Khi tôi theo chân ông nghị sĩ ra xe, nhiệt độ đã hạ đôi chút, những ngôi sao bắt đầu ló ra. Tài xế của ông là một chàng trai trẻ có những động tác gọn gàng như trong quân đội. Anh ta mở cửa xe cho ông nghị sĩ với phong thái trơn tru, thuần thục. Tôi nhìn theo chiếc xe đi khuất ngoài phố.
Khách khứa đã ra về hết, những người phục vụ bắt đầu dọn dẹp dưới sự chỉ đạo của Ruth Spencer. Tôi leo lên phòng vẽ ở tầng trên và bắt gặp Elizabeth đang nói chuyện với Callie Spencer. Jay Casterbridge ngồi cạnh vợ mình còn Harlan Spencer quan sát họ trên chiếc xe lăn. Alan Beckett thì nằm ườn trên chiếc ghế bành gần đó. Tôi không bước thêm nữa mà đứng dựa vào ngưỡng cửa.
Elizabeth đã tết và cặp gọn mái tóc dài của mình. Cô đeo một chuỗi hạt ở cổ: Những hạt thủy tinh đen mượt như ngọc trai, sản phẩm của Sarah. Chiếc váy đen của cô được thiết kế kín đáo ở mặt trước, nhưng đằng sau khoét sâu để lộ hai bả vai.
Cô mang theo những bức phác họa tên đàn ông mặc áo kẻ và bản sao tập bản thảo của hắn. Callie Spencer xem xét bức vẽ rồi đưa
“Tôi không nhận ra người này,” cô ấy nói với Elizabeth. “Tôi đã xem bản tin và cha tôi cũng đã kể lại cho tôi giả thiết của cô. Cô cho là người này cảm thấy có gì gắn bó với tôi à?”
“Phải,” Elizabeth nói. “Có thể hắn đã cố liên lạc với cô. Gần đây, cô có nhận được thư từ khác thường nào không? Một lá thư hoặc email có lời lẽ kỳ quặc chẳng hạn?”
“Người ta thường xuyên gửi những lá thư kiểu đó đến chỗ tôi,” Callie nói. “Những bức thật sự quái đản được nhét vào một tệp hồ sơ đặc biệt, chung với những lá thư giận dữ hoặc đe dọa. Nếu muốn, Alan có thể cho cô xem.” Beckett gật đầu khi cô ấy ngoái nhìn ông.
“Được, rồi tôi sẽ xem,” Elizabeth nói. “Nhưng nếu kẻ này viết cho cô, tôi không tin những lá thư lại mang tính đe dọa - ít nhất là không đe dọa cô. Có lẽ chúng thể hiện sự căm phẫn về những gì xảy ra với cha cô nhiều năm trước - dành cho Terry Dawtrey, Henry Kormoran hoặc Sutton Bell.”
“Tôi không nhớ mình đã đọc thứ gì như thế.”
“Nếu kẻ này viết cho cô, có khả năng những lá thư của hắn chẳng tỏ vẻ đe dọa chút nào. Chúng cũng giống những lá thư bình thường. Hắn đã giết hai người, ngoài ra còn cố giết thêm hai người nữa. Nhưng kẻ này vẫn nói chuyện với Bell trước khi tấn công và Bell khai rằng hắn không tỏ vẻ điên loạn chút nào. Thư của hắn có thể chẳng khác gì các lá thư khác của cử tri, nói về những vấn đề quan trọng đối với mình.”
Callie cau mày. “Tôi đã làm hai nhiệm kỳ ở viện dân biểu, nhận hàng trăm, thậm chí hàng nghìn lá thư của cử tri. Tôi không tin là chúng có ích gì cho cô cả.”
“Nhưng cô vẫn lưu giữ chúng, phải không?”
“Đúng. Nhưng tôi không thể cho cô xem những lá thư đó được. Mà kể cả có đi nữa, như thế thì ích gì? Cô vừa nói lá thư của hắn nhìn chẳng có gì khác thường mà.”
Elizabeth cầm tập bản thảo lên. “Không hẳn thế.”
“Vậy nghĩa là sao?”
“Nghe này, điều tôi sắp nói với cô là tối mật,” Elizabeth nói. “Cánh báo chí chưa biết chi tiết này. Tôi yêu cầu cô không được tiết lộ.”
“Được rồi,” Callie nói.
Elizabeth nhìn một lượt Jay Casterbridge cùng những người khác. Tất cả đều gật đầu.
“Đây là tài liệu chúng tôi nhận được từ chính tay kẻ giết người,” cô nói, tay cầm tập bản thảo. “Nó là bản tường thuật của chính hắn về những tội ác mình gây ra. Hắn đã cẩn thận không để lại chữ ký hay bất cứ dấu vết gì...”
Callie ngắt lời. “Nhưng cô cho rằng trong này có manh mối gì giúp ta lần ra hắn?”
“Không phải những thứ được viết trong này,” Elizabeth nói. “Mà là những gì bị thiếu.”
“Ý cô là gì? Thứ gì bị thiếu cơ?”
“Trạng từ.”
Tôi đã đọc bản thảo của gã mặc áo kẻ tới 5-6 lần, nhưng Sarah mới là người phát hiện ra điểm khác thường về trạng từ. Tôi và Elizabeth biết được chi tiết này sáng hôm đó.
Thường thường vào các buổi sáng Chủ nhật, gia đình Waishkey thức giấc rất muộn, sau đó ăn sáng thật no nê. Chủ yếu Sarah lo việc nấu ăn, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng làm vài món đơn giản như trứng rán hoặc bánh mì nướng. Hay như hôm nay là món bánh kếp.
Tôi đun bơ trong chảo cho tan ra, một dây xúc xích nằm trong một chảo khác. Sarah ngồi ở bàn, cắt từng lát táo vào bát đựng bột bánh. Elizabeth thì đang kể lại vụ cướp hiệu thuốc bằng súng trường của tên đàn ông áo kẻ tối qua.
“Nghe có vẻ không hợp lý lắm,” Sarah nhận xét.
“Chuyện xảy ra đúng như thế mà,” Elizabeth đáp.
“Hắn đã vi phạm những nguyên tắc cơ bản nhất.”
“Những nguyên tắc cơ bản nào thế?”
“Nguyên tắc khi cướp một cửa hiệu ấy mà,” Sarah nói. “Chúng ta đã từng nói về chủ đề này rồi. Khi đi ăn cướp, ta không dùng súng trường mà dùng súng lục, vì có thể dễ dàng cất giấu tới khi cần dùng. Nhờ vậy, ta giữ được yếu tố bất ngờ. Khi sẵn sàng, ta chỉ việc rút khẩu súng ra và chĩa vào mặt người thu ngân.”
“Mẹ không nhớ mình đã bàn về chuyện này,” Elizabeth nói.
“Mục đích là khiến nạn nhân kinh hoàng mà không có thời gian suy nghĩ. Sau đó, ta ra lệnh thật ngắn gọn: Mở ngăn kéo ra. Đưa tiền đây. Bao giờ ta cũng phải giữ cho giọng nói thật hung tợn, nếu bình thản quá nạn nhân lại không sợ.”
Elizabeth nghiêng đầu. “Chính xác là chúng ta nói về chuyện này khi nào thế nhỉ?”
“Từ hồi còn học cấp hai,” Sarah trả lời. “Hồi đó, mẹ giúp con viết một bài luận. Đề bài là ‘Cách làm bánh nướng’ nhưng chúng ta nói chuyện hơi lạc đề một chút.” Cô bé đã cắt táo xong và đưa cho tôi bát đựng bột. “Khi người thu ngân đưa tiền, một tay ta phải rảnh để nhận lấy. Thêm một lý do nữa để dùng súng lục thay vì súng trường.”
“Từ hồi cấp hai à?”
“Môn tiếng Anh lớp bảy. Con chỉ được điểm B. Đáng lẽ con đã được điểm A nếu mẹ biết cách làm bánh. Nhưng tại sao tên này lại dùng súng trường? Có phải là vì hắn điên không?”
Tôi đổ bột bánh vào chảo. Bên cạnh tôi, Elizabeth đang tựa vào quầy bếp.
“Mẹ không chắc là hắn điên đâu,” cô nói. “Những việc hắn làm đều có logic nhất định. Hắn biết cách dùng súng trường ở nghĩa trang Whiteleaf để hạ thủ được Terry Dawtrey từ xa. Khi cướp hiệu thuốc, hắn cũng sử dụng súng trường vì đó là thứ vũ khí hắn đã sở hữu từ trước. Có lẽ một khẩu súng lục thì tốt hơn, nhưng súng trường cũng hiệu quả không kém mà.”
Miếng xúc xích kêu xèo xèo trên chảo, tôi vặn nhỏ lửa. Elizabeth nói tiếp. “Cướp hiệu thuốc khác với cướp siêu thị. Không thể vào rồi ra chớp nhoáng được. Hò hét trước mặt dược sĩ, chĩa súng vào mặt cô ta cũng chẳng ích gì. Hắn không muốn thu hút sự chú ý.
“Tên mặc áo kẻ đã để súng trường vào xe đẩy hàng và cứ thế đi trong hiệu thuốc mà không ai biết. Hắn đòi hai thứ: Thuốc kháng sinh Keflex và thuốc giảm đau Imitrex, vốn dùng để chữa chứng đau đầu. Người dược sĩ đưa hắn cả hai loại thuốc và hắn lại để khẩu súng vào giỏ hàng mà rời khỏi đó. Không ai nhìn thấy xe của hắn cả. Trong hiệu thuốc cũng có camera, nhưng chúng chỉ chiếu từ trên xuống và chiếc mũ lưỡi trai che khuất khuôn mặt hắn.
“Nếu hắn thực sự bị điên thì điều này cũng không gây hại gì đến hắn cả, mà cũng không giúp ta tóm hắn được. Giờ mẹ chẳng biết phải làm sao nữa.”
“Sớm muộn gì mẹ cũng bắt được hắn thôi,” Sarah nói. “Rồi hắn sẽ tự để lộ bản thân, giống như hắn đã làm với tập bản thảo ấy.”
“Con xem bản thảo của hắn khi nào thế?” Elizabeth cau mày hỏi.
Sarah nhún vai. “Hôm trước. Mẹ để bản sao của nó ở nhà mà.”
“Đâu có,” Elizabeth nói, mắt nhìn tôi. Tôi vẫn tập trung nấu nướng, tay lật bánh kếp trong chảo.
“Điều đó có quan trọng lắm không ạ?” Sarah hỏi.
“Vẻ mặt nguyên tắc thì có,” Elizabeth đáp. “Nhưng thôi, chúng ta hãy bỏ qua chuyện đó. Mẹ chẳng tìm ra manh mối nào về danh tính của hắn trong tập bản thảo cả. Con đã thấy được thứ gì thế?”
“Phải là những thứ con không thấy được chứ.”
“Trạng từ,” Elizabeth nói với Callie Spencer. “Hắn không dùng trạng từ. Cả bản thảo dài như vậy không có lấy một trạng từ nào.”
Callie nhăn nhó nhìn cô. “Cô nghiêm túc đấy chứ? Giờ cô muốn lục hồ sơ của tôi để tìm những lá thư của cử tri mà trong đó không có trạng từ nào?”
“Tôi biết là không dễ dàng gì.”
“Gọi là quá đáng mới chính xác. Ngay cả khi tôi có thể bỏ qua vấn đề bảo mật - thực tế là không thể được - rất nhiều người viết thư cho tôi cực kỳ ngắn gọn. Nếu họ chỉ viết có vài dòng, có lẽ cũng không cần dùng trạng từ nào cả.”
“Nhưng kẻ chúng ta đang tìm kiếm lại cố gò ép để khỏi phải sử dụng đến chúng,” Elizabeth nói. “Hắn viết ‘theo phương thức dữ dội’ thay vì ‘một cách dữ dội.’ ‘Không gây nhiều tiếng động’ thay vì ‘một cách lặng lẽ.’ Nếu cô nhận được lá thư nào từ hắn, nó sẽ nổi bật hẳn lên.”
Đứng bên ngưỡng cửa, tôi có thể thấy nét mặt Callie Spencer thay đổi - cô ấy đang nao núng. Chắc hẳn Harlan Spencer cũng nhìn ra điều này.
“Cô phải thật kín tiếng đấy,” ông nói với Elizabeth.
“Hiển nhiên rồi,” cô đáp.
“Có lẽ con nên cân nhắc lại,” Spencer nói với con gái.
Callie nhìn Jay Casterbridge, khi đó đang gõ ngón tay lên một cái cốc rỗng đặt trên đùi.
“Cứ làm những gì em cho là đúng,” anh ta nói.
Cô nhìn Alan Beckett. Ông ta ngồi ngả ngốn trên ghế sa lông, một tay chống cằm.
“Đã làm thì phải bí mật thôi,” ông ta nói. “Nếu lộ ra, mọi chuyện sẽ tồi tệ lắm đấy.”
Callie quay lại nhìn Elizabeth. Bỗng nhiên, cô ấy ngồi thẳng lại, cằm nâng lên. Đó là sự chuyển đổi mà tôi đã từng được chứng kiến. Cô ấy vừa giấu kín sự hoài nghi của mình.
“Không,” cô ấy nói. “Dù thế nào đi nữa, những người viết thư cho tôi có quyền tin tưởng rằng tôi sẽ không giao nộp thư của họ cho cảnh sát mà không có lý do chính đáng. Tôi không thể để các vị đi tra hỏi hết người nọ đến người kia chỉ vì họ đã viết một lá thư với lời lẽ hơi khác thường.”
Cô ấy đứng dậy. Elizabeth cũng đứng lên trong khi thu lại tập bản thảo và những bức phác họa tên mặc áo kẻ.
“Tôi xin lỗi,” Callie Spencer nói. “Giá mà tôi có thể giúp cô. Tôi sẽ giao nộp cho cô tập tài liệu chứa những lá thư đe dọa. Vậy thôi. Cái gì cũng có giới hạn của nó.”