Vết thương ở tay Lark đang biến chuyển khá lên từng ngày. Nó đã bớt sưng, một lớp vảy hình thành bên trên. Hắn có thể chạm vào vết thương mà không thấy đau đớn nữa. Giờ hắn không quấn băng, chỉ co các ngón tay lại để không ai nhìn thấy vết thương. Hắn vẫn uống Keflex vào buổi sáng và tối. Một liều kéo dài 10 ngày, như Sutton Bell đã nói.
Hắn đã thử đánh bạo ra khỏi căn hộ của mình, dò xét làm cách nào tiếp cận được Bell. Chậm mà chắc, cha hắn từng nói vậy. Lark đã lượn qua khu nhà của Bell và phòng khám nơi anh ta làm việc. Hắn tới đó vào các giờ khác nhau trong ngày. Có xe cảnh sát đỗ trước cửa ngôi nhà và phòng khám, nhưng không bao giờ ở cả hai nơi một lúc. Cảnh sát đang rút bớt nhân lực. Họ chỉ canh chừng ngôi nhà khi Bell ở nhà, còn khi anh ta đi làm thì không.
Nhiều khả năng vợ và con gái của Bell không còn ở nhà, như vậy càng tốt cho Lark. Khi ra tay, hắn không muốn người vợ và cô con gái có mặt ở đó.
Tối thứ Tư, Lark lái xe vào khu căn hộ của mình, một chiếc sandwich và sáu lon bia đặt trên ghế phụ. Cơn đau đầu âm ỉ dâng lên sau hốc mắt, nhưng hắn nghĩ nếu vào nhà uống thuốc và chườm đá lên trán, hắn có thể đẩy lùi được nó.
Hắn lái xe vòng qua một khúc cua dẫn tới tòa nhà, đèn pha chiếu lên thùng rác. Hắn nhận thấy một thứ màu da cam và xám chuyển động nhanh như chớp. Con vật chui qua lỗ hổng trên hàng rào gỗ bao quanh ba mặt nơi để thùng rác. Nó chui vào bụi cây rậm rạp cạnh đó.
Một con mèo, hắn nghĩ.
Hắn dừng chiếc Chevy lại, bước ra khỏi xe trước khi bản thân kịp có thời gian do dự. Hắn ngồi xổm xuống nhìn qua lỗ hổng trên hàng rào. Một đôi mắt nhìn lại hắn.
Hắn trở lại xe, bóc vỏ chiếc sandwich và xé một miếng thịt gà tây, đem đặt một mẩu cạnh lỗ hổng ở hàng rào.
Hắn rải từng mẩu nhỏ cách nhau từng quãng ngắn để dụ con mèo ra. Lark quỳ xuống nền bê tông cạnh thùng rác, mảnh thịt gà cuối cùng hắn kẹp giữa hai ngón tay. Đôi mắt đó vẫn chăm chú nhìn hắn.
Hắn chờ đợi. Con mèo xuất hiện ở lỗ hổng, thò cái mũi ra ngoài hít hít, rồi sau đó là bàn chân. Nó đến chỗ mẩu thịt gà đầu tiên nhấm một chút, nghiêng đầu nhìn Lark, rồi gặm thêm ít nữa.
Nó tiến gần hơn, cái đuôi dựng lên cảnh giác. Lark có thể nhìn rõ bộ lông ba màu của nó. Trên hai bàn chân khá to có những khoang màu trắng.
Khi tới chỗ Lark, nó chẳng quan tâm tới mấy miếng thịt gà tây nữa. Nó nghiêng đầu qua một bên và giụi cổ lên cổ tay Lark. Hắn để miếng thịt cuối cùng xuống đất, con mèo cúi xuống ngửi như để giữ lịch sự, rồi duỗi mình, cái lưng võng xuống. Nó xoay ngang để cọ mình vào đầu gối Lark. Hắn vuốt tay lên lưng con mèo.
Hắn nghĩ nó sẽ giương vuốt ra ngay khi hắn nhấc nó lên - hắn vẫn còn nhớ vết cào trên tay cô gái hàng xóm - nhưng khi vòng tay dưới bụng nó, chẳng có chuyện gì xảy ra cả: Nó không chống cự chút nào, chỉ giương cặp mắt xanh lục lên nhìn hắn.
Hắn dùng hai tay ôm con mèo trước ngực, cứ để mặc chiếc Chevy đang nổ máy mà từ từ đi về phía lối vào tòa nhà. Đi được nửa đường, hắn thấy con mèo bắt đầu giãy giụa nhưng hắn biết tốt nhất là đừng có dừng lại mà dỗ dành nó. Hắn bước qua cánh cửa kính và tiến vào sảnh tầng trệt. Con mèo rên lên, bốn chân vung vẩy. Lark đến trước căn hộ của cô gái hàng xóm và đá vào cánh cửa thép - không mạnh nhưng lặp đi lặp lại.
Rất lâu sau, cô ta mới ra mở cửa. Hắn thả con mèo xuống. Nó lao thẳng vào trong nhà.
“Roscoe!” cô ta kêu lên, xoay người đuổi theo con mèo. Lark nhìn nó phóng qua gian bếp và trốn dưới gầm ghế sa lông phòng khách.
Hắn nghĩ tốt nhất là đóng cửa lại. Giờ hắn chẳng biết nên bước vào nhà hay đứng nguyên ở ngoài. Cô ta quyết định luôn giúp hắn. “Mời vào,” cô ta nói.
Hắn đi tới chỗ giao nhau giữa phòng bếp và phòng khách, nhìn cô ta quỳ xuống cạnh chiếc ghế, tai áp sát mặt thảm.
Ban đầu, cô ta nói chuyện với con mèo - “Roscoe, cục cưng, mày vẫn ổn chứ? Tao lo cho mày quá. Mày đã đi đâu thế?” - nhưng một lúc sau cô ta đứng dậy và chuyển sang nói chuyện với Lark.
“Cảm ơn anh,” cô ta nói. “Anh không biết đấy...” Chưa nói hết câu, cô ta đã ôm chầm lấy hắn, khiến hắn ngạc nhiên vô cùng.
Hắn vỗ nhẹ lên vai cô gái và cố không quá chú ý tới mùi hương tỏa ra từ cô ta: Mùi hoa oải hương và một mùi gì khác nữa - có lẽ là dầu gội hương hoa đào, hắn nghĩ.
Vài giây sau, cô ta buông tay ra. “Anh tìm thấy nó ở đâu thế?”
“Cạnh chỗ thùng rác,” Lark nói.
“Hôm nào tôi cũng ra đó tìm mà?”
“Trên hàng rào có một lỗ hổng. Nó chui qua đó núp trong bụi cây.”
Hắn kể lại những việc mình đã làm. Cô ta rất ngưỡng mộ sáng kiến dùng mấy miếng thịt gà tây. Mấy sợi ria của chú mèo thò ra từ dưới gầm ghế, nhưng cả thân mình nó vẫn nấp kín.
Cuộc nói chuyện tàn dần. “Tôi về đây,” Lark nói.
Cô ta đi theo hắn ngang qua phòng bếp, luôn miệng cảm ơn. Khi hắn bước tới cửa, cô gái bỗng thay đổi thái độ. Hắn cảm thấy ngón tay cô ta chạm lên cánh tay mình. Sự đụng chạm này có vẻ gì đó thật thân mật. Hắn nghĩ cô ta định mời mình ở lại đêm nay đây.
“Nghe này,” cô ta nói, giọng giờ chỉ là tiếng thì thầm, “anh đang gặp rắc rối à?”
Hắn quay lại, thấy cô ta đang đứng ngay sát mình, khuôn mặt lộ vẻ nghiêm trọng.
“Không đâu,” hắn nói.
“Có người đã tới đây tìm anh.”
Hắn nghĩ ngay tới cô cảnh sát mình đã bắt gặp ở bệnh viện và ở nhà Spencer. “Cô ta nói gì?”
Câu trả lời của cô gái hàng xóm khiến hắn ngạc nhiên “Không phải phụ nữ, mà là một người đàn ông. Ông ta kể với tôi một câu chuyện - anh đã bỏ mặc vợ mình như thế nào và cô ấy đang phải một mình nuôi dạy các con ra sao. Cô ấy đã nhờ ông ta tìm anh và thuyết phục anh thực hiện trách nhiệm của mình. ‘Có lẽ anh ấy sẽ không vui khi gặp tôi đâu,’ ông ta nói. ‘Nhưng mong cô giúp đỡ vợ anh ấy. Nếu thấy anh ấy thì gọi cho tôi ngay.’ Ông ta đưa cho tôi một tấm thẻ, nhưng trên đó không ghi tên mà chỉ có số điện thoại.”
“Chuyện này xảy ra khi nào?”
“Khoảng 1 giờ trước. Những gì ông ta nói có thật không?”
Lark lắc đầu. “Tôi không có vợ con gì cả.”
“Tôi cũng nghĩ thế. Ông ta là thám tử tư à? Hành động của ông ta không giống cảnh sát cho lắm.”
“Tôi không biết đó là ai cả.”
“Nhưng bề ngoài ông ta cũng khá giống một cảnh sát, nhất là ở cử chỉ điệu bộ. Giống như một người đã quen ra lệnh, bắt người khác phải phục tùng... Ông ta gợi cho tôi nhớ đến một diễn viên đóng phim cùng Sidney Poitier. Tên là gì ấy nhỉ? Rod Steiger.”
Những miêu tả của cô gái khiến Lark thấy bồn chồn, mặc dù hắn không thể giải thích nổi tại sao.
“Cô nghĩ giờ ông ta đã bỏ đi chưa?” hắn hỏi.
“Chịu thôi,” cô ta nói. “Nhưng tôi không thấy ông ta quay lại - tôi đã chăm chú quan sát hành lang chờ anh về. Sau khi ông ta đi, một người khác lại tới trước cửa phòng anh. Đó là một người đàn ông gầy, mặc áo gió và đội mũ lưỡi trai. Khi tôi thử bắt chuyện với người đó, anh ta bỏ đi ngay. Lúc đó, tôi đã định gọi cảnh sát.”
“Tôi thấy vui vì cô đã không làm thế.”
“Có lẽ tôi nên gọi cảnh sát. Tôi có cảm giác những người này có vẻ nguy hiểm.”
Lark đứng dựa lưng vào cửa, suy nghĩ lung lắm.
“Không,” hắn nói. “Tôi dám chắc tất cả chỉ là hiểu nhầm thôi. Có lẽ mấy gã đó đến nhầm địa chỉ. Nếu quay lại, có thể họ sẽ nhìn thấy tôi và nhận ra mình đã hỏi nhầm người.”
“Anh chắc không?”
Thực ra thì không, nhưng cũng chẳng sao. Hắn sẽ không ở lại đây lâu đâu.
“Dĩ nhiên,” hắn nói. “Đừng lo cho tôi. Nhưng tôi phải về bây giờ. Có thể mai tôi sẽ qua đây xem Roscoe thế nào. Được không?”
“Được thôi.”
“Vậy thì tạm biệt.”
Hắn mở cửa và bước ra ngay trước khi cô ta kịp đổi ý. Tiếng kim loại vang lên khi cánh cửa đóng lại. Hắn đứng đó, nhìn suốt dọc hành lang trống trơn.
Không thể chần chừ được nữa. Có thế cô ta đang theo dõi hắn qua lỗ cửa. Hắn đi ba bước qua bên kia hành lang, mở khóa cửa và bước vào nhà, bật đèn ở lối vào. Không thấy dấu vết phá hoại nào trên cánh cửa, hắn không cho là có kẻ đã đột nhập vào căn hộ. Nhưng hắn muốn thật chắc chắn. Vậy là hắn bật đèn trần trong bếp và mở ngăn kéo lấy con dao ra.
Chầm chậm đi tới cuối hành lang ngắn, giờ hắn phải lựa chọn: Phòng tắm bên phải hay phòng ngủ bên trái. Đứng từ hành lang nhìn vào, cả hai phòng đều trống không. Nhưng bức rèm trắng đục của nhà tắm lại rất dày, không nhìn qua được - ai đó có thể đang nấp ở đó. Trong khi đó, gần như toàn bộ phòng ngủ bị khuất khỏi tầm nhìn. Nếu ai đó muốn lẩn trốn, phòng ngủ sẽ là một lựa chọn quá hiển nhiên: Chỉ cần nép mình sau cửa thì người đứng ở hành lang sẽ không tài nào thấy được bạn.
Nhưng nếu đủ thông minh, chắc chắn kẻ đó sẽ không chọn cái nơi quá hiển nhiên như thế.
Lark bước vào phòng tắm, lăm lăm con dao trên tay. Hắn bật đèn, hình ảnh phản chiếu của chính hắn hiện lên trong gương. Tim đập thình thịch, hắn ngoái nhìn vào phòng ngủ tối om. Không thấy động tĩnh gì. Hắn quay trở lại chỗ vòi hoa sen, bước tới gần và với tay giở tấm rèm ra.
Không có ai ở đó.
“Đoán sai rồi,” một giọng nói cất lên phía sau hắn.
Hắn xoay mình lại và thấy một bóng người cao lớn ở ngưỡng cửa - một người đàn ông mặc toàn đồ đen, y như nhân vật đang thực hiện phi vụ bí mật trong mấy phim hạng hai. Đôi bốt cao cổ, quần dài đen, áo phông đen bó chặt lấy cái bụng phệ. Đôi vai rộng, mái tóc đen điểm bạc. Lark nhận ra người đó, hắn đã nhìn thấy ông ta trên TV ở Sault Sainte Marie. Đó là Walter Delacorte, cảnh sát trưởng hạt Chippewa.
Lark vung con dao lên theo phản xạ. Delacorte cũng giương lên một khẩu súng trong bàn tay béo mập.
“Đừng dại dột thế,” ông ta cảnh cáo.
Lark cười phá lên, tới mức gập cả người lại. Hắn tưởng như vừa nghe thấy tiếng nói của cha mình, lại một chân lý khác: Đừng bao giờ cầm dao đi đấu súng.
Hắn đứng thẳng lên và lao về phía Delacorte, dao chĩa ra phía trước. ít ra hắn có lợi thế về sự bất ngờ. Nhưng Delacorte tỏ ra nhanh nhẹn hơn vẻ bề ngoài. Ông ta xoay ngang người, tay trái tóm lấy cổ tay Lark, đập con dao vào tường ngay cạnh công tắc đèn.
Con dao rơi xuống sàn. Delacorte thả tay Lark ra để túm lấy cổ áo hắn, xô hắn vào chiếc gương trên bồn rửa. Lark đập vai vào đó khiến tấm gương vỡ tan. Chỉ bằng một tay, Delacorte xoay Lark lại và đẩy qua cửa. Quán tính khiến Lark lao đầu vào phòng ngủ, ngã sõng soài ra thảm mà thở hổn hển. Chưa kịp đứng lên, hắn đã cảm thấy đế giày của Delacorte chẹn giữa hai bả vai và và họng súng chĩa sau gáy.
“Mày đã tỉnh ra chưa?” viên cảnh sát trưởng hỏi khẽ.