Đường ngắn nhất tới Brimley là qua cao tốc I-75 và đường 28. Elizabeth chọn con đường có phong cảnh đẹp hơn, xuyên qua vùng nông thôn rậm rạp cây cối, rẽ vào đường West Six Mile qua công viên Brimley. Lucy Navarro bám sát chúng tôi trên chiếc Beetle màu vàng.
Chúng tôi đi xuống phía nam, qua trung tâm thị trấn, rồi rẽ về hướng tây tới con đường không trải nhựa dẫn đến một nông trại cải tạo thành nhà ở với ống khói lớn vuông vức và mái nhà thoải dốc. Sau đó, chúng tôi rẽ vào nhà, Lucy thì vẫn đi tiếp.
Elizabeth đã gọi điện đến đó trước. Madelyn Turner đón chúng tôi ở ngoài cửa rồi dẫn cả hai vào phòng khách. Một lò sưởi đá với bệ gỗ sồi choán phần lớn không gian phòng.
Bà ta mời chúng tôi ngồi xuống chiếc ghế sofa da rồi đem tới vài ly nước chanh. Nhưng bà ta chưa kịp ngồi xuống, một cậu bé đã ló ra từ một phòng khác trong nhà. Cậu cao khoảng 1,65 mét, sở hữu mái tóc đen và khuôn mặt lốm đốm tàn nhang. Bà ta giới thiệu đó là con trai mình, Nick, và thì thầm gì đó vào tai cậu bé. Thế là cậu lại chạy vụt ra ngoài. Một lúc sau, có tiếng cửa đóng sập lại và qua cửa sổ, tôi có thể thấy cậu bé đã ra tới sân.
Người mẹ ngồi xuống một chiếc ghế bành và nói, “Tôi không muốn Nick nghe chúng ta nói chuyện. Nó rất đau khổ vì cái chết của cha mình và cả Terry nữa. Thật là quá sức chịu đựng đối với một đứa trẻ.”
Elizabeth rướn người ra trước, chống khuỷu tay lên đầu gối. “Theo tôi được biết, cậu bé là người đầu tiên tìm thấy thi thể cha mình.”
“Giá mà tôi không để nó đến đó một mình,” Madelyn Turner nói. “Nhưng nó yêu quý Charlie lắm. Tôi có muốn cản cũng chẳng được. Thằng bé đi xe đạp khắp nơi, mà Charlie chỉ sống cách đây khoảng 3-4 cây số thôi.”
“Bà và Charlie Dawtrey quen nhau như thế nào?”
Madelyn với lấy bao thuốc lá trên bàn nhưng lại thôi.
“Chuyện bắt đầu sau vụ cướp ngân hàng,” bà ta kể, “khi họ đem Terry ra xét xử. Charlie đến tòa hàng ngày. Cứ vào giờ giải lao buổi trưa, ông ấy lại ra ngồi trên ghế băng ở công viên gần đó. Hồi ấy, tôi còn làm ở một cửa hàng quần áo ở Sault Sainte Marie. Những ngày đẹp trời, tôi hay ra công viên ăn trưa. Vậy là một hôm chúng tôi tán gẫu với nhau, rồi sau đó chuyện trở nên sâu sắc hơn.”
“Tôi thấy ông ấy hơn bà khá nhiều tuổi,” Elizabeth nhận xét.
“Tôi lúc nào cũng bị thu hút bởi những người đàn ông lớn tuổi,” Madelyn nói. “Thường thì họ có thể dành cho tôi nhiều thứ hơn. Thời trẻ, tôi có khối chuyện hay ho, thường là với những người nhiều tuổi hơn mình. Nếu còn tâm trí, tôi có thể kể cho cô nghe nhiều kỉ niệm lắm.”
Chuyện chẳng có gì là khó tin cả. Mái tóc sẫm màu của bà ta đã điểm bạc ở chân tóc, nhưng đôi mắt vẫn còn tinh anh. Bà ta có gò má cao, quai hàm vẫn khá sắc nét tuy không còn nổi bật như xưa. Bộ trang phục - áo len móc, váy dài tới gối - bó hơi sát người nhưng nó gợi nhớ tới thân hình mà người phụ nữ này sở hữu khi còn trẻ.
“Charlie là một người đáng yêu, nhưng lúc nào cũng buồn rầu,” bà ta nói. “Dĩ nhiên là vì lo lắng cho con trai. Ban đầu, tôi thấy thương ông ấy, muốn làm gì đó để giúp đỡ. Nhưng tôi cũng cần nhận lại gì đó chứ. Tôi là một góa phụ và thế là chúng tôi giúp đỡ lẫn nhau.”
“Nhưng hai người không bám trụ được với nhau,” Elizabeth nói.
“Không. Khi Terry phải ngồi tù, Charlie đã rất đau khổ. Tôi tưởng mình có thể cải thiện tình hình bằng cách sinh cho ông ấy một đứa con. Sau khi có Nick, tôi cứ ngỡ Charlie sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn. Nhưng không phải vết thương nào cũng có thể lành được.”
Madelyn nhìn qua cửa sổ. Ngoài sân, tôi có thể thấy cậu con trai đang chơi trên một chiếc lốp xe cũ treo dưới cành cây đu bằng một sợi dây thừng.
“Chúng tôi li dị, rồi tôi tái hôn - với Alden Turner. Chính ông này đã giúp nuôi dạy Nick và để lại cho chúng tôi ngôi nhà hiện giờ. Nhưng Charlie vẫn đóng vai trò không nhỏ trong cuộc đời con trai mình, nhất là sau khi Alden mất.”
“Cũng như ông ấy vẫn đóng vai trò không nhỏ trong cuộc đời bà?” Elizabeth hỏi.
“Thỉnh thoảng, tôi và Charlie vẫn hẹn nhau đi uống rượu và đùa bỡn. Năm tháng đã làm ông ấy trở nên khôn ngoan hơn. Nếu muốn, ông ấy cũng có thể là một người bạn tốt đấy.”
“Có phải đó là việc đã xảy ra vào đêm Charlie chết không - hai người hẹn nhau ở quán rượu?”
“Đúng thế.”
“Nhưng Kyle Scudder không đồng tình chút nào.”
Madelyn mím môi. “Kyle có tính ghen tuông, lại còn nóng nảy nữa. Anh ấy không biết gì về Charlie và Charlie cũng không có động thái gì để cải thiện tình hình cả. Ông ấy không ưa Kyle vì nghĩ rằng anh ấy có tính chiếm hữu cao quá.”
“Tôi vừa trao đổi với cảnh sát trưởng Delacorte sáng nay,” Elizabeth nói. “Ông ta nói bà đã thay đổi lời khai về diễn biến vụ việc đêm hôm đó. Đầu tiên, bà nói Kyle theo mình về nhà nhưng không ở lại, rồi sau đó bà lại nói anh ta đã qua đêm ở đây.”
Vẻ u ám lướt qua khuôn mặt Madelyn. “Khi tôi biết chuyện xảy ra với Charlie...” Giọng Madelyn khản đi và bà ta phải nói lại. “Nick đã gọi cho tôi khi nó tìm thấy cái xác và khi đến đó, tôi nhìn thấy... Tôi sẽ không bao giờ quên cảnh tượng đó. Nhiều giờ sau, cảnh sát trưởng mới hỏi tôi về Kyle, khi đó tôi đã kịp uống vài ly. Tôi đã rất giận dữ với Kyle về cách mà anh ấy đối xử với Charlie ở quán Cozy Inn. Tôi đã không suy nghĩ sáng suốt. Nhưng thực sự thì Kyle đã ở đây cả đêm. Chắc chắn anh ấy không phải thủ phạm giết Charlie.”
“Thế nhưng có thể anh ta mới là người vào tù vì chuyện đó,” Elizabeth nói.
“Tôi không tin. Rồi sự thật sẽ được làm sáng tỏ, công lý sẽ được thực thi. Không thể khác được.”
“Điều gì khiến bà chắc chắn thế?”
“Kyle là người vô tội. Với tôi vậy là đủ. Cô có nghĩ thế không?”
“Tôi cũng muốn thế,” Elizabeth nói, tay thọc vào túi xách của mình trên ghế sofa. “Thực ra, tôi tin rằng anh ta vô tội.” Cô lấy ra bản sao bức phác họa tên đàn ông mặc áo kẻ của Sarah. “Bà đã từng nhìn thấy người này chưa?”
Madelyn Turner không trả lời. Bà bước tới chiếc bàn trong góc phòng để tìm cặp kính. Ngoài sân, Nick Dawtrey đang đứng cạnh chiếc xích đu làm bằng lốp xe. Hình như cậu bé đang nhìn tôi. Tôi cầm cốc nước chanh lên và xin phép ra ngoài duỗi chân duỗi cẳng một chút.
Khi đi qua hành lang vào bếp, tôi bắt gặp một tấm cửa lưới mở ra sân. Bước vòng qua sân bên hông nhà, tôi đi tới chỗ cây đu. Nick đang đu đưa bằng đầu ngón chân, một tay quàng qua vòng tròn bên trong của chiếc lốp. Cậu bé bận áo sơ mi rộng và quần bò rách ở đầu gối.
Khi tới gần cậu bé, tôi có thể nhìn thấy Lucy Navarro phía đằng xa. Cô ta đứng cạnh chiếc xe Beetle bên lề đường, cuối một lối đi dài. Một chú chó lai giống spaniel đứng bên cạnh - bộ lông tả tơi màu nâu và trắng. Chú chó nghịch ngợm sủa ăng ẳng, đuôi ngoáy tít. Lucy đang đút cho nó những mẩu vụn lấy trong gói đồ ăn nhanh. Tôi nhìn cô ta xé một mẩu hamburger và tung lên không trung cho chú chó nhảy lên đớp.
Nick Dawtrey cũng nhìn theo. “Chú có quen cô ta không?” cậu bé hỏi.
Phía xa, tôi có thể nghe thấy tiếng Lucy cười. Chú chó nhảy bật trên hai chân sau.
“Không hẳn,” tôi đáp. “Con chó đó là của ai thế?”
“Nó là chó vô chủ,” Nick nói. “Cháu hay nhìn thấy nó quanh quẩn ở đây.”
Lucy đã lấy hết các mẩu vụn. Cô ta trải gói giấy ra bãi cỏ bên đường thành cái bát nhỏ rồi lấy chai nước đổ vào đó cho chú chó uống.
Bên cạnh tôi, Nick đã xuống khỏi chiếc xích đu và để nó đung đưa qua lại như quả lắc đồng hồ.
“Chú là cảnh sát à?” cậu bé hỏi.
Lúc ở trong nhà, cậu bé gần như chẳng nói gì cả khiến tôi tưởng cậu có tính nhút nhát. Nhưng giờ cậu tỏ vẻ khá tự tin.
“Chú là biên tập viên,” tôi đáp.
“Vậy vợ chú là cảnh sát à?” Ý cậu bé hỏi về Elizabeth. Tôi thấy chẳng cần đính chính lại làm gì.
“Phải.”
“Cô ấy là người vùng này?”
“Cô ấy đến từ Ann Arbor cơ.”
“Ý cháu là quê quán ấy. Cô ấy có phải người Ojibwa không?”
Tôi không chắc mình hiểu cậu bé đang hỏi gì. “Ý cháu là người Chippewa?”
“Là Ojibwa. Chỉ người da trắng mới gọi là Chippewa thôi.” “Chú không biết liệu cô ấy có phải người Ojibwa hay không.” Cậu bé nhìn tôi với vẻ thất vọng. “Chú phải tìm hiểu chứ.” “Có lẽ thế,” tôi nói.
Bên lề đường, Lucy đang rót thêm nước cho chú chó. Tôi ngoảnh lại nhìn Nick.
“Chú rất tiếc vì chuyện cha cháu,” tôi nói với cậu bé.
Cậu nhăn mặt. “Ai cũng nói thế cả. Chú biết gì về chuyện đó nào?” “Theo chú biết thì ông ấy bị sát hại.”
“Và chú chắc mẩm Kyle là thủ phạm.”
Cái chắc mẩm đó là từ đầu tiên chú bé nói hợp với độ tuổi 15.
“Thực ra thì chú không nghĩ thế.”
“Còn vợ chú thì sao?”
“Cô ấy cũng đồng tình với chú,” tôi đáp. “Cô ấy muốn điều tra xem thực sự chuyện gì đã xảy ra.”
Một tràng cười rộ lên, đượm vẻ già đời và chua chát. “Không,” cậu bé nói. “Cô ấy không muốn làm thế đâu.”
“Cháu nói thế nghĩa là sao?”
“Cô ấy là cảnh sát, mà cảnh sát bao giờ chẳng bao che cho nhau.”
Chiếc lốp xe chầm chậm quay tròn trong không trung.
“Cháu cho là cảnh sát đã sát hại cha cháu à?”
“Đương nhiên. Sao chú có vẻ ngạc nhiên thế?”
“Chú không tin là cảnh sát đi sát hại mọi người thế đâu.”
“Lại chỉ có người da trắng mới nói kiểu đó thôi.” Cậu phát âm từ kiểu thành kỉu.
“Mặt cháu có tàn nhang kìa,” tôi nói.
Tôi có thể thấy rõ câu nói này làm cậu bé bối rối.
“Thế thì sao ạ?” cậu hỏi.
“Thế nghĩa là cháu cũng là người da trắng như chú thôi. Cháu có thể thôi cái trò người da đỏ ấy được rồi. Sao cảnh sát lại giết cha cháu cơ chứ?”
“Chú thử nghĩ mà xem. Họ giết ông ấy để Terry đến dự lễ tang, rồi sau đó họ giết luôn Terry.”
“Terry cố tẩu thoát đấy chứ.”
Một cái nhún vai. “Nếu Terry không bỏ trốn thì họ cũng tìm ra lý do khác để giết anh ấy thôi.”
“Vậy cháu nghĩ là họ đã lên kế hoạch sát hại anh ấy từ trước?”
Cậu bé nhìn tôi như thể tôi làm cậu thất vọng lắm.
“Terry đã bắn một cảnh sát,” cậu nói. “Khiến ông ta phải ngồi xe lăn cả đời.”
“Chuyện đó cách đây 17 năm rồi.”
“Chú thực sự tin là những cảnh sát khác có thể quên đi mấy vụ việc kiểu đó?” Kỉu. ”Đã bao giờ chú gặp viên cảnh sát trưởng - Delacorte chưa?”
“Chú gặp rồi.”
“Chú tưởng rằng lão ta thấy hối hận vì đã để Terry bỏ chạy sao? Chú tưởng lão ta đang gắng sức tìm ra sự thật à? Chú có muốn vài bông hồng không?”
Tới lượt tôi bối rối. “Cái gì?”
Nick chỉ tay về phía ngôi nhà, tới một bụi hồng mọc cạnh sân. Lúc nãy, tôi đã đi ngang qua đó mà không để ý.
“Cháu sẽ cắt cho chú vài bông,” cậu bé nói. “Rồi chú có thể tặng lại vợ mình. Nếu chú thích kèm thêm vài lá dương xỉ, cháu sẽ lấy thêm cho.” Cậu bé chỉ tay về phía rặng cây. “Chỉ là cây dại mọc trong rừng thôi.”
Tôi nghĩ tới Terry Dawtrey và chiếc khóa còng ai đó đã để lại cho gã trên thảm cỏ nghĩa trang, với bình hoa hồng để đánh dấu.
“Cảnh sát trưởng có tới đây gặp mẹ cháu không?”
“Dĩ nhiên là có.”
“Cháu có tặng hoa cho ông ta không?”
Nick Dawtrey toét miệng cười. “Chú học nhanh đấy, ông chú da trắng ạ. Cháu có tặng, nhưng lão ta không muốn nhận. Nói nhỏ nhé, tuần trước cháu đi xe đạp tới Sault Sainte Marie. Văn phòng cảnh sát trưởng nằm trên phố Court. Suốt 1 tiếng đồng hồ, cháu đạp quanh dãy nhà đó hết vòng này đến vòng khác.”
Nhìn chiếc xe đạp dựng bên hông nhà, tôi chợt hiểu ý cậu bé. Hai băng vải màu vàng treo trên tay lái như cờ đuôi nheo, giống hệt dải băng ai đó đã buộc lên hàng rào nghĩa trang Whiteleaf.
Cậu bé đã kể rằng mình lái xe vòng vòng quanh văn phòng của Delacorte.
“Cháu biết lão ta nhìn thấy mình,” cậu bé nói thêm, “vì sau đó, lão ta bước ra ngoài. Cháu cứ bày trò nhưng không bao giờ ra tự thú cả, vì lão ta có muốn biết đâu. Lão ta đang rất hài lòng với diễn biến hiện giờ là đằng khác.”