích cô hay không. Cô quyết định khiêu khích ông ta. “Ron biết chuyện gì đang xảy ra chứ?”
“Cô hỏi thế là có ý gì?”
“Ron vốn là bánh xe dự phòng của đội A và anh ấy nắm rõ các hồ sơ của chúng tôi.”
“Ừ, và chúng ta có một vị trí trống ở đội C. Arroyo sắp nghỉ hưu vào cuối năm nay.”
“Tôi có nghe nói.”
“Cô đã nghe chuyện Ron muốn thế vào vị trí đó, khiến cho vị trí bánh xe dự phòng của đội A bị trống chưa?”
“Ron muốn chuyển sang đội khác ư?”
Nolasco nhìn cô chằm chằm. “Còn chuyện gì nữa không?”
“Ông thuê Gonzalez vào làm nhanh khủng khiếp.”
“Không, tôi không thuê cô ấy. Người thuê cô ấy là các sếp ở trên và họ đã sắp xếp việc đó từ lúc Arroyo nói vói họ là anh ta sắp nghỉ hưu.” Ông ta ngừng lại. “Cô biết đấy, hầu hết các điều tra viên khác đều sẽ cảm ơn tôi.”
Tracy hỏi: “Vì lẽ gì?”
“Vì đặt chất lượng của đội cô làm mối ưu tiên hàng đầu và nhanh chóng tìm một người bắt nhịp với công việc.”
Tracy gật đầu. “Chà, vậy thì, cảm ơn ông.”
“Còn gì nữa không?”
Tracy lắc đầu. Cô sẽ không khai thác được thêm thông tin gì từ Nolasco, mà Katie Pryor thì đang đợi cô ở khu phức hợp Park 95.
“Ngay khi cô xong việc, hãy giúp Faz và Del một tay nhé!” Nolasco dặn dò.
Tracy lái xe tới khu phức hợp Park 95, biệt danh mà họ đặt cho những tòa nhà bê tông trên đường Airport, nơi tọa lạc của phần lớn các đơn vị pháp y của Sở Cảnh sát Seattle, CSI, và các đơn vị chuyên biệt như [*]SWAT. Cô đi đến đơn vị tìm kiếm người mất tích. Đã qua sáu giờ từ lâu, hầu hết các ô làm việc của tòa nhà đều trống trơn, chẳng còn những tiếng nói, tiếng điện thoại reo hay tiếng gõ bàn phím lách cách.
Tracy biết đơn vị tìm kiếm người mất tích từ hồi cô làm việc với CSI trong củng tòa nhà này. Cô cũng đã làm việc với Talia Greenwood, người tiền nhiệm của Katie Pryor, trong vài vụ mất tích. Greenwood từng nói với Tracy rằng đơn vị này không bao giờ coi vụ việc nào là vô vọng hay bế tắc. Hoặc là Greenwood tìm thấy người mất tích, hoặc là vụ án được lưu lại trong một hồ sơ mở trên máy tính của bà. Tracy nghĩ đó là một công việc đầy stress và bạc bẽo – một công việc mà bạn mang về nhà vào ban đêm; một công việc có thể choán hết tâm trí bạn mỗi lần bạn đọc hay nghe tin một người nữa bị mất tích hoặc một thi thể được tìm thấy; một công việc mà bạn có thể chẳng bao giờ thoát ra được.
Greenwood từng nói với Tracy rằng cô chỉ đúng một phần.
Greenwood nói dù công việc đó có thể gây kiệt quệ về mặt tinh thần đến chừng nào, nhưng bà cũng đã được trải qua nhiều khoảnh khắc tuyệt vời. Hầu hết những người được trình báo là mất tích không thực sự mất tích; họ thường bị bắt giữ và tống vào nhà tù quận, hoặc bị thương và được đưa đến bệnh viện. Những người khác thì chỉ muốn biến mất trong một thời gian ngắn, khi cuộc sống thường nhật khiến họ không thể chịu đựng nổi, điều này có lẽ thật tàn nhẫn đối với những người yêu quý họ, nhưng lại không phải là việc bất hợp pháp. Và đó chính là vấn đề. Một cô gái trẻ mất tích bao lâu thì mới được cho là mất tích? Trong hoàn cảnh nào thì một người bị cho là mất tích chứ không phải đang tạm rút lui, trốn tránh sự đời? Dường như Sở Cảnh sát Seattle thường xuyên phải chắt lọc câu trả lời cho những câu hỏi đó.
“Cốc, cốc.” Tracy lên tiếng.
Pryor xoay ghế, đứng dậy và dành cho Tracy một nụ cười cùng một cái ôm. “Tracy. Chào chị. Cảm ơn chị vì đã đến đây.” Giọng cô ấy dịu dàng, cao vút và gợi cho Tracy nghĩ đến giọng nói của một cô nữ sinh. Mới có vài năm kể từ lần Tracy gặp Pryor ở bãi tập bắn để giúp cô ấy vượt qua kỳ thi sát hạch, nhưng những nếp nhăn quanh miệng Pryor khi cười đã hằn sâu hơn một chút và vòng eo của cô ấy cũng đầy đặn hơn.
“Chị xin lỗi vì đến muộn hơn dự kiến. Bọn trẻ nhà em thế nào rồi?” Tracy hỏi.
“Tất cả mọi người đều khỏe. Chị có tin được rằng đứa lớn nhà em sẽ lên cấp hai vào mùa thu tới không?” Pryor lắc đầu giống hệt Kins lúc anh nói với Tracy rằng cậu con cả của anh sắp đi học đại học.
“Em có bao giờ nghĩ những năm tháng ấy đã biến đi đâu rồi không?” Tracy hỏi.
Pryor cười. “Chỉ trong những dịp đặc biệt thôi – chẳng hạn như sinh nhật và lễ Giáng sinh. Còn ngày thường, hai vợ chồng em cố gắng chèo lái con thuyền gia đình. Công việc này thực sự giúp em rất nhiều. Em có thể sắp xếp công việc theo lịch trình của các con, có mặt ở nhà để giúp bọn trẻ làm bài tập, và đi đón con sau những buổi tập luyện của chúng. Đây quả thực là một may mắn trời ban; thực sự đấy!”
“Chị rất mừng khi nghe được điều này.” Tracy đáp, và rồi, có lẽ vì họ vừa đề cập đến chủ đề con cái, cô nói thêm: “Bởi vì chị sắp phải đối mặt với vấn đề đó rồi.”
“Chị đang có bầu ư?” Pryor hỏi, giọng cất cao vẻ không tin. Tracy biết một phần nỗi ngạc nhiên ấy của Pryor liên quan đến tuổi tác của cô, và có thể cả ý nghĩ rằng Tracy đã quyết định không sinh con hoặc là không thể mang thai.
“Chị vừa mới qua tuần thai thứ mười sáu.”
Pryor mỉm cười. “Ôi Chúa ơi!” Cô ấy nói. “Tuyệt quá!” Cô ấy nhìn xuống bụng Tracy. “Em sẽ chẳng bao giờ đoán ra được nếu chị không nói. Trông chị tuyệt lắm.”
Lời khen của Pryor, một bà mẹ hai con, khiến Tracy lại tự hỏi làm thế nào mà Gonzalez nhận ra được là cô đang mang thai một cách chóng vánh đến vậy. “Không phải lúc nào chị cũng cảm thấy tuyệt vời.” Cô nói. “Và hiện giờ chị vẫn đang giữ kín chuyện này.”
“Em sẽ không nói gì đâu. Chị đã biết giới tính của em bé chưa?”
“Chưa.” Tracy nói. “Dan không muốn biết trước. Anh ấy nói đây là điều bất ngờ thực thụ cuối cùng trong đời và chị nghĩ rằng chị đồng ý với anh ấy.”
Pryor mỉm cười. “Em mừng cho chị.”
“Việc này sẽ làm phức tạp mọi chuyện.” Tracy nói. Nó đã khiến cho mọi chuyện phức tạp rồi.
“Đừng lo về công việc, chị Tracy. Chị không phải là người phụ nữ đầu tiên vừa đi làm vừa mang bầu. Em đã kể cho chị nghe về khoảng thời gian em mang thai đứa con thứ hai được bảy tháng và vẫn làm công việc tuần tra chưa nhỉ?”
“Chị nghĩ là chưa.”
“Đại úy của em, một người có cái bụng to chừng này…” Pryor nói, giơ hai cánh tay tạo dáng một cái bụng phệ. “… thực sự đã cả gan hỏi em rằng làm thế nào mà em đeo được đai giắt súng. Chị biết em trả lời ông ta thế nào không?”
“Không.” Tracy nói, chưa gì đã phá lên cười.
“Em nói: ‘Cũng giống như ông thôi, đại úy ạ.’” Họ cùng cười với nhau. “Từ đó em và ông ta không bao giờ nói những chuyện như vậy nữa.” Pryor nói. Cô ấy nhìn lên đồng hồ trên tường. “Nào, em biết là chị đang vội. Chúng ta có thể nói tiếp chuyện về bọn trẻ sau. Chị ngồi đi.”
Tracy đẩy cái ghế lại gần máy tính hơn và ngồi xuống bên cạnh Pryor. Pryor đưa cho cô một tập tài liệu nhiều trang, rồi quay sang bàn phím của cô ấy và gõ. Tracy nghiên cứu bản báo cáo về người mất tích, nó cũng xuất hiện trên màn hình của Pryor. Tiếng nhạc êm dịu phát ra từ máy tính của cô ấy.
“Cô gái bị mất tích tên là Kavita Mukherjee.” Pryor nói. “Hai mươi tư tuổi, đã tốt nghiệp trường Đại học Washington với tấm bằng về hóa học.”
“Chị thấy có cảm tình với cô ấy rồi đấy.” Tracy nói. Cô từng là giáo viên dạy môn Hóa học ở trường trung học trước khi gia nhập lực lượng cảnh sát. “Vậy là, cô ấy không phải một kẻ ngốc nghếch.”
“Chắc chắn rồi. Bạn cùng phòng cũ của cô ấy, Aditi Dasgupta, đã gửi cho em tấm ảnh mà chị đang xem đó.”
Pryor phóng to tấm ảnh trên màn hình máy tính của mình, nó rõ hơn và không bị nhiễu như tấm anh được in ra. Trong ảnh, Mukherjee đang ngồi tựa người trên ghế xô-pha. Cô ấy mặc áo phông đen và quần jean rách gối. Móng chân cô ấy được sơn màu đỏ tươi.
“Một cô gái xinh đẹp.” Tracy nói.
“Cô ấy cao một mét bảy tám và nặng năm mươi chín cân, vời mái tóc màu nâu sẫm và đôi mắt màu xanh dương.”
“Mắt màu xanh dương? Đó hẳn là điều hiếm thấy đối với chủng tộc của cô ấy.”
“Em cũng nghĩ vậy. Đó không phải là điều bình thường đối với một người gốc Ấn, nhưng vẫn có những trường hợp như thế.”
“Em nói cô ấy và bạn cùng phòng là bạn của nhau?”
“Là bạn từ thời thơ ấu. Họ ở chung phòng trọ với nhau suốt bốn năm qua.”
Tracy ngả người ra sau, để yên cho Pryor kể lại những điều cô ấy biết.
Cánh cửa trước của căn hộ từ từ mở ra. Đang ngồi tựa người trên chiếc ghế xô-pha trong phòng khách, Kaavita Mukherjee liền đóng sập cuốn tiểu thuyết mà cô ấy đang đọc, ném nó cái vèo lên trời và reo lên: “Aditi!”
Cô ấy nhảy nhổm khỏi cái ghế xô-pha và chạy ào ra cửa, chẳng thèm đếm xỉa đến đống hành lý của Aditi mà ôm chầm lấy người bạn thân nhất của mình. Aditi đã về Ấn Độ để dự đám cưới của người anh họ hồi đầu mùa hè, rồi ở lại vài tháng để du lịch. Từ nhỏ đến giờ, cô ấy và Kavita hiếm khi xa nhau lâu như vậy.
“Thật là tuyệt khi cậu trở về.” Kavita nói. “Có thực là mười hai tuần không nhỉ? Mình có cảm giác cậu đi lâu lắm rồi ấy. Và nhìn cậu kìa!” Cô ấy chạm vào lớp lụa của chiếc [*]sari màu xanh lá cây và vàng của Aditi. “Trông cậu khác quá. Cậu mua chiếc sari này ở đó à? Để mình đoán nhé!. Mẹ cậu đã mua nó cho cậu chứ gì.” Kavita cười và đảo tròn mắt. “Mẹ cậu chưa bao giờ chịu bỏ cuộc, đúng không?”
“Đúng.” Aditi nói, mỉm cười. “Mẹ mình chưa bao giờ chịu bỏ cuộc.”
Họ đều hai mươi tư tuổi, Kavita lớn hơn Aditi vài tháng, vậy mà mẹ họ đã suốt ngày lải nhải về chuyện họ phải ổn định, có nghĩa là lấy chồng. Các bà mẹ quên mất rằng cả hai cô gái đều chưa có một người bạn trai nghiêm túc. Thực ra điểm này là lợi thế của họ. Điều đó khiến Kavita và Aditi trở nên hấp dẫn hơn đối với các chàng rể tương lai mà các bà mẹ đã bắt đầu nhắm sẵn từ trước cả khi hai cô gái học xong đại học. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là Aditi hoặc Kavita nghe theo ý muốn của mẹ họ.
“Nào, để mình giúp cậu.” Kavita nhấc cái va-li cuối cùng vẫn để ở ngoài hành lang trong số ba cái va-li to tướng.
“Không cần đâu. Nó là…” Aditi nói, vươn tay định giành lại cái va-li.
“Nó nhẹ tênh í.” Kavita nói. “Hôm nào cậu phải dạy mình cách gói ghém đồ đạc nhé!”
Cô đặt cái va-li xuống bên cạnh hai cái va-li đang để ở lối vào và kéo Aditi vào phòng khách. Họ đã thuê căn hộ ở Khu Đại học này sau năm thứ hai ở trường Đại học Washington. Họ sống trong ký túc xá trong hai năm đầu tiên, nhưng muốn được sống trong một căn hộ riêng. Đồ nội thất của họ là mớ lộn xộn gồm những món đồ đi mượn, được tặng và bất cứ thứ gì mà họ có thể kiếm được gần như miễn phí – một cái xô-pha bằng da màu xám, một cái ghế bọc vải màu nâu, và một loạt những cái đèn đủ kiểu mà họ hiếm khi sử dụng vào các tháng mùa hè, khi hơn chín giờ tối mà trời vẫn còn sáng. Căn hộ của họ nằm trên tầng mười lăm, quay mặt về hướng đông, từ đây, họ có thể nhìn thấy khuôn viên của trường Đại học Washington, hồ Washington, và vào những ngày trời quang như thế này, họ còn có thể nhìn thấy những đỉnh núi phủ tuyết của dãy Cascade. Tối nay, tiếng xe cộ vọng lên từ [*]Đại lộ bên dưới qua những ô cửa sổ để ngỏ.
“Nào.” Kavita ngồi xuống, khoanh đôi chân trần lại. Cô mặc quần jean rách gối và một chiếc áo phông màu tím của trường Đại học Washington. “Kể cho mình nghe về chuyến đi của cậu đi. Đám cưới của anh họ cậu thế nào? Cậu có phát ốm vì đồ ăn ở đó không? Mình cá là trời nóng lắm nhỉ. Chắc là cậu không kết nối được với mạng Internet bởi vì mình chẳng nhận được tin nhắn nào của cậu suốt hai tuần qua. Mình rất vui vì cậu đã trở về.” Cô ngả người về đằng trước, và hai cô gái ôm chầm lấy nhau.
“Tuyệt lắm.” Aditi nói. Trông cô có vẻ mệt mỏi sau chuyến đi nửa vòng trái đất, một điều có thể hiểu được.
“Tuyệt ư? Tuyệt ư?” Kavita cười. “Cậu lúc nào cũng kiệm lời.” Cô đánh giỡn Aditi. “Kể mình nghe về đám cưới đi. Những người còn lại trong gia đình cậu có ngạc nhiên khi thấy cậu không? Mình cá là họ ngạc nhiên lắm khi thấy cậu lớn đến chừng nào.”
“Họ đã ngạc nhiên.” Aditi nói. Cô nhìn xuống hai bàn tay mình đang xếp đặt lại đặt trên đùi. Kavita linh cảm có chuyện gì đó không ổn. Aditi không chỉ là một người bạn và một người sống chung phòng; hai cô giống như chị em gái vậy. Họ hiểu rõ tâm trạng của nhau.
“Có vấn đề gì sao? Có chuyện gì vậy?” Kavita hỏi, nhưng ngay khi vừa mở miệng, đôi mắt không còn tràn đầy niềm phấn khích của cô đã quan sát Aditi kĩ lưỡng hơn, và cô tập trung chú ý vào chiếc vòng cổ bằng vàng với những hạt màu đen, rồi chú ý đến chấm nhỏ màu đỏ ngay bên dưới đường rìa tóc của Aditi. Sau đó, Kavita nhìn xuống đôi xăng đan hở ngón của Aditi. Trên vài ngón chân của cô ấy đeo những cái nhẫn, đây không chỉ là sự khẳng định về cá tính thời trang của một cô gái trẻ.
Cô có cảm giác như mình vừa lĩnh một cú thụi thẳng vào bụng khi nhận ra sự thật. Cô hầu như không thể thốt nên lời, và đột nhiên cảm thấy buồn nôn. “Cậu đã kết hôn à?” Dường như cô không tin, không muốn tin vào suy đoán của mình, muốn mình đoán sai.
Aditi ngước lên, nhìn vào mắt Kavita. Những giọt nước mắt lăn dài trên hai gò má cô, nhưng cô cố mỉm cười.
Kavita buông tay bạn mình ra. “Mình không hiểu.” Cô nhanh chóng nói thêm: “Đó có phải lý do cậu về quê không?”
Aditi lắc đầu. “Không. Không, Vita. Đó chỉ là một chuyến về thăm quê, để dự đám cưới anh họ mình.”
“Nhưng… chuyện gì đa xảy ra… các email của mình…”
“Mình gặp Rashesh ở đám cưới và chỉ một, hai ngày sau đó, anh ấy đến nói chuyện với cha mình. Những người họ hàng của mình đã sắp xếp mọi chuyện.”
“Anh ta là ai?” Kavita hỏi.
“Anh ấy là một kỹ sư.” Aditi đáp. “Người Bangladesh, nhưng anh ấy làm việc ở London. Cha anh ấy và cha mình là bạn từ thuở nhỏ. Họ lớn lên trong cùng một ngôi làng. Đó là lý do gia đình anh ấy có mặt trong đám cưới của anh họ mình.”
Có cảm giác như thông tin này đang tấn công Kavita từ hơn chục hướng khác nhau. Cô cảm thấy hoa mắt chóng mặt và mất phương hướng. “Một cuộc hôn nhân sắp đặt ư?” Cô lắc đầu vẻ không tin. “Nhưng chúng ta đã nói chúng ta sẽ không bao giờ đồng ý như thế.” Họ đã lập một lời thề – một lời thề nho nhỏ ngốc nghếch trong một pháo đài mà họ đã dựng lên ở công viên bang hồi họ còn là học sinh, nhưng đó là lời thề mà họ đã nhắc đi nhắc lại hàng năm. Nó đã trở thành sợi dây cứu sinh cung cấp sức mạnh cho Kavita và Aditi khi cha mẹ họ kiên trì cố gắng sắp xếp hôn nhân cho họ và cả khi cha mẹ họ không còn chi trả tiền thuê nhà hoặc tiền học phí sau đại học cho họ bởi vì họ không chịu nghe theo ý muốn của cha mẹ.
Aditi siết chặt tay Kavita, nhỏ nhẹ nói như thể đang nói chuyện với một cô gái nhỏ bị tổn thương. “Hồi đó chúng ta chỉ là những đứa trẻ, Vita. Hồi đó chúng ta chỉ là những cô bé con.”
Kavita rụt tay lại và lau nước mắt trên má. Cô nhìn vào những chiếc va-li. Một cơn sốc khác tràn tới phủ trùm lên cô. “Chúng là va-li rỗng, đúng không? Không phải cậu mang đồ về đây. Cậu về đây để dọn đồ đi.”
Aditi gật đầu, lúc này cô đã khóc nức nở. “Cha mẹ mình và… chồng mình đang đợi mình ở dưới nhà. Mình đã đề nghị họ để mình báo tin này với cậu. Mình xin lỗi, Vita… Mình có thể trả phần tiền thuê nhà của mình cho đến khi cậu tìm thấy ai đó thế chỗ mình. Mình có thể…”
Kavita đứng dậy và ngoảnh đi. Từ chồng thoát ra khỏi đầu lưỡi của Aditi không được tự nhiên lắm. Nó nghe thật kỳ quặc, giống như cô đang phát âm một thứ ngôn ngữ xa lạ và không chắc mình phát âm có chuẩn hay không. “Vấn đề không phải là tiền thuê nhà, Aditi. Chúng mình đã nhất trí với nhau rồi mà. Chúng mình…”
“Mình không giống cậu, Vita. Mình không mạnh mẽ như cậu. Mình… mình không thể làm những gì mà cậu đang làm.”
Kavita quay sang Aditi. “Còn trường y thì sao?”
“Bây giờ mình đã có nơi có chốn rồi.”
“Nơi chốn gì chứ? Đi theo một người đàn ông mà cậu chỉ mới biết sơ sơ? Chuyển đến ở cùng gia đình anh ta và dọn dẹp những gì họ bày ra, tận tụy phục vụ họ như kẻ hầu người hạ? Giống như một cô vợ Ấn Độ ngoan ngoãn?”
Aditi trông khổ sở như thể những lời cuối cùng đâm xoáy vào cô. “Mình xin lỗi, Vita. Mình biết là cậu không hiểu…”
“Đương nhiên là mình không hiểu. Người bạn thân nhất của mình về thăm quê và khi trở lại thì đã thành phụ nữ có chồng… và… và cậu thậm chí còn không mời mình dự đám cưới của cậu?” Điều này giống như một cú đấm nữa, một loạt cú đấm liên hoàn đe dọa hạ gục cô.
“Mình về Ấn Độ không phải với ý định lấy chồng. Vita à! Cậu phải tin mình. Mình chỉ quyết định kết hôn sau khi bọn mình gặp nhau ở đám cưới của anh họ mình… và mình thích anh ấy. Một tuần sau, thiếp mời được in. Hai tuần sau đó thì bọn mình làm đám cưới.”
Kavita đi đi lại lại trước những ô cửa sổ để mở. “Chắc là thiếp mời dành cho mình đã bị lạc trong đống thư từ.” Một ý nghĩ khác trở nên rõ ràng và cô quay sang bạn mình. “Cậu đã phớt lờ các email của mình. Mạng Internet không có vấn đề gì. Thực ra cậu không muốn trả lời bởi vì cậu không muốn nói dối mình.”
Aditi vẫn ngồi im. “Mình đã không mời cậu, Vita, bởi vì cậu sẽ không hiểu. Cậu sẽ cố thuyết phục mình đừng kết hôn.”
“Đúng là mình sẽ cố thuyết phục cậu đừng làm điều đó. Chuyện này thật điên rồ. Đáng lẽ cậu sẽ trở thành một bác sĩ. Bọn mình đã nói về chuyện đó suốt bao nhiêu năm qua. Bác sĩ nhi khoa. Mở một phòng khám cùng nhau. Nếu lúc đó mình biết chuyện, mình sẽ hỏi xem có phải cậu mất trí rồi không, có phải mẹ cậu đã bỏ cái gì đó vào cốc nước của cậu lúc cậu không để ý. Mình sẽ gọi điện đến đại sứ quán và nói với họ cậu đang bị bắt giữ trái phép. Lúc đó cậu nghĩ gì vậy?”
“Mình chẳng nghĩ gì cả, Vita. Mình đã chẳng nghĩ gì đến chuyện kết hôn…cho đến khi mình gặp anh ấy.”
Kavita dừng bước. Cô không muốn nghe điều này. “Làm ơn đừng có nói với mình đây là, cái gì ấy nhỉ, tình yêu sét đánh ư?”
“Tình yêu đúng thời điểm.”
“Dừng lại. Dừng lại đi! Cậu có nghe thấy lời cậu nói không đấy? Chúa ơi, giọng điệu cậu nghe giống hệt giọng điệu của mẹ cậu. Giống như giọng điệu của mẹ mình nữa.” Cô chuyển sang nói giọng Bengali. “Chẳng có người đàn ông nào tự dưng kết hôn cả, Kavita ạ. Anh ta làm thế vì sự hấp dẫn, hoặc vì tiền, hoặc để làm tròn bổn phận với gia đình. Tiền rồi cũng tiêu hết, sự hấp dẫn rồi cũng phai nhạt, nhưng sự ổn định thì được tạo nên nhờ gia đình.” Cô bỏ giọng nói ấy. “Vậy cậu kết hôn vì điều gì, Aditi? Tiền ư? Cha mẹ cậu đã gả cậu cho anh ta kèm theo một món hồi môn lớn mà anh ta không thể cầm lòng? Hay cậu và anh ta kết hôn là để làm tròn bổn phận với gia đình?”
Aditi cụp mắt xuống, òa khóc. Kavita nghiến răng, hối hận vì những gì mình vừa nói. Cô vẫn luôn dễ nổi nóng, đây là một tính nết xấu khi đi kèm với một miệng lưỡi sắc sảo vốn tuôn ra hết những lời lẽ khó nghe làm tổn thương người khác trước khi cô có thể ngăn nó lại. Cô ngồi xuống, áp trán vào trán bạn thân, giống như họ vẫn luôn làm với nhau, giống như họ vẫn làm với nhau khi thỏa thuận một điều gì đó. “Mình xin lỗi, Diti. Mình không có ý như vậy. Mình chỉ quá… bàng hoàng… Mình không có ý như vậy đâu.”
Sau một thoáng, Aditi ngước mắt lên. “Mình thích anh ấy, Vita. Mình đã thích anh ấy ngay từ giây phút mình nhìn thấy anh ấy.”
Kavita lắc đầu. “Nhưng cậu có yêu anh ta không, Diti? Cậu có si mê anh ta đến cuồng điên và không thể sống nổi nếu một ngày thiếu vắng anh ta? Cậu có cảm giác như vậy đối với anh ta không, Diti? Có không?”
Aditi ngồi ngả người ra sau. Lời nói của cô có chút cay đắng. “Điều đó thì có ích gì với cậu chứ, Vita? Điều đó thì có ích gì với mình?”
“Bọn mình mới hai mươi tư tuổi! Bọn mình sắp học cao học.”
“Mình đã có bao nhiêu bạn trai rồi, Vita?” Aditi khăng khăng.
“Cái gì cơ?”
Aditi lắc đầu, nhưng vẫn giữ vững ánh mắt và sự quả quyết của mình. “Mình không giống cậu. Mình không có ngoại hình như cậu và mình không có cá tính của cậu. Mình không học giỏi bằng cậu. Cậu sẽ đi học trường y, Vita, nhưng nếu mình không đỗ thì sao? Nếu điểm thi [*]MCAT của mình không tốt bằng của cậu thì sao? Vậy thì mình biết làm thế nào?”
“Cậu xinh đẹp mà, Diti, và cậu cũng thông minh nữa. Đương nhiên là cậu sẽ thi đỗ.”
Giọng Aditi to hơn và mãnh liệt hơn. “Không, Vita. Mình không như vậy.” Cô hít sâu một hơi, lồng ngực rung lên. “Mình không thông minh như cậu. Mình chỉ chăm học hơn thôi. Và mình không xinh đẹp, đặc biệt là ở đây.”
“Aditi…”
Aditi giơ tay lên. “Thôi đi, Vita. Mỗi lần bọn mình đi chơi, đám đàn đông cứ xúm lại quanh cậu và làn da trắng sáng của cậu. Còn mình ư? Họ chỉ nói chuyện với mình vì mình có mặt ở đó mà thôi, giống như một chậu cây cảnh trong nhà vậy. Họ nghĩ rằng nếu họ nói chuyện với mình đủ lâu, họ có thể có cơ hội nói chuyện với cậu.”
“Không đúng.”
“Đúng thế đấy, Vita, đúng thế đấy.” Cô nói, giọng cô trở nên cứng rắn hơn bao giờ hết. “Nhìn cậu kìa. Cậu cao ráo, mảnh khảnh và có những đường nét xinh đẹp, và đôi mắt xanh kia nữa. Đám đàn ông yêu đôi mắt xanh của cậu. Cậu có thể nói chuyện với bất cứ ai về bất cứ điều gì và họ sẽ lắng nghe.” Cô lắc đầu. “Còn mình thì họ chỉ nói chuyện một cách miễn cưỡng, gượng gạo, mình là người mà họ buộc phải nói chuyện cùng nếu họ muốn nói chuyện với cậu. Bọn mình đã như thế suốt từ nhỏ đến lớn. Mình đã phải đứng sau cậu suốt từ nhỏ đến lớn, và mình vui vẻ với điều đó, vui vẻ làm bạn cậu.” Cô đấm đấm vào ngực mình. “Nhưng người đàn ông này, Rashesh, anh ấy nhìn thấy mình và thích những gì anh ấy nhìn thấy. Cậu có biết điều đó khiến mình cảm thấy như thế nào không?”
Kavita không muốn làm bạn mình tổn thương. Cô không muốn nói với bạn mình rằng Rashesh có thể không thích những gì anh ta nhìn thấy. Ở Ấn Độ, không có cái chuyện kết hôn vì tình yêu sét đánh. Thậm chí không có cái chuyện kết hôn vì tình yêu. Họ kết hôn vì áp lực xã hội chủ yếu đặt lên vai các cô gái và cô gái càng lớn tuổi thì người ta càng nghĩ rằng cô ấy sẽ không kết hôn, và nghi ngờ rằng cô ấy bị đối tượng kết hôn bỏ rơi bởi vì cô ấy quá tham vọng, bởi vì cô ấy không phải hình mẫu người vợ lý tưởng, hoặc vì cô ấy không tốt số. (Vị trí của các ngôi sao không đẹp vào thời điểm cô ấy chào đời.)
Đại loại vậy.
Kavita nói, giọng cô gần như chỉ hơn một tiếng thì thầm. “Nhưng anh ta thậm chí còn không quen biết cậu, Diti.”
“Chính xác, Vita.” Bạn cô nói, đôi mắt mở to. “Đó chính xác là ý mình muốn nói đấy. Anh ấy thậm chí còn không quen biết mình, vậy mà anh ấy lại thích mình. Anh ấy thích làn da sẫm màu và cái mũi tẹt của mình, và cả thân hình quá khổ của mình nữa. Anh ấy không nói chuyện với mình chỉ để có thể nói chuyện với cậu. Vì vậy tại sao cậu không thể cư xử như một người bạn của mình chứ, Vita? Tại sao cậu không thể mừng cho mình?”
“Bởi vì mình ghét phải nhìn thấy cậu ném cuộc đời của cậu đi như thế này.”
“Nhưng đó là cuộc đời của mình, Vita!” Aditi nói, đấm vào ngực mình. “Đó là cuộc đời của mình và mình có thể làm gì với nó tùy theo ý mình muốn. Giờ thì ai mới là người có giọng điệu giống mẹ mình đây, giờ thì ai đang nói với mình điều gì là tốt nhất đối với mình vậy?”
“Nhưng cậu không phải là người Ấn Độ, Diti. Mình không phải là người Ấn Độ. Chúng ta là người Mỹ. Chúng ta được sinh ra ở đây, trên đất Mỹ này.”
“Mình là người Ấn Độ, Vita ạ. Từ tận trong cốt tủy, mình là người Ấn Độ. Ừ thì, mình gọi nơi này là nhà, nhưng tại sao chứ? Họ hàng thân thích của mình không sống ở đây và mình không hợp với nơi này.”
“Có chứ, cậu hợp với nơi này mà. Diti.”
“Không đâu, Vita. Không đâu.” Aditi lắc đầu. “Mình là một người thiểu số ở đây. Cậu cũng là một người thiểu số ở đây. Ở đây, tất cả mọi người đều để ý đến màu da của mình. Nếu mình học tốt ở trường, người ta sẽ cho rằng đó là do cha mẹ mình ép mình phải học cuồng điên vì họ là người luôn áp đặt con cái và quá chú trọng đến thành tích. Ừ thì, mình sinh ra ở đất nước này, nhưng mình vẫn là một người lạ ở đây. Ít nhất, ở Ấn Độ, không ai đả động gì đến màu da của mình. Ít nhất, ở Ấn Độ, màu da của mình được ngưỡng mộ, tôn trọng và thậm chí được yêu thích. Đàn ông nói chuyện với mình không phải vì mình đang đứng bên cạnh cậu. Không phải vì mình là người bạn thân xấu xí mà họ phải lấy lòng để tiếp cận cậu. Họ nói chuyện với mình bởi vì họ thích mình. Rashesh thích mình.”
Hai cô gái ngồi im lặng và lúc bấy giờ Kavita mới chợt nghĩ đến chuyện gì sẽ xảy ra từ quyết định của Aditi. “Vậy là cậu sẽ đi London? Cậu sẽ sống ở đó?”
“Ừ.”
“Với gia đình anh ta?”
“Ừ.”
Kavita lau nước mắt và hít vào thở ra vài hơi thật sâu. “Mình xin lỗi, Diti. Mình xin lỗi nếu mình khiến cậu có cảm giác tồi tệ về bản thân như vậy. Mình đã không biết chuyện đó khó khăn với cậu đến chứng nào. Mình chưa bao giờ có ý…”
Aditi nắm lấy tay Kavita và siết chặt. “Mình biết mà.” Cô mỉm cười và một lần nữa cụng trán vào trán Kavita, “Cậu đâu có lỗi chỉ vì cậu xinh đẹp chứ.”
Kavita cười giữa những giọt nước mắt đang lăn dài. “Cậu có hạnh phúc không, Diti? Thực sự hạnh phúc ấy?”
Aditi mỉm cười – một nụ cười chân thật. “Có, Vita ạ. Mình hạnh phúc. Cậu có muốn gặp anh ấy không, gặp chồng của mình ấy?”
Kavita nghĩ là có, sau này, nhưng cô không muốn gặp mẹ Aditi, không phải bây giờ, không phải hôm nay, có lẽ là chẳng bao giờ cả. Mẹ của Aditi sẽ cười rạng rỡ, hả hê. Bà ấy sẽ ném cuộc hôn nhân của Aditi vào mặt Kavita, và vào mặt mẹ cô. Chúa ơi, bà ấy sẽ khoái chí lắm khi khoe khoang rằng Aditi đã kết hôn, và kết hôn với một người cùng samaaj với họ (nghĩa là cùng tôn giáo và đẳng cấp), trong khi Kavita vẫn đang tha thẩn từ mối quan hệ này sang mối quan hệ khác, chẳng ra đâu vào đâu. Bà ấy sẽ hồ hởi ba hoa với mẹ của Kavita rằng Aditi sẽ sinh cho bà ấy những đứa cháu ngoại – trong lúc đang hể hả, say sưa, bà ấy sẽ chẳng nghĩ gì đến sự thật rằng những đứa trẻ ấy sẽ lớn lên cách bà ấy nửa vòng trái đất, và bà ấy sẽ chỉ được gặp chúng có lẽ chỉ một, hai lần mỗi năm.
“Bây giờ thì mình không thể.” Kavita mói. “Mình xin lỗi, nhưng mình không thể gặp chồng cậu lúc này được. Mình sẽ đi ra ngoài để cậu có thể chuyển đồ của cậu đi. Như thế mình sẽ không làm cản trở cậu.”
“Cậu chẳng bao giờ làm cản…”
Kavita ngả người về đằng trước, ôm siết bạn mình, biết rằng rất có thể phải nhiều năm nữa họ mới gặp lại nhau. “Mình sẽ nhớ cậu, Diti.” Cô thì thầm.
“Mình cũng sẽ nhớ cậu. Mình sẽ nhớ cậu hơn cả cha mẹ và các anh em trai của mình.” Aditi nói.
“Mình là chị em gái của cậu mà, Diti, và cậu là chị em gái của mình. Cậu là người chị em mà mình chưa bao giờ có. Người chị em duy nhất mà mình từng có.”
Aditi vừa khóc vừa nói: “Hãy hữa với mình là cậu sẽ gặp anh ấy. Hãy hứa với mình là cậu sẽ tới London để gặp mình.”
Kavita rụt người lại, xúc động. “Mình không thể…”
Aditi ôm vai Kavita. “Có, Vita, cậu có thể. Làm ơn nói thế đi. Mình không thể chịu nổi ý nghĩ rằng sẽ không bao giờ được gặp lại cậu nữa. Làm ơn nói thế đi. Nói rằng cậu sẽ đến thăm mình.”
Kavita kìm nén những cơn nức nở để trả lời. “Đương nhiên rồi, Diti. Đương nhiên là mình sẽ tới thăm cậu.”
Họ buông nhau ra. Kavita đứng dậy. Cô biết rằng cô sẽ đau lòng lắm khi rời đi, nhưng như thế còn đỡ hơn cuộc chia tay dùng dằng chẳng dứt như thế này. “Mình phải đi đây.” Cô nói, và vội và rời khỏi căn hộ, cơ thể cô run lên vì nỗi đau buồn, cố gắng kìm nén để không òa khóc nức nở. Cô đã mất đi người chị em gái của mình.
Tracy thở ra một hơi ngắn. “Điều đó hẳn là khiến người ta khó lòng chịu đựng nổi, đặc biệt là khi đối phương đã là bạn bè với mình trong bao nhiêu năm trời.”
Pryor gật đầu. “Dasgupta nói họ đã khóc rất nhiều, nhưng cuối củng Mukherjee đã chung vui với cô ấy.”
Tracy liếc nhìn đồng hồ trên máy tính. Cô biết cô đã giữ chân Pryor đủ lâu và bản thân cô cũng đang nóng lòng muốn về nhà. “Vậy là Dasgupta nghĩ bạn cô ấy mất tích bởi vì cô ấy không thể liên lạc với số điện thoại di động của bạn cô ấy?”
“Cuộc gọi được chuyển thẳng đến hộp thư thoại. Và bạn cô ấy không trả lời tin nhắn hay email.”
“Và chúng ta biết rằng cô gái ấy không ở nhà cha mẹ hay ở cùng một người bạn?”
“Em đã gọi điện cho gia đình cô gái ấy và liên lạc với hầu hết những người trong danh sách bạn bè của cô ấy mà Dasgupta đã cung cấp. Dasgupta cũng nói với em rằng khả năng Mukherjee đang ở cùng với gia đình là rất thấp. Cô ấy nói Mukherjee bị gia đình từ mặt và hiếm khi về nhà.”
“Bởi vì cô ấy không chịu chấp nhận một cuộc hôn nhân sắp đặt.”
Pryor gật đầu. “Dasgupta nói Mukherjee rất cứng đầu về chuyện đó. Hình như mẹ cô ấy cũng vậy. Đó là một cuộc đối đầu đầy bế tắc vì không ai chịu nhường ai.”
Tracy tiếp tục xem xét báo cáo về người mất tích. “Đã có ai đến căn hộ của cô ấy để xem liệu hành lý hoặc quần áo của cô ấy có còn ở đó không chưa?”
Pryor lại gật đầu. “Dasgupta đã ghé qua căn hộ khi cô ấy không thể gọi điện được cho Mukherjee. Cô ấy nói có vẻ như chẳng thứ gì bị lấy đi cả, và không có dấu hiệu gì của một vụ đột nhập hoặc một vụ xô xát trong căn hộ.”
“Mukherjee chưa quay trở lại căn hộ lần nào sao?”
“Có, hình như cô ấy đã quay lại. Vì thế Dasgupta mới lo lắng đến vậy. Dasgupta nói cô ấy đã để lại cho Mukherjee một lá thư và một món quà – một chiếc sari mà cô ấy mua về từ Ấn Độ. Cô ấy nói lá thư đã được mở ra và chiếc sari được trải ra trên giường của Mukherjee.”
“Vậy là Mukherjee đã trở về căn hộ vào một lúc nào đó, nhưng nếu chiếc sari và lá thư vẫn còn ở trên giường thì chứng tỏ rằng cô ấy đã không ngủ trên đó?”
Pryor gật đầu. “Có vẻ là như vậy.”
“Cô ấy có bạn trai không?” Tracy hỏi.
“Không.”
Tracy chỉ vào bức ảnh trên màn hình. “Một cô gái trông như thế này mà lại không có bạn trai à?”
Pryor nhún vai. “Dasgupta nói với em như vậy.”
“Thế còn bạn trai cũ thì sao? Một người có thể làm hại cô ấy?”
Pryor lắc đầu. “Gần đây thì không. Dasgupta nói Mukherjee không có thời gian để hẹn hò nghiêm túc với ai cả. Sau khi gia đình họ không còn chu cấp tiền bạc cho họ, Mukherjee chỉ biết cắm đầu vào làm việc bất cứ khi nào có thể, cố gắng tiết kiệm tiền để chuẩn bị cho việc học trường y.” Pryor nhìn vào máy tính, cuộn màn hình xuống phía dưới. “Đó lại là một chuyện khác. Em đã nói chuyện với người chủ của cô ấy. Đó là một cửa hàng quần áo trên Đại lộ. Mukherjee có lịch làm việc vào chiều nay nhưng cô ấy đã không đến, chủ của cô ấy nói điều này chưa bao giờ xảy ra.”
“Cô ấy có ô tô không? Có thể nào cô ấy đã lái xe đến một nơi nào đó để nghỉ ngơi yên tĩnh một mình trong một thời gian?”
“Cô ấy đã mua một chiếc Honda Accord 1999 sau khi tốt nghiệp. Hình như nó là một chiếc xe cũ nát và cô ấy chưa bao giờ lái nó đi xa. Theo lời Dasgupta, nó vẫn đỗ trên con đường gần căn hộ.”
Tracy giở một trang báo cáo khác, xem xét danh sách bạn bè của Mukherjee mà Pryor đã liên lạc. Rồi cô nói: “Vậy là người bạn cùng phòng không biết Mukherjee có thể đã đi đâu? Cô ấy không nghĩ ra được một nơi nào đó mà Mukherjee có thể đến.”
“Cô ấy đã gọi điện cho những người bạn thân thiết nhất của họ. Chẳng ai nhìn thấy hay nghe được tin gì từ Mukherjee.”
“Và chị cho rằng em đã kiểm tra nhà tù quận và các bệnh viện?”
“Em đã gọi điện cho họ trước tiên. Cô ấy không có ở những nơi đó.”
Tracy ngồi ngả ra sau. “Có thể là cô ấy cần nghỉ ngơi một thời gian để suy nghĩ về những gì mà người bạn cùng phòng đã làm với cô ấy. Chuyện đó rất khó chấp nhận – bạn cô ấy đã kết hôn. Bạn cô ấy sắp chuyển đi. Bạn cô ấy sẽ di cư sang London.”
“Em hy vọng là như vậy.” Pryor nói.
“Chị cũng thế. Chị không nghĩ Nolasco sẽ để cho chị xử lý vụ này.” Tracy nói. “Faz và Del vừa nhận một vụ án mạng ở khu South Park, và Nolasco muốn chị giúp họ một tay khi chị xong vụ Stephenson.”
“Em biết chị đang rất bận rộn với công việc ở bên đó.” Pryor nói. “Nhưng như em đã nói trên điện thoại, thi thoảng chị có linh cảm rất tốt đốì với những chuyện như thế này, và vụ này khiến em cứ lo lắng không yên.”
Tracy lại suy nghĩ một lát. “Ngày mai chị sẽ xong việc ở tòa án.” Cô nói. “Em hãy sắp xếp một cuộc hẹn với Dasgupta ở căn hộ của họ vào buổi chiều. Bảo cô ấy đừng có vào bên trong trước nhé, chỉ để đề phòng trường hợp vụ này không phải như vẻ bề ngoài của nó.”