Khi trở về nhà, tôi thấy Elizabeth đang ngồi chờ mình một cách thoải mái ngoài hành lang, chân gác lên lan can. Cô bận quần bò rách ở gấu và chiếc sơ mi trắng của tôi, tay áo xắn lên tới khuỷu. Cô có vẻ bình thản, nhưng đôi mắt rất linh hoạt, đúng như khi cô muốn báo cho tôi một tin tức nào đó.
Khi tôi ngồi xuống bên cạnh, cô nói, “Bấy lâu nay chúng ta đã hỏi không đúng câu cần thiết.”
Một con bướm đậu lên lan can cạnh chân cô. Tôi chờ đợi.
“Tất cả những gì anh phải làm là nhìn vào thời gian biểu này,” cô nói. “Vụ cướp ngân hàng Great Lakes xảy ra cách đây 17 năm. Floyd Lambeau chết. Matthew Kenneally trốn thoát. Ba người còn lại đều bị bắt - Terry Dawtrey ra tòa tại Sault Sainte Marie. Cha gã, Charlie Dawtrey, tới đó hàng ngày. Trong giờ giải lao, ông ấy thường ra công viên gần đó.”
“Nơi ông ấy gặp Madelyn Turner - mẹ của Nick,” tôi nói.
“Chính xác. Madelyn khi đó 40 tuổi. Charlie Dawtrey thì gần 60. Cả đời ông ấy chỉ làm những công việc nhỏ mọn. Nhưng chỉ vài tuần sau phiên xử, họ lấy nhau. Tại sao? Đáng ra ngay từ đầu em phải nghĩ ngay tới câu hỏi đó. Ngay cả Walter Delacorte cũng nhận ra điều này. Anh nhớ không?”
Dĩ nhiên là tôi nhớ. Walter Delacorte ngồi đối diện với chúng tôi trong quán ăn ở Sault Sainte Marie. Elizabeth đã hỏi ông ta tại sao cuộc hôn nhân giữa Madelyn và Charlie Dawtrey lại đổ vỡ. Cô nên hỏi sao nó lại bắt đầu thì hơn, ông ta nói.
“Bà ta cưới ông ấy vì cảm thấy thương hại,” tôi nói. “Bà ta đã nói với chúng ta như thế.”
Vài lọn tóc đen nhánh xõa xuống gò má Elizabeth. “Nếu cảm thấy thương hại một người đàn ông, ta hay để người đó gục vào vai mình mà khóc, hoặc là đưa anh ta lên giường. Thông thường, không ai lại lập gia đình rồi có con với anh ta cả. Madelyn Turner đã nói dối về Charlie Dawtrey. Không phải ngẫu nhiên mà bà ta gặp ông ấy. Chính bà ta đã chủ động tìm gặp Charlie vì không thể tự kiềm chế bản thân. Hai người này có điểm gì đó tương đồng.”
Elizabeth cầm lên một tập tài liệu đặt trên chiếc bàn kính nhỏ bên cạnh mình. Cô đưa cho tôi tờ giấy mà tôi đã xem tối qua, trên đó ghi tên cha mẹ Matthew Kenneally. Richard J. Kenneally và Mary M. LaFleur.
“M là chữ viết tắt của Madelyn,” cô nói. “Còn LaFleur là tên thời con gái của bà ta.”
Cô đứng dậy và ra tì vào lan can. “Madelyn lớn lên ở Sault Sainte Marie,” cô nói. “Bà ta rời khỏi đó năm 19 tuổi và mang thai Matthew. Richard Kenneally đưa bà ta tới Steven’s Point, Wisconsin vì ông ta làm công việc quản lý tại trường đại học ở đó. Ông này mất khi Matthew chưa đầy 20 tuổi. Sau đó, Matthew đi học đại học còn Madelyn trở về quê nhà ở Sault Sainte Marie.
“Bà ta đang ở đó khi vụ cướp ngân hàng Great Lakes xảy ra. Matthew phóng xe khỏi ngân hàng hôm đó, nhắm tới đường cao tốc liên bang. Tại đó, y đâm phải chiếc xe tuần tra và giết chết Scott White. Có lẽ khi ấy, y đã rất hoảng sợ và tìm tới gặp mẹ mình. Chúng ta đã biết y có người giúp đỡ, vì cảnh sát tìm thấy chiếc SUV đen bị vứt lại, nhưng không thể bắt được y. Vậy nên khi phiên tòa xử Terry Dawtrey diễn ra, nó đè nặng lên lương tâm Madelyn. Terry đã bắn một cảnh sát. Ai cũng biết gã không thể thoát án tù. Charlie Dawtrey sắp mất con trai mình. Nhưng con trai của Madelyn thì thoát tội. Bà ta không thể bỏ mặc Charlie được. Không chỉ là sự thương hại dành cho ông ấy, bà ta còn cảm thấy tội lỗi.”
Madelyn đã kể một phần sự thật vào hôm đó, khi chúng tôi tới gặp bà ta. Khi Terry phải ngồi tù, Charlie đã rất đau khổ, bà ta nói. Tôi tưởng mình có thể cải thiện tình hình bằng cách sinh cho ông ấy một đứa con. Và bà ta sinh ra Nick, một đứa con nữa để thay thế người con trai mà ông ấy đã mất.
“Hẳn là vẫn còn nhiều tình tiết éo le nữa,” tôi nói với Elizabeth.
“Dĩ nhiên.”
Tôi gõ ngón tay lên tờ giấy đang cầm. “Bà ta đã mang thai Matthew Kenneally từ trước lễ cưới.”
“Đúng thế.”
“Anh đang nghi ngờ liệu Richard Kenneally có phải cha ruột của y không.”
“Em cũng thế,” Elizabeth nói. “Chuyện này quá hiển nhiên. Madelyn Turner thời trẻ là một người rất xinh đẹp. Bà ta thường bị quyến rũ bởi những người đàn ông lớn tuổi, có thể chu cấp cho mình tốt hơn.”
Thời trẻ, tôi có khối chuyện hay ho, bà ta từng nói. Nếu còn tâm trí, tôi có thể kể cho cô nghe nhiều kỉ niệm lắm.
“Những người như John Casterbridge,” tôi nói.
Elizabeth gật đầu. “Madelyn sinh hạ Matthew Kenneally khi mới 20 tuổi. Đó là cách đây 37 năm. Hồi đó, John Casterbridge đã là nghị sĩ với tham vọng ứng cử vào Thượng viện. Ông ấy đi khắp các thành phố trong bang - kể cả Sault Sainte Marie. Việc bản thân đã lập gia đình và có một đứa con trai nhỏ không ngăn nổi ông ấy. Và nếu ông ấy là cha của Kenneally, điều đó sẽ giải thích tại sao Kenneally không bao giờ bị coi là có dính líu tới vụ cướp ngân hàng Great Lakes. Có lẽ anh nói đúng: Con trai của ngài nghị sĩ là kẻ cướp thứ năm và ông ấy đã dùng tầm ảnh hưởng của mình để che giấu việc đó. Chỉ là anh đoán nhầm đứa con thôi.”
Một thứ gì đó còn tài tình hơn óc suy đoán đã giúp Elizabeth liên hệ được Madelyn Turner với John Casterbridge.
“Em nghĩ họ vẫn liên lạc với nhau sau từng ấy năm,” cô nói, tay lại cầm tập tài liệu lên. “Hơn 2 tuần trước, Kyle Scudder vẫn còn bị tình nghi là đã giết Charlie Dawtrey. Scudder là người tình hiện tại của Madelyn Turner. Vào ngày 20, hôm thứ Hai, Madelyn liên lạc với tất cả những người bà ta quen biết để xin cho anh ta được thả. Nhớ không?”
Tôi vẫn nhớ. Nick đã kể với tôi như thế và rồi tôi thuật lại cho Elizabeth. Cô đã ghi lại chuyện này trên biểu đồ thời gian. Cô đưa cho tôi tờ giấy chứa thông tin liên quan.
“Đó là hôm thứ Hai,” cô nói. “Tối thứ Ba, Scudder được thả. Những cáo buộc đều bị bãi bỏ hết. Anh xem trong khoảng thời gian đó đã xảy ra chuyện gì này.”
Nó được viết ngay đó. Tối thứ Hai, ngày 20 tháng Bảy: Thượng nghị sĩ John Casterbridge bị tai nạn ô tô. Ông ấy nói mình đang phải đi thực hiện một nhiệm vụ, vợ ông cần được giúp đỡ. Khi đó, chúng tôi đã mặc định là ông ấy đang nói về người vợ đã khuất. Hóa ra, ông ấy nói về Madelyn Turner, mẹ của con trai mình.
Nơi tôi muốn đến ở xa lắm, ông ấy nói với tôi như vậy. Đó là sự thật. Madelyn sống ở Brimley, gần Sault Sainte Marie.
Tối hôm đó, ông ấy không tới được. Nhưng ngày hôm sau, hẳn ông ấy đã tỉnh ra và biết rằng mình không cần phải đích thân đi lên phía bắc để dàn xếp cho Scudder được thả. Tất cả những gì ông ấy cần làm là gọi một cú điện thoại nhờ vả công tố viên.
“Đây chưa phải chứng cứ xác thực,” Elizabeth nói. “Vẫn không chứng minh được rằng John Casterbridge có quan hệ tình cảm với Madelyn Turner, hay ông ấy là cha của Matthew Kenneally.”
“Hẳn là thế chứ,” tôi nói. “Anh chắc chắn đấy.”
Cô nhìn tôi dò xét. “Sao anh dám chắc thế?”
“Vì Amelia Copeland lái một chiếc minivan màu xanh dương.”
Suýt nữa tôi đã để bà ta đi mất, vì việc nhìn thấy chiếc xe khiến tôi bàng hoàng. Nhưng khi bà ta lùi xe ra khỏi chỗ đỗ, tôi lao tới bên cửa sổ ghế lái và gõ ngón tay lên kính. Tôi tưởng mình đã làm bà ta bất ngờ. Tôi gần như không kiểm soát được cử chỉ bản thân. Trí óc tôi quay cuồng. Nhưng bà ta hạ cửa kính xuống và bình thản nhìn tôi.
“Ai đã lái chiếc xe này?” tôi hỏi.
Những nếp nhăn sâu xuất hiện trên trán Amelia. Bà ta im lặng.
Tôi hỏi lại. “Alan Beckett đã mượn chiếc xe này 2 tuần trước phải không?” Là Beckett. Tôi chỉ nghĩ được thế. Nó đã trở thành một lối mòn trong tâm trí tôi.
“Không,” Amelia Copeland đáp. “Không phải anh ta đâu.”
“Là ngài nghị sĩ,” tôi nói với Elizabeth. “Ông ấy mượn chiếc minivan vào ngày 22, tức là 2 hôm sau vụ tai nạn. Xe ông ấy đang trong tiệm sửa chữa. Đúng đêm hôm đó, Lucy Navarro mất tích. Tôi đứng lên và ra chỗ lan can cạnh Elizabeth. “Ông nghị sĩ đã bao che cho Kenneally 17 năm trước, sau đó giao ước với Harlan Spencer để ông quên đi tên tài xế trong vụ cướp ngân hàng Great Lakes. Cho tới giờ ông nghị sĩ vẫn che chở cho Kenneally. Ông ấy biết Lucy đang hỏi quá nhiều về vụ cướp và ông ấy phải ngăn việc đó lại.”
Elizabeth vuốt tay lên trán tôi. “Anh không định nói là ông nghị sĩ đã lái xe tới bãi đỗ ở khách sạn Winston vào ngày 22 và lôi Lucy vào xe đấy chứ?”
“Không,” tôi nói. “Anh không nghĩ là ông ấy cần phải lôi cô ta vào đâu.”
Sáng thứ Bảy, chúng tôi sửa soạn hành lý cho một chuyến đi ngắn, chỉ một vali cho cả hai. Tầm 9 giờ, chúng tôi rời Ann Arbor. Elizabeth ngồi sau tay lái chiếc xe của tôi. Cái nóng thiêu đốt con đường trước mặt. Nhưng chúng tôi tin rằng đi lên phía bắc thời tiết sẽ dịu mát hơn.
Đi được 2 giờ, chúng tôi đổi chỗ. Kênh radio chúng tôi đã nghe từ đầu chuyến đi giờ không phát nữa, tôi lướt qua các kênh tìm chương trình mới. Sau cùng, tôi dò được chương trình ca nhạc của Bruce Springteen, bài hát “Born to run”. Khi kết thúc, một đoạn quảng cáo vang lên và Elizabeth với tay vặn nhỏ âm lượng.
“Anh biết đấy,” cô nói, “có lẽ bà ta sẽ từ chối nói chuyện với chúng mình.”
Cô đang nói tới Madelyn Turner và tôi biết cô nói đúng. Nhưng nếu muốn xác minh ông nghị sĩ thực sự là cha của Matthew Kenneally, có lẽ Madelyn là người chúng tôi cần gặp.
Tôi có thể thử hỏi chính ông nghị sĩ, nhưng tôi không biết phải tìm ông ấy ở đâu. Căn hộ của ông ấy tại tòa nhà Bridgewell trống không. Đó là nơi đầu tiên tôi mò đến sau cuộc nói chuyện với Amelia Copeland.
Cậu thanh niên sau quầy tiếp tân là người đầu tiên nhìn thấy tôi bước vào sảnh.
“Xin chào,” cậu ta cất tiếng. “Ông có thể lên ngay tầng trên.” Lần này, cậu ta mặc một bộ com lê đắt tiền hơn.
Tôi dừng lại ở quầy. “Đáng ra cậu phải nói rằng ngài nghị sĩ không muốn bị quấy rầy chứ.”
“Giờ thì khác rồi.”
“Vậy nghĩa là giờ ông ấy muốn bị quấy rầy?”
“Không phải thế. Nhưng tôi dám chắc ông không quấy rầy ngài ấy được đâu.”
Tôi đứng đó lắng nghe tiếng rì rào từ đài phun nước. “Ông ấy không có ở đây, phải không?”
“Không, thưa ông.”
“Nếu tôi nói mình không tin lời nào của cậu thì sao?”
“Ông sẽ làm tôi tổn thương lắm đấy.”
“Tôi cá là thế,” tôi nói. “Tôi phải đích thân kiểm tra xem ông ấy có ở đây không mới được.”
Cậu ta vẫy tay ra hiệu về phía thang máy. “Ông cứ lên đó đi.”
Tôi đi lên tít tận tầng trên cùng. Cánh cửa căn hộ của ông nghị sĩ khép hờ. Bên trong, một phụ nữ mặc đồng phục hầu phòng đang đẩy máy hút bụi trên tấm thảm. Cô ta tắt máy vừa đủ lâu để nói với tôi rằng ông nghị sĩ đang đi vắng và cô ta không biết bao giờ ông ấy mới quay lại.
“Cô có biết ông ấy đi đâu không?” tôi hỏi.
Cô ta nhìn tôi từ đầu tới chân rồi lạnh lùng bỏ đi. “Đó không phải việc của tôi,” cô ta nói. “Hay của anh.”
Hơn 1 giờ, tôi và Elizabeth rời khỏi đường 1-75 để đi qua sông Au Sable tới thị trấn Grayling. Chúng tôi lái ngang qua hiệu cho thuê thuyền và quán ăn mang tên Spike’s rồi tìm được một quán cà phê trang trí hình chú tuần lộc bên trên cánh cửa. Chúng tôi mua bánh sandwich cùng táo và ngồi ăn trên một tấm vải trải trên bãi cỏ, dưới bóng râm bên bờ sông.
Elizabeth lội xuống nước còn tôi ngồi vắt chéo chân trên bờ và xem xét tấm bản đồ. Một con ngài trắng bò trên thảm cỏ. Một lúc sau, tôi gập tấm bản đồ lại và thu dọn giấy bọc sandwich cùng tấm vải. Elizabeth gặp tôi ở chỗ để xe.
“Anh đã nắm được đường đi chưa?”
Cô hỏi với vẻ tinh nghịch, vì cả hai chúng tôi đều biết đường. Cứ đi lên phía bắc thêm 210 cây số trên đường 1-75, rồi ngoặt về phía tây tới Brimley. Khỏi cần nhìn bản đồ.
“Anh đang nghĩ gì thế?” cô hỏi.
Tôi nhìn ánh mặt trời phản chiếu trên sông. “Ông nghị sĩ,” tôi nói. “Ông ấy sở hữu một căn nhà ở Grosse Pointe và một căn hộ ở Lansing...”
“Mấy nơi đó đều ở xa đây quá.”
“.. .và một căn chòi ở Saint Ignace. Chúng ta sắp đi qua chỗ đó.”
“Anh nghĩ ông ấy đang ở đó à?”
“Có thể.”
Cô chạm tay lên vai tôi. “Anh sẽ nói gì khi gặp ông ấy?”
“Anh sẽ suy nghĩ trên đường tới đó,” tôi đáp. “Vấn đề là tìm được chỗ ấy đã. Nó nằm bên bờ hồ, nhưng không có địa chỉ.”
Tôi nhìn cô mỉm cười. Vấn đề này cô có thể giải quyết được. Cô rút điện thoại và mở nó ra.
“Cứ đi cùng em,” cô nói.
Saint Ignace nằm cách Grayling 145 cây số về phía bắc, ở đầu bên kia cầu Mackinac. Khi chúng tôi rẽ vào lối đó thì đã 4 giờ chiều. Chúng tôi lái xe về phía đông, hạ cửa kính xuống để hứng làn gió mát rượi từ hồ Huron. Bầu trời nhuốm màu xanh nhạt. Đi hết con đường, chúng tôi ngoặt lên phía bắc tới phố State, ở đó có thể nhìn thấy mặt nước thấp thoáng sau những ngôi nhà và rừng cây.
Căn chòi của ông nghị sĩ có mái lợp màu sẫm bên trên bức tường ghép bằng ván gỗ sơn trắng. Một hòm thư lắp trên cây cột ở đầu lối đi. Trên đó không ghi tên hay số nhà. Có lẽ chúng tôi đã bỏ qua chỗ này nếu không để ý thấy chiếc xe quen thuộc đỗ cạnh ngôi nhà, nửa thân xe khuất dưới bóng cây sồi trắng. Đó không phải chiếc Mercury của ông nghị sĩ, mà là chiếc Beetle vàng của Lucy Navarro.