Cuốn sổ tay là một vật giản dị mà tao nhã. Những trang giấy có dòng kẻ được khâu bằng dây chỉ giữa hai tấm bìa mềm màu đen. Nó nhỏ gọn, có thể bỏ vào túi. Vincent van Gogh[1] đã từng vẽ nên những phác họa của mình trong một cuốn sổ y như thế này. Ernest Hemingway[2] thì viết lên đó những dòng hội thoại ngắn gọn trong các quán cà phê ở Paris.
Anthony Lark dùng cuốn sổ tay của mình để lập một danh sách.
Ba cái tên, viết đậm bằng mực đen. Henry Kormoran, Sutton Bell, Terry Dawtrey. Những con chữ hiện ra trơn tru trên mặt giấy. Chiếc bút máy của hãng Waterman là một món thừa kế từ cha Lark.
Kormoran và Bell thì dễ giải quyết thôi. Cả hai đều đang sống ở Ann Arbor - Kormoran sống trong một căn hộ, Bell thì ở một ngôi nhà khiêm tốn cùng vợ và con gái. Người vợ và đứa con sẽ gây phiền phức đôi chút, nhưng tổng thể thì Lark chẳng thấy có gì đáng lo ngại. Hắn có thể xử lý được Kormoran và Bell một cách dễ dàng.
Dawtrey thì khác. Gã này đang thụ án 30 năm ở nhà tù Kinross, nằm cách Sault Sainte Marie hơn 30 cây số về phía nam.
Lark bỏ cuốn sổ tay trên giường khách sạn và đi chân không tới chỗ máy bán đá dưới sảnh. Hắn bỏ những viên đá nhỏ vào túi ni lông, một chút thôi, vừa đủ để chườm lên trán. Gần đây, những cơn đau đầu xảy đến ngày càng dồn dập hơn.
Hắn vẫn ổn khi lái xe ngang qua cổng nhà tù Kinross hồi chiều. Hắn chẳng biết mình trông chờ sẽ thấy gì, có lẽ là một công trình giống như pháo đài, những tòa nhà cao bằng đá, thành luỹ và cột trụ, những bức tường cao ngất có chòi gác?
Sự thật thì kém lung linh hơn. Vài tòa nhà rộng bằng gạch nung xấu xí. Mặt trời hắt bóng những chòi canh trên mặt sân. Bao quanh khu nhà là hai hàng rào mắt cáo cao, bên trên mắc dây thép gai.
Lark lớn lên trong khu lao động ở Dearborn, ngoại ô Detroit. Nếu bỏ đi những chòi canh và hàng rào, hắn gần như có thể mường tượng ra hình ảnh trường trung học của mình hồi trước.
Tuy thế, những hàng rào và chòi canh này cũng đủ ngăn không cho hắn động tới Terry Dawtrey. Trên lý thuyết, hắn có thể thành công, nếu có đủ hàng tá điều kiện thuận lợi. Hắn cần kiếm được một khẩu súng trường mạnh, rồi tìm nơi ẩn nấp trên bãi đất trống phẳng lì bao quanh nhà tù. Dawtrey sẽ đi ra giữa cổng trước với bia mục tiêu vẽ sẵn trên ngực.
Lark suy xét vấn đề trong phòng khách sạn. Hắn ngả mình trên mấy cái gối trong khi chườm túi đá lên trán, vẫn còn một cách khác. Hắn có thể kiếm cớ để gặp mặt Dawtrey. Hắn sẽ đi qua những cánh cổng kia, để cho lính gác lục soát. Rồi họ sẽ dẫn hắn tới một căn phòng có tường bằng gạch bê tông. Đó là phòng công cộng với nhiều dãy bàn, chật kín những người vợ của phạm nhân tới cùng đám trẻ con hiếu động. Hắn sẽ ngồi đối diện với Dawtrey. Giữa hai người không có kính ngăn cách như ở trong phim. Trong tay hắn không có vũ khí, nhưng hắn chỉ cần vật gì đó sắc nhọn - ví dụ như một thanh gọng kính bẻ ra. Điều này có thể thực hiện được.
Nhưng hắn không thể vượt qua đám lính canh mà thoát khỏi đó được. Chuyến đi này sẽ không có đường về.
Quả là một vấn đề hóc búa. Hắn cần suy tính thêm. Hắn nhấn nút điều khiển TV và lướt qua các kênh. Phim trinh thám, quảng cáo, thời sự. Hắn không thực sự để ý đến người phụ nữ đó, nhưng hắn nhìn thấy cô ấy trên kênh CNN. Chuyện này đôi khi cũng xảy ra. Cô ấy đang đứng trên bục với một đám đông vây quanh. Những người trẻ tuổi giơ biểu ngữ. Cô ấy có làn da rám nắng hết cỡ so với một người sống ở bang Michigan. Mái tóc giống như tấm lụa đen, được cắt ngắn điệu đà.
Hắn không mở tiếng TV, vậy nên chẳng thể nghe thấy cô ấy nói gì, nhưng điều đó không quan trọng. Cô ấy mỉm cười, đoàn người hò reo và giơ biểu ngữ. Thật là một nụ cười tuyệt diệu. Không có nó, cô ấy sẽ có vẻ thật nghiêm nghị và lạnh nhạt. Nhưng với nụ cười này, cô ấy bỗng trở nên vừa vui vẻ vừa tinh nghịch. Hắn nhớ lại một điều mình từng được nghe: Chỉ riêng nụ cười đó cũng đáng mười điểm ở hòm phiếu.
Nhìn thấy cô ấy khiến hắn cảm thấy dễ chịu hơn. Cả túi đá nữa. Nó làm dịu đi cơn đau bên dưới trán. Hắn bị cám dỗ bởi ý nghĩ sẽ trả phòng vào buổi sáng rồi lái xe về phía nam tới Ann Arbor. Phần lớn mọi người sẽ làm vậy. Chọn cách dễ dàng. Xử lý Kormoran và Bell trước. Để Dawtrey lại sau cùng. Trì hoãn đối đầu với khó khăn. Nhưng hắn không được nuôi dạy để làm như thế.
Luôn luôn giải quyết việc khó khăn nhất trước, cha hắn từng nói vậy.
Tối hôm sau, Anthony Lark tới một thị trấn nhỏ mang tên Brimley nằm trên bờ vịnh Whitefish, cách Sault Sainte Marie 25 cây số về phía tây nam. Hắn ăn tối ở Cozy Inn, một quán ăn chuyên phục vụ khách du lịch. Hắn ngồi ở bàn trong góc, mắt dõi theo một ông già đang ngồi trên ghế cao cạnh quầy rượu.
Lark biết có những người da đỏ tộc Chippewa ở Brimley. Họ nắm sòng bạc Bay Mills, chốn ăn chơi đình đám nhất trong vùng. Ông già ngồi ở quầy rượu trông có vẻ cũng mang dòng máu Chippewa. Ông ta có bộ mặt khắc khổ với những nếp nhăn sâu dọc theo khuôn mặt, người ta có thể thấy kiểu mặt này được chạm khắc trên vách đá. Thân hình ông ta gọn gàng, chân tay có lẽ đã từng cứng cáp và đầy cơ bắp - trước khi thời gian bào mòn sức mạnh của chúng.
Lark biết tên ông ta. Hắn tìm thấy nó trong cuốn danh bạ điện thoại Brimley. Hắn đã dùng chiếc bút máy Waterman ghi lại nó trong cuốn sổ tay.
Ông già sống trong một căn nhà gần bờ hồ Superior. Đó thực ra chỉ là một căn chòi gỗ tồi tàn, một trong số hàng lô những căn chòi nằm rải rác trong rừng, với lối đi không trải nhựa nối từ nhà này sang nhà khác. Giờ đang là mùa hè, sống ở đó cũng khá dễ chịu, dưới bóng râm của rặng cây bu lô già. Nhưng vào mùa đông thì, Lark nghĩ, nơi đó đúng là địa ngục.
Hắn đã vào căn chòi đó một tiếng đồng hồ lúc chiều, sau khi tìm được chìa khóa giấu dưới chiếc xô bằng gỗ ngoài hành lang. Lúc đó, ông già đang đi làm. Một ngăn kéo chứa đầy bảng lương đã nói lên tất cả: Ông ta làm việc ở sòng bạc, có lẽ là một chân quét dọn. Mức lương của ông ta thật đáng thương hại.
Căn chòi có một phòng khách chật chội, một gian bếp nhỏ, một phòng tắm thậm chí còn nhỏ hơn. Không có giường, chỉ thấy một chiếc ghế sofa gập. Trong nhà gần như chẳng có tài sản gì. Tủ thuốc trên bồn rửa trong phòng tắm chứa một con dao cạo cán thẳng, bàn chải, thuốc đánh răng. Đồ đạc trong phòng khách gồm một cái TV tai thỏ[3] và tấm lịch treo tường trang trí hình vẽ những con chim sẻ bằng màu nước. Lark lật qua tấm lịch. Ai đó đã viết chữ ”T” lên tất cả các ngày thứ Bảy.
Một tấm ảnh đóng khung treo cạnh tấm lịch: Hình chụp ở trường của một cậu bé chừng 14-15 tuổi.
Điện thoại reo vang làm Lark giật mình khi hắn đang xem xét bức ảnh. Hắn lần theo tiếng chuông vào bếp, nơi chiếc điện thoại thảm hại màu be được đặt cạnh chiếc máy trả lời tự động cổ lỗ. Cuốn băng trong máy bắt đầu quay, tiếng ông già vang lên. Sau tiếng bíp là giọng một phụ nữ, khàn khàn vì khói thuốc lá.
“Charlie, anh có ở đó không?” người đó nói. Một thoáng im lặng. “Có lẽ lát nữa, tôi sẽ gặp anh ở quán Cozy.”
Khi ông già đi làm về, Lark ngồi rình trong chiếc xe Chevy đỗ lui một chút dưới con đường. Hắn theo dõi ông ta bước ra khỏi buồng lái chiếc xe bán tải và mệt nhọc lê bước tới cửa căn chòi. Hắn có thế hành động ngay lúc đó, đơn giản là đi theo ông ta vào trong nhà, nhưng như vậy có vẻ đường đột quá. Vả lại, trời vẫn còn sáng. Tốt hơn là nên chờ tới khi trời tối.
Lark lái xe tới quán Cozy Inn và thoải mái ăn tối với cá câu được ở vịnh, khoai tây rán, sa lát bắp cải. Hắn đem theo một tờ báo từ Sault Sainte Marie và bắt đầu đọc trang đầu tiên sau khi người bồi bàn đã thu dọn đĩa trên bàn. Cô ta đưa hắn hóa đơn rồi để hắn lại một mình sau khi nhận được khoản tiền boa hậu hĩnh.
Ông già bước vào quán lúc 8 giờ và ngồi ở quầy rượu. Ông ta uống vài ly whiskey Ireland và mấy vại bia. Tới 10 giờ, phần lớn khách du lịch đã rời đi hết, không gian bắt đầu tràn ngập những giọng nói khàn khàn và tiếng cười của đám dân địa phương. Lúc 11 giờ, một người phụ nữ bước vào, mặc váy da ngắn và áo len móc. Mái tóc nhuộm đen. Bà ta khoảng 55 tuổi, Lark nghĩ, nhưng cố làm cho mình trông như mới ngoài 40.
“Anh đây rồi, Charlie,” bà ta nói với ông già.
“Madelyn, cô em nóng bỏng,” ông ta nói, tay vỗ lên ghế bên cạnh.
Khi Lark ngồi trong góc theo dõi hai người - Madelyn lấy ra một điếu thuốc lá từ trong túi xách, Charlie châm lửa bằng chiếc bật lửa Zippo - hắn chỉ ước mình đã xong việc. Đáng ra hắn phải giải quyết mọi chuyện ngay tại căn chòi đó. Hắn cảm thấy con đau đầu dâng lên và uống một viên thuốc (Imitrex)[4] từ hộp sắt tây nhỏ trước dùng đựng kẹo bạc hà. Hắn không trông chờ gì ở tác dụng của viên thuốc có cả. Hắn có thể cảm thấy cơn đau dâng lên trong khoảng trống sau hai mắt, cuộn tròn và xoắn xuýt như làn khói thuốc lá của Madelyn.
Một giọng nói vang lên trong tâm trí hắn, Những cơn đau đầu là một triệu chứng. Đó là tiếng bác sĩ của hắn, người đã lặp đi lặp lại câu này không biết bao nhiêu lần.
Rắc rối xảy ra lúc gần nửa đêm. Lark đã mân mê cốc bia trước mặt suốt một tiếng đồng hồ. Hắn nhìn một nhóm thanh niên đi về phía cửa ra. Tươm tất, ăn diện - có lẽ là dân chia bài trong sòng bạc, nếu hắn buộc phải đoán. Người cuối cùng trong số họ giữ cửa cho một người đàn ông cao lớn bước vào.
Tay này không phải người chia bài, Lark nghĩ. Có lẽ là dân lao động chân tay hoặc ngư dân.
Madelyn biết anh ta. Bà ta đứng lên và tới gặp anh chàng ở khoảng giữa căn phòng.
“Kyle, tình yêu của tôi,” bà ta nói với vẻ vô tư.
Anh chàng trẻ hơn hẳn, có lẽ khoảng 40 tuổi - chính cái độ tuổi mà người đàn bà kia phải cố làm ra vẻ. Anh ta mặc bộ đồ vải bông chéo, chân đi bốt cứng. Bà ta dẫn Kyle tới quầy rượu rồi gọi cho anh ta đồ uống. Sau đó, bà ta nói huyên thuyên đủ chuyện, tay vuốt ve cổ áo hoặc đặt trên cánh tay anh chàng. Ở bà toát lên nỗi sợ hãi của một người phụ nữ bị bắt quả tang trong cảnh trớ trêu.
Ông già Charlie ngồi cạnh bà ta bị bỏ lơ, cứ mỗi phút trôi qua vẻ mặt lại càng thêm cau có. Đám khách hàng quen của quán dường như đều tránh xa ba người này, như thể họ đoán được chuyện gì sắp xảy ra.
Lark quan sát mọi chuyện từ chỗ ngồi trong góc. Charlie đặt một tay lên sau gáy Madelyn. Một cử chỉ thể hiện sự chiếm hữu. Madelyn quay lại, nhìn thẳng vào mắt ông ta. Kyle ngồi bên ly rượu, cố lờ đi tất cả những gì đang xảy ra cho tới lúc anh ta không thể làm ngơ nổi nữa.
Kyle đứng lên và Charlie cũng vậy. Madelyn không mấy sốt sắng cố len vào giữa hai người nhưng Kyle đã nhẹ nhàng gạt bà ta sang một bên.
Lark biết cách nhanh nhất để giành phần thắng trong một cuộc đánh lộn là đấm vỡ mũi đối phương. Cái mũi gãy sẽ đánh gục một người đàn ông, khiến dũng khí chiến đấu của anh ta tiêu tan. Charlie cũng biết điều này. Ông nắm chặt tay phải và nhắm một cú vào giữa mặt người đàn ông to lớn hơn hẳn mình.
Kyle nhìn thấy và cúi mình tránh, khiến cú đấm đi thẳng vào trán.
Xương cốt ở bàn tay thì mỏng manh, trong khi hộp sọ thì cứng cáp hơn. Charlie kêu lên một tiếng và rụt tay lại. Kyle lắc đầu cho hết choáng, rồi bình tĩnh bước lên trước, quét chiếc bốt một đường trên mặt sàn gỗ, gạt hai chân ông già. Charlie ngã ngửa, chống bên tay bị thương xuống đất. Ông ta liền kêu rú lên và quằn quại trên sàn.
Kyle với tay ra sau lấy ly rượu, uống cạn và tiến về phía cửa, ra hiệu cho Madelyn đi theo mình. Bà ta trừng mắt nhìn anh chàng và rít lên, “Chết tiệt, Kyle,” nhưng rồi bà ta chỉ thoáng liếc mắt nhìn ông già trước khi bước theo anh ta.
Vài phút sau, Lark rời khỏi quán rượu. Khi đó, vài người dân địa phương đã giúp Charlie ngồi lên ghế, quấn khăn mùi soa quanh bàn tay rồi mời ông ta một vại bia nữa.
Dưới rặng cây bu lô giờ chỉ còn bóng tối. Lark tìm được chỗ căn chòi, đi quá một quãng rồi đỗ xe bên lề đường. Hắn tắt động cơ chiếc Chevy và chờ đợi. Một thanh nạy lốp xe nằm trên ghế phụ.
Chiếc xe bán tải của Charlie xuất hiện lúc một giờ sáng, đỗ lại trên bãi cỏ. Ông già lật đật bước trên lối đi lát đá và lui vào nhà. Lark cầm thanh nạy lốp xe bước ra khỏi ô tô, đi tới hành lang trước nhà và lấy chiếc chìa khóa dưới cái xô bằng gỗ.
Bản lề rít lên lúc hắn mở cửa nhưng không đến nỗi khiến ông già chú ý. Trên thực tế, khi bước vào căn chòi, hắn chẳng thấy ông ta đâu cả. Một chiếc đèn bàn chiếu ánh sáng lên bộ ghế sofa và TV, lên đôi giày sờn vứt trên mặt thảm.
Lark thấy ánh sáng đèn phản chiếu trên cửa kính đen phía sau chiếc sofa và nhanh nhẹn bước tới đóng rèm lại. Khi đứng bên cửa sổ, hắn nghe thấy tiếng nước chảy và không cần suy nghĩ, hắn nhảy qua ghế, nép mình sát tường cạnh cửa nhà tắm.
Tay giơ cao thanh nạy lốp xe, hắn đợi cửa mở ra. Một phút, rồi hai phút trôi qua. Từ cuộc sục sạo trước đó, hắn biết cửa sổ phòng tắm chỉ là một ô kính mờ, quá nhỏ để một người có thể chui qua. Hẳn là Charlie đang chờ hắn phía bên kia cánh cửa.
Lark nói, “Tốt hơn là ông ra đây đi. Làm sao ông biết tôi ở đây thế?”
Một thoáng im lặng, rồi tiếng ông già vang lên. “Mày đi rầm rập ngoài đó như voi ấy. Mày là ai? Bạn của Scudder à?”
“Tôi không biết đó là ai cả.”
“Kyle Scudder ấy. Mày là bạn của nó, đúng không?”
“Không, nhưng tôi biết thằng đó đã làm gì với ông. Bàn tay ông cần được chữa trị. Tôi có thể giúp ông.”
“Mày là bác sĩ à?”
“Tôi biết cách sơ cứu.”
“Tao không cần mày giúp đỡ. Cút đi, trước khi tao gọi cảnh sát.”
“Điện thoại để ngoài này cơ mà.”
“Tao có điện thoại di động đây.”
Lark nhìn bộ sofa rách bươm, tấm thảm đã trơ cả sợi, đôi giày sờn cũ.
“Tôi không nghĩ thế,” hắn nói.
Hắn có thể nghe thấy những tiếng động nhỏ qua cánh cửa. Tiếng ông già thở gấp. Tiếng cửa tủ thuốc mở ra, rồi nhẹ nhàng đóng lại.
“Thôi được rồi, tao ra đây.”
Lark hạ thanh nạy lốp xe xuống và bước tới trước cánh cửa, xoay người sao cho vai phải đối diện với cửa. Hắn co chân, đợi nắm đấm xoay, rồi lấy hết sức đạp một cú giữa cửa.
❀ ❀ ❀
[1] Vincent van Gogh (1853 - 1890): Danh họa người Hà Lan, tác giả của nhiều tác phẩm hội họa nổi tiếng.
[2] Ernest Hemingway (1899 - 1961): Nhà văn nổi tiếng người Mỹ, đạt giải Nobel văn học năm 1954.
[3] Loại TV có hai cần ăng-ten chĩa sang hai bên như đôi tai thỏ.
[4] Thuốc điều trị các cơn đau nửa đầu cấp tính cùng các hội chứng tương tự.