Sáng thứ Sáu, Lucy Navarro vẫn mất tích, còn Anthony Lark thì vẫn tự do.
Callie Spencer xuất hiện trên TV.
Trên chương trình buổi sáng, họ phỏng vấn cô ấy qua vệ tinh. Tôi ngủ muộn nên bỏ lỡ chương trình đó, nhưng buổi chiều tôi xem lại trên mạng Internet.
Buổi phỏng vấn tập trung vào Lark. Trước đó, các phóng viên đã xâu chuỗi lại câu chuyện qua những cuộc phỏng vấn mẹ và bạn bè hắn. Người ta cảm thấy hắn là một người không may bị cuốn vào con đường tội ác bởi ý thức lệch lạc về lẽ công bằng. Câu chuyện càng hấp dẫn hơn khi có một cô gái xinh đẹp làm trung tâm. Ai đó đã lục lại những đoạn video ghi hình Lark và Susanna Marten tại dạ hội của trường trung học. Susanna tóc vấn cao, bận một bộ váy xanh dương, vừa cười vừa vẫy tay về phía ống kính.
Callie Spencer nói với phóng viên rằng những chuyện xảy ra với Susanna Marten đã quá phổ biến. Một phụ nữ trẻ đầy tiềm năng trở thành nạn nhân của tình trạng bạo lực gia đình. Callie biết vô số phụ nữ giống như Susanna sau nhiều năm làm ở phòng công tố. Cô ấy biết bạo lực gia đình có thể gây ra những tổn thương như thế nào cho nạn nhân, bạn bè và gia đình họ.
Cô ấy thông cảm với Lark, với sự phẫn nộ của hắn sau những gì đã xảy ra với Susanna - mặc dù cô lên án hành vi tội ác của hắn. Callie thấy buồn vì Lark đã gắn mình với bi kịch của gia đình cô ấy, dồn mối hằn thù lên những kẻ đã cướp ngân hàng Great lakes 17 năm trước. Dường như cô ấy mặc định Lark là người gây ra cái chết của Walter Delacorte, người mà cô ấy miêu tả như bạn thân của cha mình.
Mãi tới cuối buổi phỏng vấn, phóng viên mới nhắc tới việc Lark bắn tôi (“một biên tập viên tạp chí địa phương”) bên ngoài khách sạn Winston - và Lucy Navarro mất tích gần như cùng lúc đó. Callie bày tỏ mong muốn cảnh sát sẽ tìm được Lucy trong tình trạng an toàn. Khán giả sẽ có cảm giác chính Lark là người đã bắt cóc cô ta.
Xem xong buổi phỏng vấn, tôi thấy thán phục màn trình diễn của Callie. Tuy khán giả không thể nhớ hết những chi tiết cụ thể, họ vẫn sẽ nhớ rằng Callie Spencer là người biết suy nghĩ và đầy quyết tâm. Có thể họ sẽ quên đi cái tên Anthony Lark, nhưng họ sẽ nhớ thế giới này đầy rẫy hiểm nguy và ý nguyện chân thành của Callie là đem lại sự bình yên cho mọi người.
Lark xem buổi phỏng vấn Callie Spencer qua màn hình TV 13 inch trong khách sạn ở South Bend, Indiana.
Khi nhìn thấy video của Susanna Marten trong buổi dạ hội, hắn tưởng như mình có thể chết ngay tại đó. Trí nhớ của hắn về nàng đã dần phai mờ. Hắn đã bỏ nó lại phía sau, trên bức tường dưới hầm nhà mẹ mình. Nhưng khi những hình ảnh trên màn hình hiện ra, mọi kỉ niệm chợt ùa về. Nàng từng là con người bằng xương bằng thịt trên cõi đời này và hắn đã ở bên nàng.
Đó không phải lần đầu hắn có ý nghĩ đó. Lần đầu là vào một đêm cách đây 3 năm, trong phòng ngủ tại nhà cha nàng. Susanna nằm trên chiếc giường trải ga trắng, đôi chân trần bắt chéo, hai tay khoanh lại trên bụng. Môi nàng hé mở, đôi mắt mở trân trân. Một lọ thuốc ngủ rỗng không đặt bên cạnh. Hắn quỳ bên giường mà khóc. Mới cách đây vài tiếng, nàng vẫn còn sống và hắn đã bên nàng.
Giờ hắn ngồi trên ghế khách sạn, cảm nhận nỗi đau choán đầy lồng ngực. Những lời của Callie Spencer hắn chỉ nghe loáng thoáng. Cô ấy không đồng tình với hành động của hắn. Điều này làm hắn thất vọng, nhưng không sao. Cô ấy đâu có hiểu bọn chúng là mối đe dọa lớn như thế nào - Dawtrey, Kormoran và Bell. Susanna cũng không nhận ra sự nguy hiểm trong con người Derek Everly, ngay cả khi những chứng cớ rành rành được khắc dấu trên thân thể nàng, những vết bầm tím chuyển sang thâm đen. Nàng chỉ hiểu ra sự thật khi Everly khiến cha mình phải ngồi xe lăn. Lúc đó thì đã quá muộn.
Lark đã nhìn thấy mối nguy đó từ đầu, nhưng hắn lại phạm phải tội lỗi khác. Đó là sự trì hoãn và tính do dự, hắn đã chờ đợi quá lâu để thực hiện những điều đúng đắn.
Hắn không quan tâm Callie Spencer có đồng tình với mình hay không. Hắn đứng lên và bước ngang qua phòng, chân trái hơi khập khiễng - bên chân mà Loogan đã đập vào cánh cửa chiếc Beetle màu vàng. Tuy thế, hắn đã bớt cà nhắc hơn, chỗ sưng đã xẹp bớt.
Hắn vào phòng tắm và uống một viên Keflex với nước trong chiếc cốc nhựa. Hắn nhìn mình trong gương. Bộ râu đã 2 ngày chưa cạo phủ trên quai hàm cứng cáp. Những nếp nhăn in trên trán. Không còn vẻ gì giống với cậu bé yếu ớt trong video buổi dạ hội nữa.
Hắn sẽ nghỉ thêm 1 ngày nữa cho cái chân lành hẳn, nhưng sau đó hắn phải đi ngay. Hắn đã chờ đợi quá lâu rồi. Ngày mai, hắn sẽ trở lại Ann Arbor để giải quyết nốt Sutton Bell.
Paul Rhiner bị đánh thức bởi tiếng ngáy.
Họ để anh nằm trong phòng đôi. Bệnh nhân ở giường bên kia vừa mới trải qua một ca phẫu thuật. Có lẽ họ đã xới hết nội tạng anh ta ra rồi, Rhiner nghĩ, vì tiếng ngáy nghe rất trầm và trống rỗng, như thể gió thổi qua hầm ngầm dưới lòng đất.
Cứ vài tiếng lại có một y tá bước vào với một ống tiêm. Cô ta búng vào thành xi lanh cho ra hết bọt khí rồi tiêm vào ống truyền của người đàn ông đang ngáy kia.
Rhiner cũng có túi truyền. Họ đã truyền thuốc giảm đau loại mạnh khiến anh buồn ngủ. Nhưng Rhiner không muốn ngủ. Cứ hễ nhắm mắt lại, anh lại nhìn thấy những điều kinh khủng. Anh thấy Terry Dawtrey nằm trên bãi cỏ bên sườn đồi nghĩa trang Whiteleaf. Dawtrey thở hổn hển, máu đầm đìa trên ngực áo trắng. Máu sủi bọt qua vết đạn trên cổ gã.
Rhiner thấy Walter Delacorte trong căn hộ của Lark. Khoảnh khắc thanh nạy lốp xe đâm ngập vào da thịt Delacorte. Miệng ông ta há ra để thét lên.
Mỗi lần y tá vào, họ lại yêu cầu Rhiner đánh giá cơn đau của mình trên thang điểm từ 1 tới 10. Anh nói dối một con số thật thấp. Rhiner không muốn họ tăng liều lên chút nào. Anh không muốn ngủ.
Một bác sĩ dừng lại để nói cho anh biết về tình trạng bàn tay. Các ngón tay chưa thể cử động bình thường được. Sau khi trải qua ca phẫu thuật và quá trình vật lý trị liệu, bàn tay anh mới có thể hồi phục hoàn toàn được. Rhiner cũng nên nghĩ tới việc phẫu thuật thẩm mỹ cái mũi gãy của mình.
Rhiner gật đầu đồng ý và ông bác sĩ bỏ đi. Đúng lúc đó, Rhiner thoáng thấy viên cảnh sát mặc đồng phục trong hành lang. Lúc nào cũng có một người đứng canh trước cửa phòng bệnh.
Shan, viên thám tử gốc Á, đã tới gặp anh hai lần. Anh ta muốn biết chuyện gì đã xảy ra trong căn hộ của Lark. Rhiner suýt chút nữa đã thú nhận rằng chính mình đâm chết Walt. Đó là một tai nạn. Có lẽ họ sẽ không bao giờ đưa anh ra tòa. Dù có đi nữa, một luật sư giỏi có thể giúp anh thoát tội. Sau khi bác sĩ chữa lành bàn tay và cái mũi, anh có thể coi như chưa có chuyện gì xảy ra. Nhưng vấn đề là anh không thể chợp mắt được.
Y tá bước vào với một ống tiêm thuốc dành cho người đàn ông ở giường bên. Cô ta búng tay vào ống tiêm. Bọt khí sót lại trong đó rất nguy hiểm, có thể gây chết người nếu đi vào mạch máu.
Rhiner nhìn cô ta, nhưng ngay cả khi tỉnh táo như hiện giờ, anh vẫn thấy khuôn mặt của Walter Delacorte cùng nỗi sợ hãi trong đôi mắt khi ông ta nằm giữa vũng máu trên sàn.
Sau khi cô y tá đi khỏi, Rhiner nhìn ống truyền nối với tay mình, tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra khi anh cắn xuyên qua thành ống rồi tự thổi bọt khí vào mạch máu mình.
Không, anh nghĩ. Quá phiền phức. Tốt hơn là dùng cách nào anh biết chắc sẽ có tác dụng.
Rhiner xoay nghiêng sang bên không bị gãy xương sườn. Anh chậm chạp ngồi dậy trong khi cơn đau lan khắp cơ thể. Trán anh vã mồ hôi. Rhiner mở ngăn kéo bên cạnh mình, lờ đi những giọt nước mắt đang lăn trên má. Họ để lại quần áo anh trong đó - ít nhất là một vài món. Không có áo sơ mi hay áo gió, mà là đôi giày và chiếc quần.
Dải thắt lưng.
Chiều thứ Sáu, Elizabeth đứng bên dãy cửa sổ gần bàn làm việc của mình trong Tổ Điều tra. Nhiệt độ bên ngoài là 32°C. Như thường lệ, máy điều hòa trong tòa nhà lại quá lạnh. Trong phòng, cảm giác như chỉ có 10°C.
Cô nhìn xuống dòng xe cộ tấp nập trên đại lộ Fifth - mọi người đi nghỉ cuối tuần sớm. Vài sinh viên mặc áo cộc tay và quần soóc đi tản bộ. Một thanh niên đứng bên kia đường, trước trạm cứu hỏa, bận quần jeans và áo cổ lọ màu đen. Mái tóc đen vuốt ngược ra sau trên vầng trán cao trắng trẻo.
Elizabeth nghe tiếng những ngón tay Carter Shan gõ trên bàn phím. Anh đang đánh máy bản tường trình cuộc nói chuyện với mẹ của Anthony Lark hôm trước.
Cô nói mà không quay đầu lại, “Anh nghĩ sao nếu tôi nói cho anh biết có một cậu nhóc bên kia đường, khoảng 22 tuổi, mặc toàn đồ đen?”
Tiếng gõ bàn phím vẫn không ngừng. “Tôi sẽ nghĩ chúng ta đang sống trong một thành phố đầy sinh viên.”
“Nhưng ăn mặc như vậy trong thời tiết này thì quá nóng. Hẳn là cậu ta đang bốc hỏa.”
“Có lẽ sự trống rỗng trong tâm hồn khiến cậu ta thấy mát mẻ.”
Cô chạm tay lên cửa kính đầy nắng. “Anh nghĩ sao nếu cậu ta xách theo một chiếc túi bowling?”
“Tôi sẽ nghĩ có lẽ cậu ta xách theo một đầu người.” Tiếng gõ bàn phím của Shan ngưng bặt. “Có thật là cậu ta mang túi bowling không?”
“Không, nhưng cậu ta đeo một cái ba lô. Anh có thể bỏ đầu người trong ba lô cũng được mà.”
Họ đã dành cả buổi sáng ở nhà Helen Lark để lục soát những món đồ của cậu con trai và chụp ảnh “điện thờ” của hắn dành cho Susanna Marten và Callie Spencer. Ngoài sự đồng ý của chính Helen, họ cũng có lệnh khám nhà đề phòng ai đó khiếu nại sau này.
Sở cảnh sát tại Dearborn đã cam kết theo dõi căn nhà, nhưng Elizabeth không tin Lark sẽ xuất hiện ở đó. Giờ hắn vẫn đang im hơi lặng tiếng. Miêu tả nhân dạng và chiếc xe của hắn đã được phổ biến cho tất cả các sở cảnh sát tại Michigan và những vùng lân cận.
Lúc 1 giờ, Elizabeth và Shan cùng vài thám tử khác họp với chỉ huy McCaleb trong văn phòng của ông. McCaleb báo tin Paul Rhiner đã tự sát. Một y tá sau khi thấy giường của Rhiner trống không đã ra kiểm tra phòng tắm và thấy anh ta treo cổ bằng dây lưng trên một cái móc sau cửa.
“Tôi vừa liên lạc với chỉ huy sở cảnh sát hạt Chippewa,” McCaleb nói. “Ông ta tỏ vẻ lo lắng. Chỉ trong 3 ngày, ông ta đã mất hai người, trong đó có cảnh sát trưởng. Ông ta tin rằng Walter Delacorte là một người hùng đã hi sinh trong khi truy bắt kẻ sát nhân. Niềm tín này sẽ càng được củng cố nếu chính Lark đã đâm chết ông ta. Liệu có khả năng đó là sự thật không?”
Elizabeth lắc đầu. “Phòng giám định chỉ tìm được hai dấu vân tay của Delacorte và Rhiner trên thanh nạy lốp xe. Không có dấu vân tay nào của Lark. Điều này cho thấy Delacorte và Rhiner đã xoay ra cãi nhau.”
“Vậy hai người đó cãi vã xem phải làm gì với Lark?” McCaleb hỏi.
“Đó là lời giải thích hợp lý duy nhất.”
“Chúng ta đã biết Rhiner bị cắn rứt thế nào khi phải bắn Terry Dawtrey ở nghĩa trang Whiteleaf,” McCaleb nói. “Anh ta coi Lark là kẻ đã gây ra tất cả chuyện này. Có thể nào anh ta muốn giết hắn không?”
“Nếu chuyện xảy ra đúng như vậy thì thật đơn giản,” Elizabeth nói. “Nó sẽ làm cho chỉ huy sở cảnh sát Chippewa hài lòng - thanh danh Delacorte vẫn được toàn vẹn.”
“Nhưng cô thì không tin.”
“Không. Khi gặp mặt tôi tuần trước, Walter Delacorte khăng khăng phủ nhận Lark đã có mặt ở nghĩa trang. Vậy mà ông ta lại bỏ bao nhiêu công sức truy tìm hắn mà không tiết lộ cho ai biết. Tôi không nghĩ là ông ta thực sự có ý định bắt hắn.”
“Động cơ của Delacorte là gì? Tại sao phải bám theo Lark?”
“Hiện giờ chúng ta chưa thể biết được,” Elizabeth đáp.
Owen chống khuỷu tay lên mặt bàn, hai tay vuốt mặt. “Thôi được,” ông nói. “Tạm gác việc đó lại. Tôi muốn nghe báo cáo về vụ cô phóng viên kia.”
Ron Wintergreen và Harvey Mitchum phụ trách tìm kiếm Lucy Navarro. Họ chẳng hợp cạ chút nào. Wintergreen mới 31 tuổi, cao gầy, nghiêm nghị và ít nói. Trong khi đó, Mitchum hơn đồng sự tận 20 tuổi, có vóc người mập mạp, lúc nào cũng xởi lởi. Wintergreen đã liên lạc với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông cho Lucy với hi vọng có thể dựa vào tín hiệu điện thoại mà tìm ra cô ta. Nhưng hẳn điện thoại của cô ta đã bị tắt, phá hỏng hoặc hết pin. Không có chút tín hiệu nào.
Mitchum đã liên lạc được với cha mẹ Lucy - một công việc quá khó khăn so với dự kiến. Ông ta đứng cạnh bàn cảnh sát trưởng, hai tay chắp sau lưng, báo cáo rằng họ đang du ngoạn ở Hy Lạp bằng du thuyền trên biển Địa Trung Hải. Trong suốt 2 tuần đi du lịch trước đó và 1 tuần trên du thuyền, họ không liên lạc với con gái.
“Đương nhiên là họ rất lo lắng,” Mitchum nói. “Họ định đáp máy bay về nhà sớm nhất có thể.”
Biên tập viên của Lucy tại tờ National Current chẳng giúp ích được gì. Anh ta nói mình đã không nhận được thì gì từ cô phóng viên suốt 1 tuần rồi. “Hồ sơ lược sử cuộc gọi của cô ta xác nhận điều này,” Mitchum nói thêm.
Hồ sơ này cũng ghi lại các cuộc gọi của cô ta tới nhà tù Kinross hồi đầu năm, có lẽ là để gặp Terry Dawtrey, cùng các cuộc gọi cho Henry Kormoran và Sutton Bell. Số máy của David Loogan xuất hiện vài lần trong mấy ngày gần đây - cả số điện thoại di động lẫn số máy ở tòa soạn Gray Streets. Cuộc gọi cuối cùng của Lucy là tới văn phòng của Loogan hôm thứ Tư.
“Ngoài ra còn vài cuộc gọi tới California,” Mitchum nói. “Cô ta vẫn liên lạc với bạn bè ở nhà, nhưng từ hôm thứ Tư tới giờ không ai nhận được tin tức gì cả.”
Họ đã lục soát phòng của Lucy ở khách sạn Winston nhưng không tìm được thứ gì đáng chú ý. Mitchum và Wintergreen cũng phỏng vấn nhân viên và khách thuê phòng, không ai biết chuyện gì đã xảy ra với Lucy tối thứ Tư. Wintergreen đã liên lạc với viên quản lý hãng Coleman Trucking. Sau khi vất vả thương lượng, cuối cùng anh ta cũng được phép liên lạc với người tài xế chiếc xe 18 bánh mà Loogan nhìn thấy trong bãi đỗ của khách sạn.
“Tên anh ta là Sullivan,” Wintergreen nói. “Khi đó, anh ta rời khỏi đường cao tốc và tạt vào bãi đỗ để nói chuyện điện thoại với vợ. Vợ anh ta phàn nàn lúc nào chồng cũng vắng nhà, rồi chuyện con cái và tiền nong. Khi tôi vặn hỏi, anh ta khai rằng đã nhìn thấy chiếc xe màu vàng và một người đàn ông vẫy tay ra hiệu cho mình đánh xe qua chỗ khác. Người đó phù hợp với mô tả về Lark. Nhưng anh ta chỉ nhớ được có thế vì bị phân tâm bởi cuộc nói chuyện điện thoại. ‘Cứ thử nghe vợ tôi càu nhàu thì anh sẽ hiểu,’ anh ta bảo vậy.”
Wintergreen nhún vai. “Tôi đã kiểm tra hồ sơ người này. Không có tiền án tiền sự. Tôi nghĩ anh ta chẳng liên quan gì tới Lucy Navarro cả. Không thể khai thác được gì nữa.”
Lúc 2 giờ, cuộc họp giải tán. Trong khi Shan hoàn thành nốt bản báo cáo, Elizabeth bước từ chỗ cửa sổ trở lại bàn làm việc của mình. Helen đã gửi cho cô danh sách bạn bè và người quen của Lark. Elizabeth và Shan đã phỏng vấn vài người và dự định sẽ quay lại Dearborn nói chuyện với những người còn lại trong danh sách.
Khi xuống cầu thang, đi qua tiền sảnh rồi bước ra ngoài giữa tiết trời nóng bức, Elizabeth thấy chàng trai mặc đồ đen vẫn lượn lờ trước trạm cứu hỏa, chiếc ba lô đặt dưới chân.
Cô nói với Shan là mình sẽ ra xe sau rồi băng qua đường. Cậu thanh niên nhìn chằm chằm vào cô rồi đưa tay lên vuốt mái tóc đen mượt. Khi cô tới gần, cậu bước lên đứng trước chiếc ba lô như để ngăn cô khỏi nhìn thấy nó.
“Cậu đang chờ ai à?” cô hỏi.
Môi cậu hé mở để lộ hàm răng. “Không.”
“Tôi có thể giúp gì cho cậu không?”
Cậu nhìn qua vai cô về phía Tòa thị chính. “Chị là cảnh sát đúng không?”
Cô gật đầu.
“Em đã suy nghĩ bao nhiêu lâu,” cậu nói, “cố gắng đưa ra quyết định.”
Cô chờ đợi. Shan đứng cách đó vài bước chân. Anh đã đi theo cô thay vì ra xe ô tô.
“Giờ khi đến đây, em lại không chắc chắn nữa,” cậu nói tiếp.
Cậu dùng chân đẩy chiếc ba lô về phía tường trạm cứu hoả.
“Cậu muốn khai báo gì à?” Elizabeth hỏi.
“Cũng còn tùy. Chị đang điều tra vụ E. L. Navarro mất tích phải không?”
Elizabeth nhìn vầng trán trắng trẻo lấm tấm mồ hôi của cậu.
“Ý cậu là Lucy Navarro?”
Một tia sáng lạ lùng lóe lên trong mắt cậu ta. “Chị đừng gọi cô ấy là Lucy,” cậu nói. “Như vậy thật bất kính.”
“Cậu biết gì về cô ta?” Elizabeth hỏi.
Lưỡi cậu lướt qua răng cửa.
“Em biết tất cả,” cậu đáp. “Em đã giết cô ấy.”