Kẻ Cướp Cuối Cùng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

❊ ❊ ❊

Dưới đây là những gì tôi còn nhớ về hôm đó: Thứ Tư, ngày 15 tháng Bảy. Cái ngày mà tập bản thảo xuất hiện ở chỗ tôi.

Hôm đó tôi đang chỉnh sửa một tác phẩm trong văn phòng Gray Streets. Điện thoại di động của tôi rung lên lúc 6 giờ 30 tối, trượt nhẹ trên mặt bàn. Tôi tạm để mặc nó đấy để giở tới một trang và viết một câu lên lề. Sau đó, tôi cầm điện thoại lên và thấy tên Elizabeth trên màn hình. Tôi mở điện thoại ra.

“Lizzie này,” tôi nói. “Em biết chữ ‘wrassling’ đánh vần thế nào không?”

Câu hỏi chẳng làm cô bối rối. “Giống ‘wrestling[1]’ thôi, nhưng thay chữ ’e’ thành chữ ’a’.”

“Anh cũng thử rồi, nhưng nhìn có vẻ không chuẩn lắm. Giờ anh viết từ đó với hai chữ ’s’.”

Cô ngẫm nghĩ một lúc. “Nghe tục quá,” cô nói. “Và hơi suồng sã.”

Tôi xoay ghế lại, gác chân lên bậu cửa sổ và hỏi bằng giọng nghiêm túc nhất có thể, “Em đang mặc gì thế?”

Tôi biết câu trả lời. Tôi đã thấy cô sáng hôm đó, lúc cô ra khỏi nhà. Cô mặc quần âu có màu đen nhánh giống như mái tóc của mình cùng một chiếc áo trắng đơn giản. Một chuỗi hạt thủy tinh - giống hệt chuỗi vòng treo trên cây đèn bàn trong văn phòng tôi, nhưng màu xanh lá chứ không phải xanh dương. Những chuỗi hạt thủy tinh này là món trang sức duy nhất cô mang. Con gái cô đã làm ra chúng.

Elizabeth cười khúc khích vì câu hỏi của tôi. “Đây đâu phải cuộc gọi kiểu đó, David. Em chỉ muốn báo cho anh biết tối nay em sẽ về muộn thôi. Chuyện công việc ấy mà.”

“Không phải lại là mấy tên trộm sách nữa đấy chứ?”

“Không. Vụ này nghiêm trọng hơn cơ. Một thi thể trông có vẻ như đã bị bỏ lại trong căn hộ trên phố Linden một thời gian rồi.”

“Giết người à?”

“Bị siết cổ bằng dây, theo những gì em được biết. Carter đã đến đấy rồi. Em không biết bao giờ mình mới về được.”

“Anh sẽ thức chờ em.”

“Không cần đâu anh.”

“Kiểu gì anh cũng chờ. Cẩn thận nhé.”

Chúng tôi tạm biệt nhau rồi tôi kết thúc cuộc gọi. Nhưng tôi chưa kịp đặt nó xuống thì điện thoại lại rung.

Tôi mở điện thoại. “Tôi không có ở đây đâu.”

“Tôi có thể nhìn thấy chân anh trên cửa sổ đấy,” Bridget Shellcross nói. “Sao anh không xuống đây nhỉ. Tôi đã gọi hai ly gimlet[2] rồi.”

“Được thôi.”

Tôi đóng cửa sổ lại và thu dọn các trang bản thảo đang sửa dở, nhét chúng vào tệp tài liệu.

Trên đường ra văn phòng bên ngoài, tôi đi ngang qua một chồng phong bì trên bàn tiếp tân. Bản thảo từ các cây viết triển vọng. Tôi để mặc chúng ở đó. Ra tới hành lang, tôi quay lại khóa cửa, mắt thoáng liếc nhìn dòng chữ màu đen trên mặt kính mờ: GRAY STREETS. DAVID LOOGAN, BIÊN TẬP.

Suýt nữa thì tôi bỏ qua chiếc phong bì dựng cạnh khung cửa ngoài hành lang. Trông nó giống như bao tập bản thảo khác. Tôi nhặt nó lên và kẹp dưới cánh tay cùng với tệp tài liệu.

Đi xuống cầu thang, năm tầng nhà, qua tiền sảnh, bước ra phố, biển người ngoài đó dường như đến từ thủ đô của một nước thuộc Thế giới thứ Ba.

Tháng Bảy hàng năm, trong vòng 4 ngày, nửa triệu người qua lại trên những con phố trung tâm Ann Arbor. Trông họ giống như khách du lịch ngoại quốc vậy và họ hành xử đúng kiểu khách du lịch, chủ yếu tới đây để ăn uống và mua sắm. Hamburger, pizza, kabob[3] và bánh funnel[4]. Các tác phẩm điêu khắc, tranh vẽ và đồ trang sức thủ công. Tất cả những món được bày bán tại hội chợ Nghệ thuật Ann Arbor. Nửa triệu người, cứ như thể hầu hết bọn họ đều đang lượn lờ trên phố, chắn giữa tôi và Bridget Shellcross. Không hiểu bằng cách nào mà cô ta chiếm được một bàn ở mặt tiền quán Café Felix bên kia đường.

Khi tôi tới nơi, cô ta đứng dậy và kiễng lên một chút để hôn vào má tôi. Bridget chỉ cao hơn 1,5 mét chút ít, cái “chút ít” ở đây chỉ bằng độ dày của một lá cỏ thôi. Mái tóc nâu được cắt ngắn và chải xù một cách điệu đà. Mặc dù thường mặc đồ đen, hôm nay cô ta bận chiếc áo cánh trắng ngà và váy đỏ thẫm.

Bridget là một nhà văn chuyên viết truyện trinh thám và mấy tháng trước, cô ta trở thành chủ sở hữu tòa soạn Gray Streets sau khi mua lại tờ tạp chí từ người vợ góa của ông chủ trước. Cô ta để mặc tôi tùy ý làm những gì mình thấy hợp lý. Chỉ khi nào tụ tập uống rượu thì chúng tôi mới gặp nhau.

Tôi bỏ chiếc phong bì và tệp tài liệu lên mặt bàn, rồi cả hai cùng ngồi xuống. Sau đó, tôi hỏi cô ta từ “wrassling” viết như thế nào.

Cô ta nhấp một ngụm vodka gimlet - trước mặt tôi cũng đặt một cốc, nhưng tôi không hề đụng tới nó - và nói, “Tôi phải biết văn cảnh thế nào đã.”

Tôi mở tệp tài liệu và đưa cô ta mẩu chuyện mình đang biên tập. “Bên lề trang sáu,” tôi nói. Cô ta tìm tới đoạn đó và đọc thầm. Còn tôi thì đã thuộc lòng câu đó rồi.

Điện thoại reo vang và khi tôi nhấc máy, một giọng từ đầu dây bên kia bảo tôi giữ ống nghe và tôi cầm nó như một ngư dân Cuba vật lộn[5] với con cá kiếm.

Cô ta bật cười, nhưng không đến nỗi đánh đổ rượu ra ngoài.

“Là tác phẩm mới của Fletcher à?” cô ta hỏi tôi.

“Phải. Anh chàng tin mình là Raymond Chandler[6] thứ hai. Lối viết dùng phép so sánh rất nhiều nên tôi nghĩ có chèn thêm một phép so sánh nữa cũng chẳng hại gì.”

Bridget lật qua các trang giấy. “Anh cũng phải vá víu nhiều chỗ đấy nhỉ.”

“Lý thuyết biên tập của tôi thế này. Anh có thể làm bất cứ điều gì mình muốn với bản thảo, thậm chí viết lại từng chữ cũng được, miễn là chữ viết tay phải thật nhỏ và đẹp. Chỉ cần những trang giấy nhìn có vẻ gọn gàng, chắc chắn tác giả sẽ đồng tình thôi.”

“Đấy là lý thuyết của anh à?”

“Nếu chủ tòa soạn ủng hộ thì còn tốt hơn nữa.”

“Đừng lôi tôi vào chuyện này chứ.”

Tôi nhận lại tập bản thảo từ tay cô ta. “Cô cho là Fletcher sẽ phản đối à?”

“Tôi tưởng tượng anh ta sẽ gào lên như cháy nhà ấy, nhưng dù sao tôi cũng chưa gặp anh chàng bao giờ cả. Cứ làm những gì anh muốn. Nếu không đồng tình thì anh ta cứ việc nộp bản thảo đó sang tạp chí Ellery Queen, thử xem có giải quyết được gì không.”

Cô bồi bàn của quán Café Felix nãy giờ vẫn đang chờ chúng tôi ngừng nói. Giờ cô gái mới hỏi tôi rằng không biết ly vodka gimlet có vấn đề gì không.

“Không sao cả,” tôi trả lời. “Nhưng hình như nó đi lạc đấy.” Tôi đẩy cái ly tới trước mặt Bridget, người vừa trả lại cái ly rỗng cho cô bồi bàn.

“Anh David đây sẽ uống một ly Scotch,” cô ta nói. “Không pha.”

Tôi lắc đầu từ chối. “Anh David đấy sẽ uống nước chanh.”

Người bồi bàn rời đi và khi cô gái quay lại, đám đông trên phố đã vãn bớt một chút - mọi người đổ về hướng nam để nghe một ban nhạc chơi những bài hát của Bob Dylan[7]. Một đoạn độc tấu kèn harmonica rất dài hóa ra là đoạn dạo của bài hát “All Along the Watchtower”.

Bridget bắt gặp tôi đang nhìn qua bên kia đường. “Gì thế?” cô ta hỏi.

Tôi uống một hớp nước chanh. “Lại là hắn.”

“Ai thế?”

“Cô có thấy người kia không? Người đeo kính râm và đội mũ cát trắng ấy.”

Cô ta nhăn mặt. “David, tất cả bọn họ đều đeo kính râm và đội mũ cát trắng cả.”

“Người đang đứng dưới mái hiên cửa hiệu quà tặng ấy, tay cầm một chai nước.”

“Ai cũng cầm chai nước cả.”

Tôi đợi cô ta nhìn theo hướng nhìn của mình và chỉ rõ hắn. Người đó khoảng 30 tuổi, vai rộng, cổ ngắn, quai hàm sắc nét. Hắn đứng cúi đầu một chút, theo cái cách mà những người cao lớn thường làm khi họ không muốn người khác để ý tới chiều cao của mình. Nhưng người đó chỉ cao ở mức trung bình. Hắn bận áo sơ mi kẻ ô vuông và quần ống hộp.

“Cô thấy hắn thế nào?” tôi hỏi Bridget.

“Chà,” cô ta nói, “anh ta chẳng có gu thời trang chút nào.”

“Xem cái cách mà người đó nhìn quanh, để ý đến từng chi tiết kìa. Nhưng hắn không hề nhìn về phía chúng ta.”

Cô ta ném ra một câu bông đùa. “Đáng nghi gớm nhỉ.”

“Tôi đã từng nhìn thấy hắn rồi. Hôm nay, trước cửa quán Starbucks. Tôi cho là hắn đang theo dõi tôi.”

“Có thể anh ta chỉ đến đây dự hội chợ nghệ thuật thôi.”

“Tôi không thích vẻ ngoài người đó chút nào. Cô có mang súng không?”

Chiếc túi xách mà cô ta để trên mặt bàn có kích cỡ ngang với một bao thuốc lá.

“Tôi để vào đâu được chứ?” cô ta nói.

“Tôi chỉ có con dao gấp đa năng trong túi thôi. Giá mà tôi có súng.”

“Tôi không cho là anh cần phải bắn người đó đâu.”

“Nếu có súng, tôi sẽ giơ ra cho hắn nhìn thấy và có thể hắn sẽ bỏ đi. Chứ nếu tôi giơ con dao gấp ra, không biết tôi sẽ đạt được cái gì. Một kỉ niệm chương chăng?”

“Anh ta nhìn có vẻ vô hại mà, David.”

“Nhìn bề ngoài thì ai cũng vậy thôi. Tôi không thích cái quần ống hộp. Quá nhiều chỗ để giấu vũ khí. Tôi chỉ muốn đến đó và bắt hắn lộn hết túi ra.”

“Tôi thì nghĩ là anh nên ở yên đây mà uống nốt cốc nước chanh đi.”

Tôi hất hàm về phía cửa ra vào quán Café Felix. “Nếu hắn tới đây, cô chạy ngay vào trong nhé.”

“Chúng ta sẽ cùng trốn vào trong. Nhưng anh ta sẽ chẳng qua đây đâu.”

“Tôi vẫn còn con dao. Tôi cho là mình có thể đâm trúng động mạch đùi. Hắn sẽ chết vì mất máu trong một phút. Như thế ổn chứ?”

“Tôi chẳng muốn biết đâu.”

Bridget lúc đó cũng đeo kính râm giống mọi người - cặp kính đen không gọng - nhưng cô ta bỏ nó ra và lo lắng nhìn tôi.

Tôi mỉm cười, tỏ ý cho cô ta biết thực sự thì mình sẽ không dính vào một cuộc ẩu đả bằng dao giữa hội chợ Nghệ thuật Ann Arbor. Tôi sẽ chẳng thọc dao vào động mạch đùi ai cả. Lúc đó, cô ta mới cảm thấy thoải mái, vì tuy David Loogan hay nói những chuyện có phần điên rồ, anh ta lại là người rất đáng tin cậy. Hôm đó quả là ngày đẹp trời, mặt trời tỏa nắng trên bầu trời xanh ngắt, cô ta có lý do để tin rằng tôi chỉ đùa thôi, hay ít ra là gần như thế.

Tôi nhìn người đàn ông mặc sơ mi kẻ và quần ống hộp lần nữa. Hắn vẫn đứng dưới mái hiên, nhìn về hướng nam tới chỗ ban nhạc đang chơi các bài hát của Dylan. Tôi vuốt tay bên ngoài túi áo để chắc chắn con dao vẫn đang nằm trong đó. Rồi tôi kiểm lại những ước tính của mình lúc nãy. Không cần tới một phút hắn mới chết vì mất máu đâu. Có khi chỉ 30 giây thôi.

Tôi và Bridget tán gẫu về những chủ đề khác. Cô ta hỏi chuyện Elizabeth, trước đó đang điều tra một băng nhóm ăn trộm sách: Bọn học sinh trung học lấy cắp sách trong hiệu sách của trường đại học và đem bán cho một tiệm sách cũ. Câu hỏi mấu chốt là tay chủ tiệm sách cũ này có chân trong đường dây không, hay chỉ đơn giản là người làm ăn tắc trách cẩu thả - và thật ra nó cũng chẳng còn là câu hỏi nữa, vì một đứa nhóc trong nhóm đã khai ra ông ta. Nhưng vụ này đã bị gác lại, tôi kể với Bridget, vì Elizabeth đang phải điều tra vụ giết người trên phố Linden.

Một lúc sau, người tình mới nhất của Bridget xuất hiện. Đó là một phụ nữ tao nhã với mái tóc vàng, sống bằng lợi tức từ quỹ đầu tư và chơi đàn luýt[8] trong các quán cà phê đèn mờ mỗi tối thứ Bảy. Tên cô ta là Ariel hay Amber gì đó, có thể tôi cũng nhớ nhầm loại nhạc cụ. Biết đâu cô ta chơi đàn sitơn[9] cũng nên.

Cuối cùng, hai người đi ăn tối ở quán Palio và để tôi ngồi lại đó một mình. Ban nhạc đã chơi qua nhiều bài hát quen thuộc hơn của Dylan, giờ đang bắt đầu bài “Things Have Changed[10]”. Anh bạn không có gu thời trang đứng bên kia đường vẫn ở lại cho tôi có bầu bạn. Giờ tôi mới để ý một chi tiết mà lúc nãy mình không nhìn thấy. Tay trái hắn quấn băng.

Tôi uống nốt cốc nước chanh thứ hai và cầm lên chiếc phong bì mà mình đã mang theo. Khổ 23x30 cm, không đề tên người gửi, dán bằng một đoạn băng dính. Tôi lấy con dao gấp và mở một lưỡi dao và nếu anh bạn mặc áo kẻ có sợ hãi đi nữa, hắn cũng không để lộ ra. Tôi rạch một đường trên miệng chiếc phong bì rồi nhét con dao trở lại vào túi.

Tôi lấy ra tập bản thảo mỏng - khoảng 8-10 trang ghim lại với nhau. Tôi đọc dòng đầu và nhận ra Dylan đã đúng. Mọi chuyện đã đổi khác.

Khi ngẩng lên, tôi thấy người bạn đồng hành của mình đang nhìn tôi chằm chằm từ bên kia đường. Và mặc dù nãy giờ hắn chỉ lảng vảng dưới mái hiên, lúc này hắn xoay gót và rảo bước về phía nam.

Tôi vụt đứng dậy khỏi bàn, suýt nữa đâm phải đôi vợ chồng già đang chờ tôi rời khỏi chỗ. Bà vợ đang phe phẩy một tập quảng cáo hội chợ làm quạt, còn ông chồng đang nhấc thử một món đồ trang trí vườn bằng đá hình chú vịt ngộ nghĩnh và đặt nó đánh rầm xuống bàn khi mua.

Tới khi gom được hết chiếc phong bì, tập bản thảo và tệp tài liệu, tôi đã mất dấu người bạn đồng hành kỳ dị của mình. Tôi bước ra giữa đường, vào giữa biển khách du lịch - tất cả đều đeo kính râm, một nửa trong số họ đội mũ cát trắng. Tôi nhảy bật trên đầu ngón chân để nhìn cho rõ. Về hướng nam, tôi có thể thấy ban nhạc đang chơi trên vỉa hè phía đông và xa hơn nữa là một dãy các quầy bán đồ ăn. Bên vỉa hè phía tây là một hàng dài nhiều quầy bán các tác phẩm nghệ thuật - những căn lều bạt màu trắng mở rộng. Giữa đường là hai dòng người đông nghịt, một đi về hướng tôi, một theo hướng ngược lại.

Tôi nhìn thấy một bóng người mặc áo kẻ cách đó nửa dãy nhà, nhưng nó biến mất ngay lập tức. Tôi lao đi, xuyên giữa hai sinh viên trong bộ đồ bóng rổ, hướng tới điểm mà tôi đã chọn: Nơi đặt một bức tượng đồng gầy nhẳng. Nhưng được một đoạn, tôi vướng phải một phự nữ đang đẩy xe nôi trẻ con và khi tới được chỗ bức tượng, tôi không còn thấy bóng chiếc áo kẻ đâu nữa.

Không hề ngừng lại, tôi chạy về phía nam, qua những hàng gạch men và ảnh chụp thiên nhiên hoang dã. Chạy tới một quầy hàng bán đồ trang sức Celtic, tôi thoáng thấy chiếc áo kẻ rẽ ngoặt rồi biến mất sau một dãy những tấm bạt trắng. Khi tôi chạy qua chỗ rẽ, hắn đang đứng ở đó, đủ gần để tôi chụp tay lên đôi vai mặc áo kẻ mà xoay hắn lại. Người đó vấp vào lề đường và ngã ngửa trên vỉa hè. Cái mũ cát trắng văng ra, cặp kính râm xiên xẹo và tôi có thể thấy người đó mặc quần kaki chứ không phải quần ống hộp. Tay hắn không quấn băng. Đây không phải là người tôi đang tìm.

Người đó nói, “Cái quái gì thế?” và giận dữ vung tay gạt đi khi tôi giơ tay định đỡ anh ta dậy. Rồi anh ta đi tìm chiếc mũ, không thèm nghe lời xin lỗi của tôi. Vậy là tôi quay trở lại phố. Tôi định sẽ đi tiếp về phía nam, nhưng chợt nhận ra người tôi đang tìm kiếm giờ có thể ở bất cứ đâu - trong ngõ, trên một con phố khác, hay ở một trong số hàng lô các cửa hiệu và quán ăn.

Tôi quyết định quay lại văn phòng. Tôi vẫn cầm theo tập tài liệu, chiếc phong bì cùng các trang giấy cuộn lại trong tay trái. Trong lúc đi, tôi vuốt thẳng lại chúng rồi lấy tập bản thảo mỏng đặt lên trên. Tôi mở một trang ở giữa và đọc lướt trang giấy được đánh máy, xem ngẫu nhiên vài từ: đẩy, đổ vỡ, đèn bàn, đau đầu. Chỉ là một mớ hỗn độn, nhưng điều đó không quan trọng. Riêng câu mở đầu đã nói lên tất cả, phần còn lại chỉ là tiểu tiết thôi.

Tôi giở lại từ đầu và đọc lần nữa một câu trần thuật đơn giản:

Chính tôi đã giết Henry Kormoran tại căn hộ của hắn trên phố Linden.

❀ ❀ ❀

[1] Có nghĩa là “vật lộn”.

[2] Loại cocktail pha từ nước cốt chanh với rượu gin hoặc vodka.

[3] Còn gọi là Kebab, món ăn sử dụng thịt nướng có nguồn gốc từ vùng Trung Đông.

[4] Loại bánh rán phổ biến trong các dịp hội hè ở Mỹ.

[5] Nguyên văn là từ “wrassling” giống như Loogan đã nói ở đoạn trên.

[6] Raymond Thornton Chandler (1888-1959): Nhà văn trinh thám nổi tiếng người Mỹ.

[7] Bob Dylan: Ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng người Mỹ. Ông là một trong những nghệ sĩ có ảnh hưởng nhất tới nền âm nhạc nói riêng và văn hóa thế giới nói chung trong suốt 5 thập kỷ trở lại đây.

[8] Nhạc cụ dây phổ biến thời kì Trung cổ, Rượu oque và Phục hưng. Hộp đàn có hình bầu dục, lưng tròn, dây ghép thành đôi, cổ đàn gập ra sau.

[9] Nhạc cụ dây phổ biến thời Phục Hưng, hộp đàn giống đàn luýt nhưng có dây sắt và lưng phẳng.

[10] Mọi chuyện đã đổi khác.

n trên. Tôi mở một trang ở giữa và đọc lướt trang giấy được đánh máy, xem ngẫu nhiên vài từ: đẩy, đổ vỡ, đèn bàn, đau đầu. Chỉ là một mớ hỗn độn, nhưng điều đó không quan trọng. Riêng câu mở đầu đã nói lên tất cả, phần còn lại chỉ là tiểu t
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.