Kẻ Cướp Cuối Cùng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18

❊ ❊ ❊

Theo ý tôi, phòng vẽ của Spencer có quá nhiều cửa sổ.

Căn phòng trải dài suốt bề ngang ngôi nhà, bức tường phía tây gần như hoàn toàn bằng kính: Sáu cửa sổ lớn sát cạnh nhau với những bức rèm lanh đỏ sẫm mở rộng đón ánh hoàng hôn. Bức tường phía đông lại có sáu cửa sổ nhỏ hơn một chút.

Tối Chủ nhật, tôi khoác bộ com lê xám diện nhất ra ngoài áo sơ mi trắng nhưng không đeo cà vạt - một sự nhượng bộ trong tiết trời quá nóng nực. Trên ve áo tôi gài một phù hiệu ghi chữ CALLIE SPENCER, SỰ KHỞI ĐẦU MỚI.

Elizabeth đã kể cho tôi nghe về chuyến viếng thăm Harlan Spencer hôm trước. Bức chân dung Callie Spencer mà cô nhắc tới vẫn được treo trên bức tường phía bắc căn phòng. Những bức tranh khác được đặt dựa vào mé tường phía đông phía dưới những ô cửa sổ. Giá vẽ của Spencer cùng với chiếc bàn thường dùng để đặt thuốc màu và cọ vẽ đã được cất đi. Ghế đặt thành từng cụm 3-4 chiếc một. Ở mé tường phía nam, một quầy rượu đã được dựng lên.

Trong phòng có khoảng 30 người - toàn dân thượng lưu của cả Ann Arbor này. Thị trưởng thành phố cũng có mặt cùng phu nhân. Ngoài ra, tôi có thể nhận ra ít nhất ba vị giáo sư đang giảng dạy ở trường Luật. Ông chủ nhà hàng hải sản trên phố Main cố bắt chuyện với bà chủ phòng triển lãm trên phố Liberty nhưng vô ích, bà ta còn đang mải ngắm những bức tranh của Spencer.

Harlan Spencer ngồi trên chiếc xe lăn lắp động cơ ở chính giữa phòng, còn vợ ông ngồi trên chiếc ghế sa lông bọc da bên trái chồng. Bên phải ông là một người đàn ông tóc bạc với cái mũi dài và cặp mắt sâu - chính là thượng nghị sĩ John Casterbridge.

Ông nghị sĩ trạc 70 tuổi, xuất thân từ một gia đình giàu có: Hãng Casterbridge Realty hiện sở hữu hàng loạt bất động sản cho thuê khắp nước Mỹ. Tuy thế, thời trẻ ông ấy lại từng trải qua thời gian trong quân ngũ, hai lần tới Việt Nam làm phi công lái trực thăng cứu thương cho Sư đoàn Không kỵ số l[1].

Ông ấy đã làm việc trong bộ máy chính phủ suốt 40 năm, chủ yếu là ở Thượng viện, nơi ông ấy được biết tới như là người bảo trợ cho các cựu chiến binh. Ông ấy có chân trong hội đồng Tình báo và Quốc phòng tại Thượng viện, từng làm cố vấn cho Tổng thống. Người ta đồn rằng ông ấy nắm rõ hầu hết các bí mật quốc gia, nhưng ông ấy lại rất kín tiếng, họa hoằn lắm mới trả lời phỏng vấn, còn viết hồi ký thì không bao giờ.

Tôi chưa từng gặp ông ấy trước đây, nhưng tôi thấy ông ấy có vẻ mệt mỏi. Khuôn mặt ông ấy lộ rõ vẻ uể oải, bộ com lê thì rộng thùng thình. Những mạch máu nổi rõ trên hai mu bàn tay khoanh lại đặt trước bụng. Hai cẳng chân gầy nhẳng duỗi ra phía trước, một bên cổ chân bắt chéo lên chân kia.

Phiên bản trẻ tuổi hơn của ông nghị sĩ đang lượn lờ chỗ quầy rượu, tay cầm một ly Scotch. Jay Casterbridge thừa hưởng nhiều nét của cha: Cái mũi đặc trưng của nhà Casterbridge, mái tóc đen dày khi đến tuổi sẽ chuyển thành bạc trắng. Tuy thế, khuôn mặt anh ta tròn hơn, cơ thể cũng mập mạp hơn mà không có vẻ nặng nề.

Anh ta đang nhấm nháp ly Scotch trong khi nói chuyện với một phụ nữ mặc váy dài màu đỏ, hình như là trưởng khoa của trường đại học. Tôi thấy anh ta có vẻ đăm chiêu, như thể thèm muốn được cầm ly rượu trốn biệt đi đâu đó riêng tư hơn.

Xem lý lịch trích ngang của Jay Casterbridge trên báo, tôi biết có thời gian anh ta được coi là người kế tục sự nghiệp chính trị của cha. Cứ vài năm lại rộ lên tin đồn rằng anh ta sẽ ứng cử vào Quốc hội, nhưng điều đó không bao giờ trở thành sự thật. Anh ta có vị trí cao trong một công ty luật ở Lansing, nhưng công việc chính vẫn là quản lý hãng Casterbridge Realty. Hành động mang hơi hướng chính trị nhất của anh ta đơn thuần chỉ là lập gia đình với Callie Spencer.

Callie Spencer là nguyên nhân chính khiến tôi lo lắng về mấy cái cửa sổ. Cô ấy đang đứng cạnh một ô cửa sổ lớn. Đèn trong nhà bật sáng trưng trong khi bên ngoài trời đã tối, bóng cô ấy phản chiếu lên tấm kính. Bất kì ai đứng dưới đường đều có thể nhìn thấy cô ấy rõ mồn một. Biết đâu đấy, tên đàn ông mặc áo kẻ đang rình rập dưới đó. Khi hắn nổ súng, dấu hiệu cảnh báo duy nhất chỉ là tiếng kính vỡ mà thôi.

Trong thâm tâm, tôi chỉ muốn lao tới kéo Callie Spencer nằm xuống sàn trước khi điều đó xảy ra.

Thực tế thì tôi vẫn đứng yên tại chỗ mà ngắm nhìn người phụ nữ đó. Cô ấy bận một chiếc váy trắng có dải thắt lưng màu đen ở eo, để lộ tay trái và phần lớn bắp đùi. Tôi đã quen với cái cách cô đi khắp nơi chuyện trò với khách khứa. Thường thường, khi nói chuyện với ai, cô ấy cũng đứng thật gần rồi đặt tay lên vai họ để thể hiện sự thân thiết.

Giờ cô ấy đang tán gẫu với Amelia Copeland, một phụ nữ tóc bạc quản lý quỹ tài trợ cho các rạp hát và đài phát thanh công cộng. Hai người đứng tách khỏi đám đông.

Bà ta chạm vào khuỷu tay Callie. Tôi tiến tới gần để nghe xem họ đang nói chuyện gì.

“Chẳng có hi vọng gì đâu. Cháu phải bỏ cuộc thôi.”

“Cháu định sẽ tiếp tục theo đuổi, bác Amelia à. Ít nhất là đến mùa thu năm nay.”

“Nhưng điều đó là bất khả thi. Cháu còn trẻ quá.”

Callie lịch thiệp mỉm cười. Tay trái cô ấy cầm hững hờ một ly rượu vang đỏ.

“Các cử tri sẽ quyết định điều đó,” cô ấy đáp.

“Cháu chưa hiểu, vấn đề không phải là họ bầu cho ai,” Amelia Copeland nói. “Đây là vấn đề pháp lý. Bác lấy làm ngạc nhiên vì chưa ai nói với cháu điều này cả. Có lẽ họ không muốn làm cháu phật ý.”

“Họ thật tử tế.”

“Điều này đã được viết trong Hiến pháp. Cháu chưa đủ tuổi để trở thành thượng nghị sĩ, tối thiểu là phải 35 tuổi mà.”

Nụ cười của Callie càng tươi tắn. “Bác có chắc chắn không?”

“Khá chắc chắn đấy.”

“Bởi vì nếu thật thế, ai đó đã phải cho cháu biết từ lâu rồi.”

Amelia Copeland gật đầu. “Ý bác chính là thế đấy. Cứ tìm hiểu đi, rồi cháu sẽ thấy những gì bác nói là đúng.”

Callie lại giở tuyệt chiêu của mình ra, đặt tay lên vai người phụ nữ nọ. Cô ấy tận dụng triệt để nụ cười quyến rũ của mình.

“Những điều bác nói bao giờ cũng đúng đắn, bác Amelia à,” cô ấy nói.

Người phụ nữ lớn tuổi đắm mình trong ánh sáng tỏa ra từ nụ cười của cô ấy rồi rời đi tới chỗ quầy rượu. Callie Spencer, giờ chỉ còn một mình, nâng ly rượu lên môi.

Đúng lúc đó, tôi tiến tới gần cô ấy và hỏi, “Lúc nào cô cũng khéo ăn nói thế à?”

Cô ấy ngoảnh lại nhìn tôi. “Chắc thế đấy.”

“Nếu tôi nhớ không nhầm thì chỉ có tổng thống mới buộc phải trên 35 tuổi thôi. Còn thượng nghị sĩ 30 tuổi cũng không sao.”

“Nếu tôi nhớ không nhầm thì mình đã 39 tuổi rồi đấy. Nhưng tôi không muốn nói cho bác ấy biết. Amelia cứ uống rượu vào là lại u sầu lắm.”

Tôi đưa tay ra. “Tôi là David Loogan.”

Cô ấy chỉ bắt tay hờ. “Phải rồi.”

“Liệu cô có thể giúp tôi việc này được không?”

Cô ấy nhướn mày. “Việc gì thế?”

“Tránh xa cái cửa sổ này ra. Cô đứng đây không an toàn chút nào và điều đó khiến tôi lo lắng đấy.”

Có gì đó thay đổi trong dáng đứng của Callie. Cô ấy tỏ ra thoải mái hơn, tựa hồ một câu đố khiến bản thân băn khoăn đã được giải đáp.

“Nãy giờ, tôi tự hỏi anh đang làm gì,” cô ấy nói. “Anh cứ theo dõi tôi suốt.” Cô ấy ngoái lại nhìn ra ngoài cửa sổ. “Anh thấy ai ngoài đó à?”

“Nếu đúng là hắn đang rình rập dưới đó, làm sao mà cô nhìn thấy được,” tôi đáp. “Có thể hắn đang núp dưới những rặng cây kia.”

“Cây nào nhỉ? Cây thích đó à, hay là cây đu?”

“Tôi không đùa đâu.”

Đôi mắt nâu của cô ấy nhìn tôi dò xét. “Có thể là không. Nhưng anh đang lo nghĩ không đâu rồi. Đây là nhà cha mẹ tôi, thế nên tôi rất an toàn.”

“Ai cũng có thể vào đây được. Ngay cả tôi cũng có thể bước vào với một khẩu súng mà không ai làm gì nổi.”

“Tôi mừng vì anh không làm thế,” cô ấy nói. “Một khẩu súng sẽ phá hỏng dáng áo com lê của anh đấy.”

“Cô muốn nghĩ sao cũng được,” tôi nói. “Nhưng khi chúng ta đứng ở đây, cô nên để tôi chắn trước cửa sổ thì hơn.”

Cô ấy im lặng vài giây, ngón tay xoay tròn phần chân ly rượu. Lần đầu tiên, tôi nhận ra cô ấy ở ngoài đời thấp bé hơn nhiều so với con người xuất hiện trên TV. Tôi đoán cô ấy cao khoảng 1,65 mét, trong đó đã tính cả 5 phân của đôi giày cao gót.

Cô ấy nói, “Người ta đã báo sai về anh với tôi, anh Loogan à.”

“Như thế nào?”

“Họ khuyên tôi nên tránh xa anh - vì tôi chẳng được lợi lộc gì khi tiếp xúc với anh. Thế mà giờ anh lại tình nguyện đưa thân đỡ đạn cho tôi. Tôi xin phép qua kia một chút nhé.”

“Tất nhiên rồi.”

Callie bước tới đầu phía bắc của căn phòng và nói gì đó với người đàn ông đứng ở cửa. Trước đó, tôi không để ý thấy ông ta. Đó là một người có gương mặt lãnh đạm, đầu hói, hai chỏm tóc bên mang tai vàng nhạt như rơm. Ông ta ít nhất cũng phải 50 tuổi, phần hông phình rộng hơn cả vai. Bộ com lê ông ta mặc chắc phải lỗi mốt tới cả thập kỉ.

Ông ta nghe cô ấy nói gì đó, liếc nhìn về phía tôi rồi đi ra ngoài. Callie Spencer trở lại chỗ tôi, gót nhọn của đôi giày gõ lộp cộp trên sàn gỗ cứng.

“Đó là Alan Beckett,” cô ấy giải thích. “Ông ấy từng làm cố vấn cho thượng nghị sĩ còn giờ ông ấy cố vấn cho tôi. Đó là người rà soát lại danh sách khách mời cho những buổi tiệc tùng như thế này - và đảm bảo không ai trong những người tới đây có ý định bắn tôi cả. Tôi đã nhờ ông ấy cử người rà soát xem có ai lảng vảng bên kia đường không.”

“Điều gì làm cô đổi ý thế?”

“Thực ra thì chẳng có gì cả. Tôi đoán chắc là ngoài kia chẳng có ai đâu. Nhưng giờ chúng ta có thể tán gẫu thoải mái hơn vì anh không cần lo cho tính mạng tôi nữa. Ta nói về chủ đề gì đây nhỉ?”

“Tôi không biết,” tôi đáp. “Chính trị chăng?”

“Hình như anh không quan tâm tới chính trị lắm thì phải.”

“Tại sao cô lại nói thế?”

“Vì anh là người duy nhất ở đây cài cái này.” Cô ấy gõ lên chiếc phù hiệu trên ve áo tôi. CALLIE SPENCER, SỰ KHỞI ĐẦU MỚI.

Tôi nói, “Biết đâu tất cả những người kia mới thật là không quan tâm đến chính trị thì sao?”

Cô ấy bật cười thoải mái. “Chúng tôi phát phù hiệu này cho những cử tri trung thành nhất,” cô ấy nói, “và cho đám sinh viên lúc nào cũng thích gắn phù hiệu lên ba lô để thể hiện mình là người có lý tưởng. Tôi mong mọi người đeo thứ này trong các buổi vận động tranh cử, chứ không phải tiệc cocktail.”

“Biết đâu tôi thích thông điệp này thì sao?”

“Có lẽ anh thấy nó thật trống rỗng thì đúng hơn,” cô nói. “Anh không phải người duy nhất thấy thế đâu.”

“Không, thực sự nó rất tài tình đấy chứ,” tôi nói. “Thông điệp này đã giải quyết được một vấn đề khó khăn. John Casterbridge đã làm việc ở Thượng viện mấy nhiệm kỳ rồi - bốn phải không nhỉ?”

“Năm.”

“Năm nhiệm kì. Và giờ cô đang ứng cử để trở thành người kế nhiệm ông ấy. Cô muốn người ta có cảm tưởng họ đang bầu cho ông ấy thêm một nhiệm kỳ nữa. Nhưng cô không thể cứ thế mà nói ‘Callie Spencer, Vẫn Y Như Cũ’ - như thế chẳng gợi chút cảm hứng nào. Ngược lại, cô không thể phê phán ông ấy trước mặt họ - bất kể cô đang ấp ủ những kế hoạch cải tổ gì khi lên nắm quyền. Hiển nhiên là cô muốn cải cách, ai cũng thấy ngành công nghiệp ô tô xuống dốc không phanh bao năm nay, rồi tỉ lệ thất nghiệp ở Michigan hiện đang cao nhất cả nước. Câu ‘Sự Khởi Đầu Mới’ vừa đủ mơ hồ để phát huy được tác dụng. Nó mang hàm ý mọi thứ sẽ được cải thiện mà không phê phán trước đó chúng tồi tệ thế nào.”

“Anh quên chưa nhắc đến việc câu đó in trên phù hiệu vừa vặn lắm,” cô ấy hóm hỉnh nói. “Tất cả những gì anh nói, tôi đều đã nghĩ tới rồi. ‘Sự Khởi Đầu Mới’ chỉ là một phần rất nhỏ mà thôi. Anh cứ lên website của tôi thì sẽ thấy tôi ủng hộ cải cách luật thuế công bằng hơn, cắt giảm chi tiêu hợp lý, cải tổ quy định quản lý súng, tăng chất lượng dịch vụ y tế và đưa ra những chính sách bảo vệ môi trường. Đôi lúc trong khi phát biểu, tôi lo rằng mình sẽ bị cuốn theo những mĩ từ sáo rỗng đó.”

“Vậy mục đích của cô là gì?” tôi hỏi. “Tại sao cô muốn ứng cử vào Thượng viện?”

Cô ấy nhìn quanh một lượt như để đảm bảo không có ai nghe được những gì mình nói.

“Cũng phải có người đứng ra làm chứ,” cô ấy nhẹ nhàng nói.

“Cô nói nghiêm túc không thế?”

“Cần có người kế nhiệm chức vụ thượng nghị sĩ của bang Michigan,” cô ấy nói. “Tôi cho là mình có thể làm tạm ổn. Đương nhiên còn nhiều người có thể đảm nhận cương vị này - nhưng họ không làm tốt hơn tôi được đâu, thậm chí còn tệ hơn nhiều là đằng khác. Chỉ cần ngăn được ai đó kém cỏi hơn tôi ngồi vào chiếc ghế đó là tôi đã đạt được một nửa mục đích. Nếu anh thuyết phục được John Casterbridge chia sẻ, hẳn là ông ấy sẽ bảo thành quả đáng tự hào nhất của mình nằm ở những điều ông ấy đã ngăn cản không cho xảy ra. Từ những phát kiến nghe thì to tát nhưng sẽ trở thành thảm họa trong thực tế, đến những ý tưởng ngu ngốc nhỏ nhoi không bao giờ được biết đến vì ông ấy đã lẳng lặng chôn vùi chúng. Tôi không hứa hẹn những điều quá lớn lao, nhưng nếu được bầu, tôi sẽ cố gắng không làm những việc gây ảnh hưởng xấu. Và có thể tôi sẽ làm được vài điều tốt. Cử tri nào đòi hỏi nhiều hơn thế chỉ tự dối mình mà thôi.”

Trong khi nói, đôi mắt nâu của Callie nhìn thẳng vào tôi. Giờ cô ấy ngừng lại chờ đợi phản ứng của tôi.

“Cũng không tệ,” tôi nói. “Cô nên đưa nó vào bài diễn văn của mình.”

Cô ấy tặng tôi một nụ cười bình thản như bình minh trên mặt nước.

“Tôi không dám,” cô ấy nói. “Anh mà nhắc lại với người khác, tôi sẽ phải phủ nhận ngay mình đã nói những điều đó.” Phong thái của cô ấy đã thay đổi. Lúc nãy, Callie cho tôi thấy cảm xúc thật của mình, nhưng giờ hình như cô ấy đã giấu kín nó đi rồi.

Cô ấy nói, “Tôi rất vui vì anh đã đến đây tối nay. Giá mà chúng ta có thể nói chuyện nhiều hơn, nhưng tôi còn phải gặp mặt nhiều khách khứa nữa.” Theo phản xạ, cô ấy với tay ra chạm vào vai tôi rồi bỏ đi, không chờ tôi nói thêm câu gì.

Khi cô ấy đi khỏi, tôi nhìn quanh và bắt gặp Elizabeth đang nói chuyện với Harlan Spencer. Cô đang ngồi trên chiếc ghế của John Casterbridge lúc nãy. Ông nghị sĩ đã biến mất.

Tôi gọi hai cốc soda ở quầy rượu, giữ lấy cho mình một cốc, cốc còn lại đặt lên chiếc bàn nhỏ cạnh Elizabeth. Tôi nán lại đó một chút để nghe Harlan Spencer kể câu chuyện về tuổi thơ của ông ở Sault Sainte Marie, rồi cúi mình nói với Elizabeth rằng tôi cần ra ngoài hít thở không khí trong lành một chút.

Dưới tầng một, những âm thanh của buổi tiệc chỉ còn vọng xuống lờ mờ. Tôi đi ngang qua một người phục vụ ở lối đi và cô gái mở cửa cho tôi bước ra ngoài.

Trời này mà mặc áo vest thì nóng quá. Tôi cởi áo ra và vắt nó lên cánh tay, sau đó đi dọc theo lối vào hình vòng cung dành cho xe ô tô. Đường phố lặng im. Tôi đi ra phía sau tòa nhà qua một khu vườn có hàng rào. Con đường rộng lát đá dẫn tới một con dốc, bên trên là một vọng lâu quét vôi trắng. Trong ánh sáng lờ mờ chiếu ra từ ngôi nhà, tôi nhận ra một người đang đứng dựa vào lan can - John Casterbridge.

Ông ấy chờ tới khi tôi bước lên con dốc rồi mới cất lời, giọng ông ấy nhỏ nhưng đầy quyền uy.

“Họ cử anh xuống theo dõi tôi à?”

“Không ai cử tôi đến cả,” tôi nói.

“Bởi vì nếu con trai tôi muốn giám sát đạo đức của tôi, nó có thể tự vác xác xuống đây.”

Tôi bước vào vọng lâu qua cổng vòm trang trí hình dây nho.

“Tôi chỉ ra đây tản bộ thôi,” tôi nói.

“Anh thật là sáng suốt, đi bộ tốt cho tâm trí đấy,” ông nghị sĩ nói. Rồi ông ấy nhìn vào chiếc cốc tôi đang cầm. “Anh đang uống gì thế?”

“Soda ấy mà.”

Hai mép ông ấy uốn xuống tỏ vẻ ghê tởm. “Đổ đi. Tôi đã lấy thứ này từ quầy phục vụ.” Ông ấy bước sang một bên để lộ chai whiskey Jameson đặt trên lan can. “Chúng ta nên uống một chút trước khi bị người ta lấy mất. Anh có hút thuốc không?”

“Chưa bao giờ.”

“Tốt thôi,” ông ấy nói, đưa lên miệng điếu xì gà nãy giờ vẫn kín đáo cầm trong tay. “Có mỗi một điếu thôi. Dù đã bỏ thuốc lá 30 năm, tôi chưa từng đánh mất cái thú thưởng thức xì gà ngon.”

Tôi vắt chiếc áo vest lên lan can và đổ cốc soda xuống bãi cỏ. Ông nghị sĩ rót rượu cho tôi, rồi rót cả vào chiếc cốc ông ấy vừa lấy ra từ túi áo.

“Tiền bạc hay quan hệ?” ông ấy hỏi.

“Sao cơ?”

“Thường thường, nếu được mời tới những buổi chè chén kiểu này, có nghĩa là anh có nhiều tiền hoặc mối quan hệ với những người quan trọng. Vậy thì anh có gì?”

“Chắc chắn không phải tiền bạc rồi,” tôi nói. “Tôi cho là mình có những mối quan hệ - với sở cảnh sát Ann Arbor.”

“Anh tới đây cùng với cô cảnh sát đó, Whaley gì ấy?”

“Waishkey.”

“Để nói chuyện với Callie về gã điên đang chạy loanh quanh giết người. Thế có tài tình không?”

“Tôi không chắc là mình hiểu ý ông.”

“Con dâu tôi là một người rất khéo léo,” John Casterbridge nói. “Con bé không muốn dính líu tới cuộc điều tra án mạng này, nhưng nó thừa biết sớm muộn gì mình cũng sẽ phải làm việc với cảnh sát. Vậy nên, nó sẽ làm việc đó ngay bây giờ, vào kỳ nghỉ cuối tuần, khi không ai để tâm theo dõi tin tức. Địa điểm là ở đây, chứ không phải Tòa thị chính, nơi ống kính máy ảnh đã giương sẵn. Con bé sẽ giải quyết chuyện này một lần cho xong và tới mai, đây sẽ chẳng còn là tin nóng nữa. Thế chẳng phải tài tình lắm sao?”

“Dĩ nhiên rồi.”

“Có lẽ là ý của Beckett. Nhưng Callie đã làm theo - con bé học hỏi nhanh lắm. Nó sẽ ổn thôi. Đám phóng viên rất thích con bé.”

Ông ấy uống một hớp rượu. “Anh cũng thích con bé đúng không?” ông ấy hỏi. “Lúc nãy, tôi thấy anh nói chuyện với nó.”

“Chúng tôi bàn chuyện chính trị. Quả là một người phụ nữ ấn tượng.”

“Anh phải cẩn thận đấy. Con bé đã lập gia đình rồi.”

Ông ấy nói câu này một cách nhẹ nhàng, gần như âu yếm mà không thể hiện chút giận dữ nào. Tôi không chắc mình nên hiểu điều này ra sao. Đôi mắt ông ấy không biểu lộ gì cả.

“Có lẽ ông hiểu nhầm tôi rồi,” tôi nói.

“Cũng tốt cho con bé nếu nó thoải mái tận hưởng cuộc sống một chút. Lạy Chúa, tất cả chúng ta đều nên tận hưởng cuộc sống một chút. Nhưng anh phải cẩn thận đấy.”

“Tôi nghĩ là...”

Chợt ông ấy nâng cốc lên ra hiệu cho tôi im lặng. Tôi nghe thấy tiếng bước chân trên con đường lát đá.

“Đội phòng chống tệ nạn đến đây rồi,” ông ấy nói.

Tôi nhận ra bóng người đang bước trên con đường. Vai hẹp, hông thì lại rộng. Là Alan Beckett.

Casterbridge đặt điếu xì gà lên lan can giữa hai chúng tôi. Tôi cũng xoay mình một chút để che đi chai whiskey. Beckett đi lên con dốc và bước vào vọng lâu, vừa nói vừa uể oải lắc đầu. “Ngài nghị sĩ, chúng ta từng nói về chuyện này rồi cơ mà.”

Casterbridge không đáp, chỉ uống một hớp whiskey.

Beckett bình tĩnh với lấy cốc rượu. Ông nghị sĩ cũng không ngăn cản.

“Ai đưa cho ngài cốc rượu này?” Beckett hỏi.

“Coi nào, Al.”

“Là ai?”

“Tôi tự lấy rượu cho mình được.”

Beckett liếc nhìn tôi. Tôi lắc lắc chỗ rượu whiskey trong cốc mình. Ông ta không có ý định lấy nó khỏi tay tôi.

Thay vào đó, ông ta gật đầu với vẻ nhã nhặn. “Anh Loogan, có lẽ anh sẽ lấy làm hài lòng khi biết chúng tôi đã rà soát kĩ càng quanh ngôi nhà. Không có ai ẩn nấp sau bụi cây. Cũng không có ai mang súng trường - hay bất kể loại vũ khí nào. Chúng tôi chỉ tìm thấy một người môi giới bảo hiểm đang dắt chó đi dạo, nhưng ông ta không có tiền án tiền sự gì, thậm chí vé phạt đỗ xe cũng không. Tóm lại, tất cả đều yên ổn. Không còn gì cần báo cáo nữa.”

Tôi lắng nghe ông ta nói mà không phản ứng gì. Thất vọng tràn trề, ông ta quay trở lại phía John Casterbridge.

“Thưa nghị sĩ, tôi nghĩ đêm nay thế là đủ rồi. Tôi sẽ ra bảo nhân viên chuẩn bị xe.”

“Tôi sẽ ra về khi nào tôi muốn.”

Tôi nghĩ Beckett chắc sẽ cúi mình, nhưng ông ta chỉ gật đầu.

“Dĩ nhiên.”

Ông ta đổ cốc rượu của ông nghị sĩ rồi với lấy điếu xì gà trên lan can. Nhưng tôi đã nhanh tay cầm lấy nó trước.

“Nó là của tôi,” tôi nói.

Ông ta vuốt tay lên cái trán hói và nheo mắt nhìn tôi. Cuối cùng, ông ta đành chịu thua mặc dù vẫn ấm ức. Tôi nhìn ông ta quay đi và rút lui vào trong bóng tối.

Tôi trả điếu xì gà cho ông nghị sĩ và ông ấy đưa ngay nó lên miệng, châm lửa hút từng hơi ngắn rồi nhả từng cuộn khói dài vào bầu không khí ban đêm.

“ Chuyện vừa nãy là gì thế?” tôi hỏi.

Ông ấy rít một hơi xì gà rồi mới thủng thẳng trả lời. “Mất bò mới lo làm chuồng.”

“Tôi chưa hiểu.”

“Có người tưởng tôi sống mãi mãi được cơ.” Ông ấy nhún vai. “Lục soát các bụi cây là chuyện vớ vẩn gì thế?”

“Tôi bày tỏ sự lo lắng cho tính mạng con dâu của ông. Tôi đoán chắc Al chẳng thích thế chút nào.”

Ông nghị sĩ giơ điếu xì gà lên chiêm ngưỡng. Tôi tưởng ông ấy sẽ lại nhắc nhở tôi phải cẩn thận với Callie, nhưng hình như ông ấy đã quên hẳn điều đó.

Ông ấy gạt tàn điếu xì gà xuống sàn vọng lâu.

“Sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra với Callie đâu,” ông ấy nói. “Bố cô gái sẽ lo liệu chuyện đó. Đừng coi thường Harlan Spencer. Tuy phải đi xe lăn, ông ta vẫn thường tới trường bắn. Ngay cả bây giờ, ông ta vẫn cực kỳ nguy hiểm với khẩu Glock trong tay. Ông ta giấu nó trong xe lăn ấy, chẳng qua không ai nhìn thấy thôi. Sẽ không có chuyện gì xảy ra với Callie Spencer khi con bé còn ở nhà cha mình.”

Ông ấy hút một hơi cuối cùng rồi giụi đầu mẩu điếu xì gà dưới đế giày. Không biết từ đâu, ông ấy lấy ra một chiếc cốc nữa và cẩn thận đặt nó trên lan can. Rồi ông ấy nháy mắt với tôi, với lấy chai whiskey và mở nắp.

“Anh khéo lắm, giữ lại được chai này,” ông ấy khen.

❀ ❀ ❀

[1] First Calvary Division (Sư đoàn Kỵ binh số 1): Một trong những đơn vị chiến đấu nổi tiếng trong quân đội Mỹ. Thời chiến tranh Việt Nam, đơn vị này còn được gọi là Sư đoàn Không kỵ số 1 vì sử dụng trực thăng làm phương tiện chuyển vận binh sĩ.

n trên. Tôi mở một trang ở giữa và đọc lướt trang giấy được đánh máy, xem ngẫu nhiên vài từ: đẩy, đổ vỡ, đèn bàn, đau đầu. Chỉ là một mớ hỗn độn, nhưng điều đó không quan trọng. Riêng câu mở đầu đã nói lên tất cả, phần còn lại chỉ là tiểu t
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.