”Cô ta không biết mình đang làm gì cả,” tôi nói với Elizabeth tối hôm đó.
Chúng tôi bật kênh bản tin trên TV nhưng lại giảm âm lượng tới mức nó chỉ còn là những tiếng rì rầm. Tôi ngồi ở một đầu ghế sofa, Elizabeth nằm gác chân lên đùi tôi. Cả ngày hôm nay, cô chầu chực ở phòng khám nơi Sutton Bell làm việc, vẫn chưa thấy tăm hơi tên mặc áo kẻ.
“Lucy đương nhiên là rất thông minh, nhưng không quá thông minh như cô ta vẫn tưởng,” tôi nói. “Tất cả những gì cô ta biết về nghề phóng viên chỉ là qua phim ảnh hay sách báo. Cô ta tưởng rằng cứ hành động y như nhân vật trong phim thì mình sẽ bình an vô sự.”
Elizabeth nhắm mắt và mỉm cười nhẹ nhàng. “Cô ta có gợi cho anh nhớ tới ai không nào?”
Ngôi nhà của gia đình Spencer choán hết cả khu đất ở góc phố, nơi giao cắt giữa đại lộ Arlington và đường Bedford. Tôi và Lucy lái xe rời khỏi đó vào buổi chiều sau cuộc phỏng vấn, chậm rãi đi xuống phía nam theo con đường dốc. Tôi định thả cô ta ở khách sạn rồi tới văn phòng Gray Streets làm việc một chút. Nhưng cô ta lại có ý khác.
“Rẽ phải đi, Loogan.”
“Để làm gì thế?”
“Anh có vội đi đâu đó bây giờ không?”
Tôi rẽ phải, sau đó lại rẽ thêm hai lần nữa, trở lại đường Bedford rồi đỗ lại dưới một tán cây bên đường. Từ vị trí đó, chúng tôi có thể nhìn thấy ngôi nhà của gia đình Spencer với bãi cỏ thoải dốc và gian nhà dành cho khách xây phía sau. Chiếc Ford của Callie Spencer ánh lên màu bạc.
Tôi hạ cửa kính và tắt động cơ, trong khi Lucy giải thích lý do tại sao cô ta muốn làm Callie lầm tưởng là mình đang định giở trò gì.
“Tôi muốn biết cô ấy nói chuyện với ai, nhưng chẳng có cách nào đặt máy nghe trộm trong đó được. Tờ Current không cung cấp thiết bị này cho phóng viên như mọi người vẫn tưởng, vậy nên tôi buộc phải ứng biến. Nếu cô ấy tưởng tôi đã đặt máy nghe trộm ở đó thì...”
“...thì cô ấy sẽ không dám gọi điện từ gian nhà phụ nữa,” tôi nói. “Nhưng có ai cấm cô ấy dùng điện thoại ở gian nhà chính đâu?”
Lucy gõ cặp kính râm lên đùi. “Nếu ban nãy tôi đóng kịch thành công, cô ấy sẽ không dám làm thế đâu. Tôi cũng đã lượn qua gian nhà chính mà.”
Hàng tá thắc mắc nảy ra trong tâm trí tôi. “Hẳn là cô ấy có điện thoại di động...” tôi bắt đầu.
“Có thể,” Lucy nói. “Nhưng một khi đã nghi ngờ thì nhìn đâu cũng thấy nguy hiểm. Nếu cô ấy nghĩ đường dây điện thoại đang bị nghe lén, chắc chắn cô ấy cũng sẽ lo lắng về tính bảo mật khi dùng điện thoại di động. Tôi đang hi vọng cô ấy sẽ leo lên xe mà đi tới đâu đó - nói chuyện trực tiếp với những người liên quan. Như thế, tôi có thể bám theo cô ấy.”
“Nếu cô ấy không cần nói chuyện với ai thì sao?”
“Không có chuyện đó đâu. Tôi đã ném ra vài chủ đề đáng suy nghĩ. Rồi cô ta sẽ nói lại chúng với... ai đó thôi.”
Câu nói ngập ngừng làm tôi ngờ rằng cô ta đã nghĩ tới một người cụ thể nào đó rồi.
“Cô cho là cô ấy biết danh tính kẻ cướp thứ năm,” tôi nói. “Và cô ấy sẽ dẫn cô tới chỗ hắn?”
Cô ta không trả lời. Tôi nhìn cô ta gập kính râm lại và gài một bên gọng kính vào ngực áo.
Tôi nói, “Ban nãy, cô đã nói Terry Dawtrey tiết lộ cho mình vài manh mối về kẻ cướp thứ năm và cô định lần theo chúng.”
“Chỉ là một trò bịp thôi mà. Tôi muốn tung ra thứ gì đó khiến cô ấy lo lắng.”
“Và đoạn Henry Kormoran nhìn thấy cô ấy đi cùng Floyd Lambeau ở ngân hàng Great Lakes - đó cũng là bịa đặt à?”
“Không. Kormoran thực sự đã kể với tôi như thế.”
“Theo phỏng đoán của tôi, cô chưa từng có cơ hội nói chuyện với Kormoran. Anh ta đã chết trước khi cô kịp tới gặp.”
Cô ta nhìn thẳng qua tấm kính chắn gió trước mặt, lảng tránh ánh mắt tôi.
“Có thể tôi đã khiến thám tử Waishkey lầm tưởng như vậy,” cô ta nói.
Chúng tôi cùng ngắm một con sóc đứng trên vỉa hè. Nó ngập ngừng một lúc rồi chạy qua đường.
“Cô nói chuyện với Kormoran bao nhiêu lần rồi?” tôi hỏi.
“Chỉ một lần duy nhất,” cô ta nói. “Từ hồi mùa xuân.”
“Và cô nghĩ rằng anh ta bị giết vì những gì đã tiết lộ cho cô về Callie Spencer?”
“Có thể là như thế.”
“Làm thế nào mà ai đó biết được những gì Kormoran nói?”
“Tôi đã nhắc tới chuyện đó với Dawtrey khi đến gặp gã trong tù. Tiện thể, gã không thể xác minh được điều này. Tuy gã và Lambeau đều nhìn thấy Callie ở Sault Sainte Marie, theo những gì Dawtrey được biết, cô ấy không dính líu tới vụ cướp ngân hàng Great Lakes.”
Con sóc leo lên một cành cây thích rồi biến mất sau tán lá xanh.
“Để tôi tóm tắt lại giả thiết kỳ diệu của cô nhé,” tôi nói. “Terry Dawtrey nói với cô là gã biết danh tính kẻ cướp thứ năm, còn cô tiết lộ cho gã thông tin từ Kormoran rằng Callie Spencer đã giúp đỡ Lambeau trong vụ cướp ngân hàng Great Lakes. Ai đó đã nghe trộm được toàn bộ những điều này trong phòng thăm tù nhân ở nhà tù Kinross rồi báo lại với nhà Spencer. Vậy là họ lập mưu giết Dawtrey và Kormoran. Phải thế không?”
“Chính xác.”
Tôi nhìn về phía gian nhà phụ và chiếc xe màu bạc. “Và bây giờ, cô gieo rắc cho Callie nỗi sợ hãi rằng căn nhà của cô ấy bị cài máy nghe trộm, còn cô ngồi đây chờ cô ấy đi đến nơi gặp mặt bí mật với kẻ cướp bí ẩn trong vụ cướp ngân hàng Great Lakes.”
Lucy bỏ giày ra và gác chân lên trên hộc đựng găng tay.
“Anh nói vậy làm nó nghe có vẻ khó tin quá,” cô ta nói.
“Hai người bọn anh ngồi chờ ở đó suốt 1 tiếng đồng hồ,” tôi kể cho Elizabeth. “Callie chẳng đi đâu cả, cũng chẳng có ai tới gặp cô ấy. Khi đã hết kiên nhẫn, anh lái xe chở Lucy về khách sạn. Cô ta không chịu vào mà leo ngay lên chiếc Beetle màu vàng của mình để quay lại chỗ nhà Spencer.”
Elizabeth với lấy điều khiển tắt TV. Cô nằm im lặng vài phút, tay mân mê chuỗi hạt thủy tinh trên cổ theo cái cách mà cô thường làm mỗi khi suy nghĩ.
“Tất cả chỉ là lời nói đầu môi chót lưỡi thôi,” một lúc sau cô cất tiếng. “Dawtrey nói thế này, Kormoran nói thế kia. Có thể tất cả bọn họ đều nói dối Lucy, hoặc cô ta nói dối anh. Em cần chứng cứ xác thực. Nếu Callie Spencer và Floyd Lambeau cùng thăm dò ngân hàng Great Lakes, phải có video trên máy quay an ninh. Cầm được cuộn băng đó trong tay mới gọi là có chút chứng cứ được.”
“Anh đã hỏi Lucy về cái đó,” tôi nói. “Không có cuộn băng nào ghi lại hình ảnh Lambeau thăm dò ngân hàng, một mình hoặc cùng với ai khác. Cô ta đoán cuộn băng đã bị hủy để xoá dấu vết.”
“Dĩ nhiên là cô ta sẽ nghĩ vậy rồi. Nhưng trên thực tế, nhiều khả năng là chưa ai nghĩ đến việc thu thập cuộn băng đó để điều tra cả. Mà kể cả họ đã làm thế đi nữa, chẳng có lý do gì buộc họ phải giữ cuộn băng cả. Lambeau đã chết. Lão không bao giờ phải ra tòa.” Elizabeth đứng dậy và vuốt lại mái tóc rối. “Tất cả chỉ là lời nói,” cô nói. “Sự phỏng đoán.”
Sau đó, khi mọi người đã đi ngủ hết, tôi nằm thao thức lắng nghe âm thanh của màn đêm. Một con ngài đập cánh trên cửa sổ. Nhịp thở của Elizabeth. Tôi tưởng cô đã ngủ rồi, nhưng cô trở mình và vớ lấy cuốn sổ để trên tủ đầu giường. Đó là một thói quen của giới văn sĩ mà cô học được từ tôi. Những ý tưởng cần phải được ghi lại ngay.
Tôi nghe tiếng ngòi bút lướt trên mặt giấy, nhẹ như cát bay trong gió.
Khi cô viết xong, tôi mới hỏi, “Em viết gì thế?”
“Chẳng có gì đâu,” cô nói. “Nhưng nếu Kormoran khẳng định anh ta đã nhìn thấy Callie Spencer đi cùng với Lambeau ở ngân hàng Great Lakes, điều này có thể giải thích tại sao anh ta lại giữ một bản sao chân dung cô ấy ở nhà. Có thể anh ta cần nó để nhớ lại hình ảnh cô ấy thời trước.”
Sáng hôm sau, tôi đi mua bánh mì vòng và chút nước cam, sau đó lái xe trở lại đường Bedford. Tôi thấy chiếc Beetle màu vàng của Lucy Navarro đỗ ở đúng vị trí chúng tôi dừng lại quan sát hôm qua. Lucy ngồi dưới tán cây bên cạnh, trên một bức tường đá thấp đánh dấu ranh giới sân trước nhà ai đó.
Cô ta vẫy tay. Tôi đi tới đó và ngồi xuống, mời cô ta một chai nước chanh, đặt gói bánh mì giữa hai chúng tôi. Cô ta đã thay quần áo sau lần gặp mặt trước.
“Cô ở đây cả đêm qua à?” tôi hỏi.
“Tôi đã nghỉ giải lao một chút,” cô ta nói. “Về khách sạn ngủ một giấc. Rồi tôi ngồi theo dõi ở đây từ 7 giờ 30 sáng nay.”
Giờ đã gần 10 giờ. Tôi nhìn gian nhà phụ của gia đình Spencer phía xa. Chiếc Ford màu bạc của Callie Spencer đỗ trên lối vào.
“Có gì mới không?” tôi hỏi tiếp.
“Chưa thấy gì,” Lucy nói. “Hôm qua, Callie ăn tối ở gian nhà chính, sau đó quay về gian nhà phụ lúc 9 giờ. Từ đó tới giờ, theo tôi được biết, cô ấy không đi đâu cả. Tuy thế tôi thấy vui vì chưa phải bám theo cô ấy. Tôi vẫn còn việc riêng phải giải quyết ở đây.”
Tôi định hỏi ý cô ta là gì, nhưng cô ta chỉ vào một điểm trên đám cỏ giữa bức tường và vỉa hè, ngay gần chân chúng tôi. Đó là một vật hình oval mà trước đó tôi cứ tưởng là viên đá. Thực ra đó là cái mai màu nâu của một con rùa. Khi nhìn kĩ, tôi có thể thấy cái đầu, đôi mắt sẫm, cái miệng đang nhai một nhánh cỏ ba lá.
“Nó đã ở đây cả buổi sáng,” Lucy nói. “Cứ thỉnh thoảng lại bò ra đường. Tôi sợ người ta sẽ chẹt phải nó.”
Như thể có sắp xếp từ trước, con rùa bò ra vỉa hè đúng lúc này. Nó không lớn - từ đầu đến đuôi khoảng 15 phân - nhưng di chuyển khá nhanh. Nó bò qua vỉa hè và dừng lại trên đám cỏ sát lề đường.
Lucy bồn chồn nhìn con rùa, nhấp nhổm chuẩn bị ra bắt nó trở lại.
“Tôi đã lôi nó về đây 7-8 lần rồi,” cô ta nói. “Chẳng biết nó sẽ ra sao nếu tôi rời khỏi đây nữa.”
Tôi nhìn nó bò qua đám cỏ xuống mặt đường. Lucy nhảy tới nhặt nó lên.
“Có lẽ cô nên đặt nó ở bên kia bờ tường,” tôi gợi ý. “Nếu nó lúc nào cũng bò về hướng đó.”
“Tôi đã thử rồi,” cô ta đáp, hai tay cầm con rùa. “Nếu để nó ở đó, kiểu gì nó cũng sẽ bò lại đây. Chẳng có cách nào cả.”
Một chiếc xe đi qua con phố. Lucy thả con rùa trên đám cỏ cạnh bờ tường và ngồi xuống.
“Chẳng cần anh gợi ý, tôi đã thử đặt nó bên kia bờ tường rồi,” cô ta nói. “Nó không chịu nằm yên.” Cô ta chỉ tay tới cuối hàng rào, nơi lối vào dành cho ô tô xuyên giữa hai cột đá nhỏ. “Nó bò ra tít chỗ đó rồi vòng ra ngoài này. Nó rất quyết tâm. Tôi thấy lo cho nó.”
Chẳng biết nói gì, tôi vặn nắp chai nước cam và uống một hớp. Trời bắt đầu nóng hơn, nhưng ngồi trong bóng râm khá dễ chịu. Con rùa nằm yên trong đám cỏ. Nó đã rụt cổ vào trong mai.
Một cậu bé đạp xe ngang qua bên kia đường. Lucy mở chiếc túi đặt giữa hai chúng tôi và lấy một chiếc bánh. Một lúc sau, cô ta nói, “Chắc anh thấy tôi kỳ dị lắm.”
“Không đâu,” tôi nói.
“Chắc chắn là anh thấy thế, vì con rùa đó. Tôi không kỳ dị đâu, Loogan. Tôi không phải loại người không dám đập một con ruồi, hay cảm thấy tội lỗi vì giẫm phải một con giun. Tôi chẳng quan tâm chuyện gì xảy đến với một con ếch. Nhưng một con rùa thì đáng chú ý hơn.”
Tôi đóng nắp chai nước cam. “Tôi không phủ nhận điều đó,” tôi nói.
“Anh vẫn thấy tôi thật kỳ dị.”
Tôi đặt chai nước giữa cả hai. “Để tôi hỏi cô điều này nhé. Cô nghĩ sao về loài nhện? Nếu thấy một con nhện trong nhà, cô sẽ làm gì?”
“Tôi ghét nhện,” cô ta nói, hơi quá nhanh. “Nếu thấy một con nhện, tôi sẽ đập nó nát bét bằng một tờ báo.”
Tôi ngắm nhìn đôi mắt xanh lục của cô ta và chờ đợi. Cô ta không chớp mắt.
“Tôi không tin,” tôi nói.
Cô ta ngoảnh mặt đi và bỏ một miếng bánh vào miệng, thư thả nhai rồi lại vê tròn một miếng nữa trong tay. “Được rồi,” cô ta nói. “Cũng còn tùy. Nếu nó có vẻ ghê gớm, tôi sẽ đập chết nó. Nhưng nếu nó trông cũng tạm chấp nhận được, tôi sẽ dụ nó lên một tờ giấy rồi đem thả ngoài vườn.”
Cô ta nhe răng cười và tôi cũng vậy. Tôi không nói gì. Cô ta với tay ra và đấm nhẹ vào cánh tay tôi.
Chẳng được bao lâu, con rùa lại ló đầu ra khỏi mai. Nó bò ngang qua vỉa hè, đến chỗ cạnh lề đường thì bị Lucy chặn đầu. Tôi đứng dậy khi cô ta đem nó trở lại. “Để tôi thử xem,” tôi nói.
Tôi cầm con rùa cô ta đưa bằng một tay, trèo qua hàng rào rồi băng qua một bãi cỏ được cắt tỉa cẩn thận. Ở đó có những bụi cây và bờ giậu bao quanh ngôi nhà xây kiểu Victoria màu trắng, nhưng chúng nhìn không mấy hấp dẫn. Tuy thế, khi vòng ra sau nhà, tôi thấy một cái ao nhân tạo nhỏ, xung quanh lát những phiến đá nhẵn. Những nụ hoa huệ tây nổi trên mặt nước. Một con ếch nhỏ nấp dưới cây lan dạ hương.
Tôi nhìn thấy một đám cỏ ba lá mọc bên bờ ao lát đá và đặt con rùa xuống đó. Một phút sau, nó ló đầu ra khỏi mai và giương đôi mắt đen nhìn tôi.
“Ở yên đây nhé,” tôi bảo nó.
Tôi lùi lại chừng 3 mét, chờ xem nó có đi theo mình nữa không. Cạnh ngôi nhà, người làm vườn đang tỉa một cây lê cảnh. Ông ta ngừng tay để nhìn tôi và tôi đáp lại với một cái gật đầu thân thiện. Khi tôi ngoảnh lại nhìn, chú rùa đã leo lên một phiến đá lát. Tôi coi đó là một thắng lợi.
Tôi bước qua bãi cỏ trở lại chỗ Lucy bên bức tường. Khi tôi nhắc tới cái ao, cô ta rất vui vẻ nhưng vẫn hơi hoài nghi.
“Nó vẫn có thể quay lại đây mà,” cô ta nói.
“Tôi không nghĩ thế,” tôi đáp. “Bọn tôi đã nhất trí với nhau rồi.”
Tôi để cô ta ở đó và đi vào thành phố, khi tới văn phòng thì đã gần 11 giờ. Thang máy đưa tôi lên tầng sáu và khi bước tới ngưỡng cửa tòa soạn Gray Streets, tôi thấy một gói hàng đặt ở đó. Lần này không phải là một chiếc phong bì, mà là một túi giấy thuôn dài xoắn chặt một đầu.
Đôi khi tâm trí tôi hoạt động theo những cách thật tức cười. Ý nghĩ đầu tiên đến với tôi là bom ống. Hình dáng của nó cũng khá giống. Nhưng cái túi ngoài thì giống với cái loại người ta hay dùng ở cửa hàng bán rượu, vật bên trong thuôn nhỏ về phía trên giống như phần cổ chai. Tối đành liều mở túi giấy ra và thấy một chai Scotch -loại mạch nha đơn cất[1] của hãng Macallan.
Tôi đem nó vào và đặt trên bàn làm việc. Không có ghi chú nào cho thấy người gửi là ai. Tôi ngồi đó suy nghĩ một lúc, rồi mở điện thoại gọi cho Bridget Shellcross.
Cô ta trả lời với giọng ngái ngủ. “Xin chào, David.”
“Chào Bridget. Cô để một chai Scotch trước cửa văn phòng tôi đấy à?”
Tôi nghe thấy tiếng thì thầm từ bên kia đầu dây cùng tiếng cười khúc khích nhẹ nhàng - có lẽ là từ người phụ nữ thanh tao chơi đàn luýt.
Bridget ra hiệu cho cô gái im lặng rồi nói, “Còn lâu tôi mới nghĩ ra được ý đó, David à. Mua cho anh từng ly một thì kinh tế hơn. Anh đang ở văn phòng à?”
“Ừ. Tôi thấy chai rượu khi đến đây.”
“Miễn là người ta không ném chai rượu vào qua cửa sổ thì anh có thể tận dụng nó.”
Tôi chạm đầu ngón tay lên chai rượu. “Xin lỗi vì đã làm phiền cô.”
“Chẳng phiền chút nào. Tôi có nên lo lắng cho anh không nhỉ?”
“Tại sao thế?”
“Biết đâu anh có người hâm mộ bí mật.”
“Có lẽ thế.”
Tôi đóng điện thoại. Có thể chai rượu là do ông nghị sĩ gửi tới. Hoặc là Callie Spencer, mặc dù tôi ngờ rằng tình cảm cô ấy dành cho mình không đi theo chiều hướng ngưỡng mộ cho lắm.
Tôi với lấy tập bản thảo đang chỉnh sửa dở, một câu chuyện về tay thám tử chuyên ăn đút lót đi tìm nữ chủ nhân món tiền thừa kế. Tôi đọc được bảy trang, đang viết ghi chú bên lề thì điện thoại reo.
Tôi liếc nhìn màn hình và mở nó ra. “Chào Nick.”
“Chào chú. Chú có nhớ mình từng bảo cháu không được rình mò đám cảnh sát Sault Sainte Marie nữa?” Cậu phát âm thành bẩu.
“Chú nhớ.”
“Cháu vẫn rình mò bọn họ đấy,” cậu bé nói. “Chú muốn nghe tin mới nhất không?”
Tôi gác chân lên mặt bàn. “Dĩ nhiên là có.”
“Chú biết chuyện Paul Rhiner đóng đô trong nhà rồi nhỉ? Giờ thì cháu đã đoán ra ai đem đồ ăn và rượu tới cho hắn. Chính là viên cảnh sát trưởng Delacorte. Chú thấy sao?”
Cậu bé chẳng cần tôi trả lời. Chuyện đã quá hiển nhiên: Cảnh sát trưởng muốn Rhiner ở im một chỗ và không hề thấy phiền phức nếu anh ta lúc nào cũng say rượu.
“Còn gì nữa không?” tôi hỏi.
“Chú muốn hỏi về tên cảnh sát còn lại, Sam Tillman phải không? Ông ta cãi nhau với vợ và phải ngủ trên ghế sofa suốt 2 đêm vừa rồi.”
“Nick, nghe chú nói ngày. Đừng ngó qua cửa sổ nhà Tillman vào ban đêm nhé, kẻo cháu sẽ bị bắn đấy.”
Cậu bé gạt bỏ sự lo lắng của tôi bằng một cái tặc lưỡi. “Cháu còn chưa kể với chú điều hay ho nhất,” cậu nói. “Rhiner ở lì trong nhà, đúng không? Nhưng sáng nay thì khác. Hắn ra khỏi nhà, vứt một túi rác to trên vỉa hè. Một đống vỏ chai rỗng. Nửa tiếng trước, cháu lại nhìn thấy hắn. Lúc đó, hắn khóa cửa và chui vào xe, mang theo một vật cuốn trong giấy báo. Cháu chưa rõ đó là gì. Giờ hắn đi rồi. Thế đã đủ thú vị chưa?”
Cậu bé không cho tôi thời gian trả lời. “Cháu nghĩ lão cảnh sát trưởng cũng đi vắng,” cậu nói. “Không thấy ô tô của lão ở nhà hay ở văn phòng.”
Tôi chuyển điện thoại từ tai nọ sang tai kia. “Được rồi, Nick. Chú rất vui vì được biết những thông tin này. Nhưng giờ cháu phải ngừng lại...”
“Sao lúc nào chú cũng nói vậy thế?” Qua điện thoại, tôi vẫn có thể nhận ra sự sốt ruột của cậu bé. “Còn vợ chú thế nào rồi? Có phải cô ấy đã bảo lãnh cho Kyle Scudder không?”
Tôi bỏ chân xuống khỏi bàn. “Cháu đang nói gì thế?”
“Chú không biết à?” Nick nói. “Họ thả Kyle rồi. Chắc là giờ họ đã biết anh ta không phải thủ phạm giết cha cháu. Anh ta được trả tự do tối qua. Tất cả cáo buộc đều bị rút lại. Cháu đoán có lẽ vợ chú đã làm gì đó.”
Elizabeth chưa nói gì về việc này cả.
“Có lẽ là do cuộc biểu tình phản đối của mẹ cháu đấy,” tôi nói.
“Không. Nó đâu có diễn ra.”
“Dù sao đi nữa, chuyện kết thúc rồi. Giờ cháu có thể nghỉ ngơi và để mặc đám cảnh sát.”
“Nhưng cha cháu đã chết, cả Terry nữa. Chẳng ai quan tâm đến chuyện đó cả. Giữa chú và cháu, mỗi người hiểu ‘kết thúc’ theo một cách khác nhau.”
Tôi định khuyên cậu bé ngừng lại thêm một lần nữa, nhưng cậu đã dập máy. Khi gọi lại, tôi được nối với hòm thư thoại: Xin hãy để lại lời nhắn và có thể tôi sẽ gọi lại sau. Tôi đoán tranh cãi với cậu bé cũng chỉ như nói chuyện với bức tường, hoặc với một thiếu niên 15 tuổi. Tôi nhắn cậu hãy cẩn trọng.
Rồi tôi trở lại với bản thảo đang chỉnh sửa, nhưng chỉ được một lúc, tôi lại nhận thêm một cú điện thoại nữa, lần này là từ máy để bàn.
“Tòa soạn Gray Streets xin nghe.”
“Tôi có thể nói chuyện với anh David Loogan được không?” một giọng phụ nữ cất lên.
“Là tôi đây,” tôi nói.
“À, anh Loogan đấy sao? Tôi đã đọc tạp chí của anh và tôi phải thú nhận rằng nó thực sự rất quyến rũ.”
“Quyến rũ?”
“Tôi đặc biệt thích một truyện tên là - gì nhỉ? À, đúng rồi - ‘Sát Thủ Trong Ánh Nắng.’ Thật tuyệt vời. Đúng là đểnh cao.”
Bà ta có vẻ bốc đồng, qua điện thoại có thể nghe thấy tiếng gió vun vút. Tôi mường tượng cảnh bà ta đang lướt đi trên một chiếc xe mui trần, một tay lái xe còn tay kia cầm điện thoại.
“Xin lỗi. Bà vừa nói đểnh cao à?”
Bà ta cứ thế thao thao bất tuyệt như thể không nghe thấy tôi nói gì. “Phải nói là tạp chí Gray Streets đã khiến tôi say mê. Chắc chắn tôi phải làm gì đó để ủng hộ tòa soạn mới được.”
“Tôi rất hân hạnh được ghi tên bà vào danh sách đặt báo.”
Giọng cười của bà ta cao vút và mỏng như pha lê. “Đặt báo? Ồ, anh Loogan à, tôi tin là mình có thể làm được nhiều hơn thế.”
“Xin bà thứ lỗi,” tôi nói. “Hình như ban nãy tôi chưa được nghe tên bà.”
“Thì tôi đã nói đâu. Tôi là Amelia Copeland.”
Amelia Copeland, chính là người phụ nữ trong buổi tiệc hôm Chủ nhật đã nói Callie Spencer còn quá trẻ để ứng cử vào Thượng viện, cũng là người quản lý quỹ tài trợ các hoạt động nghệ thuật.
Bác ấy cứ uống rượu vào là lại u sầu lắm, Callie đã nói vậy. Tôi chỉ dám phỏng đoán là giờ bà ta đang tỉnh táo. Sự chuyển biến đúng là khó tin.
“Giờ thì, anh Loogan,” bà ta nói, “chúng ta cần ngồi lại bàn bạc với nhau chuyện này. Hiện tôi đang vội, nhưng anh cứ gọi cho trợ lý của tôi để hẹn một buổi ăn trưa vào tuần sau.” Bà ta đọc liến thoang số điện thoại. “Anh sẽ gọi chứ?”
“Chắc chắn rồi.”
“Tuyệt vời. Ta-ta.”
Tôi chưa kịp hỏi xem Amelia có thực sự nói Ta-ta hay không thì bà ta đã dập máy. Tôi đặt ống nghe xuống và cố quay lại chỉnh sửa bản thảo, nhưng tôi không tài nào tập trung được. Tôi đoán Callie đã khiến Amelia Copeland để ý tới tờ Gray Streets. Tôi tự hỏi cô ấy đã làm thế trước hay sau buổi viếng thăm của tôi và Lucy. Động cơ của côấy là gì? Liệu tôi có nên gọi điện hỏi thẳng cô ấy không? Tới lúc đó, tôi quyết định nghỉ giải lao, khóa cửa văn phòng, sang bên kia đường nhấm nháp bánh sandwich trong quán Café Felix.
Trở lại bàn làm việc sau nửa tiếng, tôi cắm đầu làm thêm được tám trang nữa. Đến đoạn này, tay thám tử đã tìm được cô gái nắm quyền thừa kế trong một khách sạn ở Los Angeles và báo cho cô ta biết mình có nghĩa vụ đưa cô về gặp cha ở Chicago - nhưng hắn ta cũng chẳng phải người coi trọng nghĩa vụ nghề nghiệp cho lắm và bọn họ có thể thương lượng. Tôi đang sửa đến đoạn hai người đàm phán sôi nổi thì điện thoại bàn lại reo.
“Tòa soạn Gray Streets xin nghe.”
“Anh Loogan đó à? Alan Beckett đây.”
Tôi cảm thấy điều này thật khó tin. Giọng nói của ông ta đầy sự vui vẻ phấn khởi. Từ trước tới giờ, tôi toàn thấy ông ta có vẻ mỉa mai khó chịu thôi.
“Tôi có thể giúp gì cho ông?” tôi hỏi.
“Có việc này tôi muốn bàn với anh.”
“Việc gì thế?”
“Nói chuyện trực tiếp thì tốt hơn. Tôi sẽ tới văn phòng anh sau 5 phút nữa.”
“Được rồi.”
Tôi dập máy và cầm lấy cây bút chì, gạch đi vài tính từ không cần thiết trong bản thảo. Rồi tôi lấy điện thoại di động gọi cho Lucy Navarro.
Cô ta nhấc máy sau hai hồi chuông. “Chào Loogan.”
“Cô vẫn đang phục ở đường Bedford à?” tôi nói.
“Vẫn ở chỗ cũ thôi.”
“Con rùa có chui ra lần nữa không?”
“Tôi chưa thấy nó đâu cả. Có việc gì thế?”
“Tôi cũng không dám chắc. Cô có biết Alan Beckett không? Ông ta là cố vấn của Callie Spencer.”
Giọng cười của cô ta có vẻ gì đó tinh quái lạ lùng. “Tôi biết ông ta rõ lắm,” cô ta nói.
“Ông ta đang trên đường tới đây gặp tôi. Lần này, giọng ông ta lại khá thoải mái và dễ gần. Tôi lo rằng không khéo người ta sẽ tìm thấy xác tôi dưới một mương nước nào đó mất.”
Tôi nghe tiếng cô ta thở dài. “Tôi đã đoán chuyện này thể nào cũng xảy ra,” cô ta nói. “Sau khi anh rời khỏi đây, tôi đã nói chuyện với ông ta. Hình như tôi đã làm ông ta thất vọng lắm. Thế nên ông ta mới tới chỗ anh.”
“Ông ta muốn gì chứ?”
“Rồi anh sẽ biết. Cố gắng phản kháng nếu có thể. Và đừng để bị cám dỗ nhé.”
❀ ❀ ❀
[1] Loại whiskey nấu bằng mạch nha từ một lò nấu rượu duy nhất (đơn cất), không pha lẫn từ nhiều xưởng rượu khác nhau (phối trộn), thường đắt tiền và được coi trọng hơn.