Không quan trọng con làm cách nào, cha Lark từng nói. Miễn là đạt được mục đích.
Thomas Lark đã lắp ráp xe Mustang ở nhà máy Dearborn bên bờ sông Rouge suốt 30 năm. Chỉ sau vài tháng vào làm, ông chẳng còn chút hứng thú nào với công việc, nhưng dù sao ông vẫn bám trụ ở đó. Ông chỉ thèm muốn vài điều giản dị thôi - lấy vợ, xây dựng gia đình, có lẽ là thêm một chiếc thuyền câu nhỏ nữa - và ông chẳng quan tâm mình làm cách nào, miễn là cuối cùng đạt được mục đích.
Vậy là ông làm việc ròng rã ở đó ngày này qua ngày khác, trải qua bao đợt sa thải và giảm biên chế, rồi lập gia đình - với Helen, một giáo viên mầm non. Họ sinh được một cậu con trai, đặt tên là Anthony. Những năm sau đó, Thomas Lark mua bốn chiếc thuyền, đầu tiên chỉ một chiếc xuồng con bằng nhôm, sau cùng là một chiếc thuyền máy nhỏ bằng sợi thủy tinh dài hơn 7 mét. Sau 30 năm làm việc ở nhà máy, ông chỉ nghỉ hưu được có 2 năm trước khi gục xuống vì đau tim trên bến thuyền vào một sớm mùa xuân đẹp trời, một tiếng trước buổi bình minh.
Helen Lark, người đã dành cả đời dạy bọn trẻ những chữ cái và con số, chưa từng than phiền về phép tính cuộc đời của chồng bà: 30 năm đổi lấy 2 năm. Khi Anthony Lark khóc nức nở trong đám tang của cha, bà kéo con trai lại gần và cố hết sức an ủi con trai. Rồi bà nắm lấy vai hắn mà nói, “Hứa với mẹ là con sẽ tận dụng hết quãng thời gian còn lại nhé.”
Hắn nhớ đến bà vào buổi sáng hôm sau cuộc chạm trán với Charlie Dawtrey và mặc dù rất muốn ngủ nướng cả ngày, hắn cảm thấy làm vậy thật là sai trái. Đám tang Dawtrey phải vài ngày nữa mới được tổ chức, nhưng còn mấy việc hắn cần chuẩn bị trước.
Hắn lái xe một quãng đường dài về phía nam trong nắng ấm dìu dịu của tháng Sáu, tầm giữa buổi sáng thì đi qua cầu Mackinac - bắc giữa hồ Michigan ở bên phải và hồ Huron ở bên trái. Hắn tiếp tục đi, đầu tiên là tới thị trấn Grayling bên sông Au Sable, rồi xuôi theo phía tây tới thành phố Traverse. Tại một hiệu bán đồ thể thao trên phố Front, hắn mua một khẩu súng săn Remington, một ống ngắm và một hộp đạn 30-06. Hắn ăn trưa trong công viên cạnh bờ hồ và ngắm những chiếc thuyền buồm trong vịnh.
Hắn lái xe trở lại Grayling vào buổi chiều và đi đường I-75 về phía bắc. Khi bắt gặp một đường rẽ có vẻ chẳng dẫn tới chỗ nào đáng chú ý, hắn rời đường cao tốc liên bang mà đi vào đó, cho tới khi hắn thấy một con đường không trải nhựa ở trước mặt, xuyên qua những cánh đồng mâm xôi dại và một kho chứa ngũ cốc bỏ hoang.
Đi quá kho ngũ cốc 5 cây số, hắn đỗ lại bên đường rồi lấy khẩu súng ra khỏi cốp xe. Hắn lắp ống ngắm, nạp đạn rồi bắn vào rặng cây cách vệ đường gần 30 mét. Phát súng đầu tiên làm bung một mảnh vỏ từ một thân cây tần bì còi cọc. Một đôi quạ hoảng hốt bay vụt lên - những đôi cánh đen thẫm hoảng loạn in trên nền trời xanh. Hắn bắn thử vài phát nữa, nhét khẩu súng trở lại trong cốp, rồi lái xe quay về đường I-75.
Ngày hôm sau, hắn gọi vài cú điện thoại từ phòng khách sạn và tìm ra nhà tang lễ lo việc an táng cho Charlie Dawtrey. Buổi lễ cầu siêu sẽ được tổ chức ở nhà thờ Saint Joseph ở Sault Sainte Marie, liền ngay sau đó là lễ hạ huyệt ở một nghĩa trang thành phố. Lễ tang sẽ được cử hành vào ngày mùng 8 tháng Bảy, từ giờ đến lúc đó còn một tuần rưỡi. Hắn cảm thấy phấn chấn về điều đó. Cả gia đình cần nhiều thời gian sắp xếp để Terry Dawtrey có thể tới dự.
Những ngày chờ đợi trôi qua chậm chạp, nhưng Lark chẳng bận tâm. Thỉnh thoảng vào buổi tối, hắn lướt qua các kênh TV và tìm được hình ảnh người phụ nữ với nụ cười khả ái. Hắn vặn thật nhỏ tiếng TV rồi ngắm nhìn cô ấy, những cơn đau đầu không còn dâng lên nữa.
Nếu không tìm thấy cô ấy trên TV, hắn có thể đọc sách bao nhiêu tùy thích. Hắn mang theo mấy cuốn tiểu thuyết bìa mềm -của Dennis Lehane[1] và Michael Connelly[2] - và vài ấn bản tạp chí trinh thám Gray Streets.
Hắn đặc biệt ham thích thể loại truyện trinh thám vì văn phong của nó thường khá đơn giản, câu cú không cầu kì. Những con chữ nằm yên trên mặt giấy - không giống những cái tên hắn đã viết trong cuốn sổ tay, cách chúng nổi bồng bềnh và hít thở khiến hắn khó chịu.
Có hẳn một thuật ngữ khoa học miêu tả chứng bệnh của hắn, bác sĩ đã nói hết cho hắn nghe. Cảm giác kèm. Một sự rối loạn giác quan. Một hội chứng hiếm gặp không ai giống ai. Người thì cảm giác tiếng động cũng có màu sắc, người khác thì gắn liền các hình hoa văn với cảm xúc. Trong trường hợp của Lark, những con chữ đi liền với màu sắc và chuyển động.
Ngôn từ hoa mỹ thường làm hắn bối rối. Những đoạn văn trong các bộ tiểu thuyết thế kỉ XIX có thể rực sáng như than hồng hay bò lổm ngổm thành từng búi rắn rết. Thực tế thì, hắn cố tránh đọc bất cứ thứ gì được viết trước Thế chiến thứ nhất. Hemingway là ngưỡng thời gian chuẩn. Câu văn của Hemingway có màu xanh nước biển đậm và chúng thường nằm im như những cọng lúa mì trong ngày lặng gió.
Phần lớn các tiểu thuyết được sáng tác trong khoảng thập niên 50 và 60 khá an toàn. Kurt Vonnegue viết những đoạn văn xanh ngọc dễ chịu, chúng di chuyển thong thả như chiếc thang cuốn chậm chạp. Joseph Heller[3] thì khác hẳn. Các nhân vật của Heller hiếm khi bước ra và nói năng theo cách thông thường: Thay vào đó, các nhân vật “khóc lóc điên cuồng”, “hồ hởi tuyên bố”, “thì thầm một cách cẩn trọng”. Tất cả các trạng từ tả hành động đó khiến Lark không tài nào đọc hết nổi cuốn Catch-22[4]. Với Lark, các trạng từ kêu rè rè như lớp tĩnh điện trên màn hình TV hay bò nhung nhúc như đàn kiến.
Các tiểu thuyết trinh thám ít khi gây rắc rối. Những câu văn dí dỏm viết ở ngôi thứ nhất trôi đi bình lặng thành một dòng suối những con chữ mát mẻ màu xanh lá. Vậy nên, việc xem tiểu thuyết trinh thám hay các chuyện giật gân trên báo choán phần lớn thời gian hàng ngày của Lark trong khi chờ đợi đám tang của Charlie Dawtrey.
Cái chết của Dawtrey tràn ngập trên các mặt báo. Báo ra lúc sáng đưa tin việc điều tra đang tiến triển thuận lợi. Cảnh sát trưởng hạt Chippewa tin chắc rằng sẽ sớm có bước đột phá. Rồi một dòng tít thông báo việc Kyle Scudder đã bị bắt.
Những diễn biến này Lark không hề ngờ tới, dù hắn tự nhủ đáng lẽ mình phải tính đến từ trước mới phải. Scudder đã dính vào cuộc ẩu đả với Charlie Dawtrey đúng cái đêm lão già chết. Anh ta đã hạ Dawtrey đo ván trước mặt bao nhiêu nhân chứng trong quán rượu.
Những ngày sau khi đọc tin tức đó, Lark viết kín vài trang sổ tay, tóm tắt lại cuộc chạm trán của hắn với Charlie Dawtrey. Ban đầu, hắn định sẽ đào sâu vào nguyên nhân và động cơ hành động, nhưng rồi khi hắn viết, những câu chữ đều đen thui (không đẹp chút nào), lởm chởm và sần sùi. Chúng nằm run rẩy trên mặt giấy cho đến khi hắn gạch đi hết và quyết định sẽ chỉ viết những sự việc đã xảy ra thôi.
Một ý nghĩ lóe lên trong đầu hắn, rằng hắn có thể gửi bản tự thuật của mình tới luật sư của Kyle và cứu người đàn ông vô tội này khỏi phải ra tòa vì tội giết người. Nhưng nhìn toàn cục, việc đó chẳng quan trọng mấy. Hắn không cảm thấy mình có trách nhiệm gì với Scudder cả.
Trên đời này làm gì có công lý, cha hắn đã từng nói thế.
Nhưng Lark thực sự cảm thấy mình phải đứng ra nhận trách nhiệm về cái chết của Charlie Dawtrey. Tất cả chúng ta phải chịu trách nhiệm về hành động của mình, hắn nghĩ. Bằng không, sẽ chẳng có ai biết đến chúng ta cả. Chân lý này không đến từ cha hắn, mà là những lời bác sĩ của hắn thường nói.
Ai cũng muốn được thấu hiểu. Tất cả chúng ta đều muốn được nhìn nhận đúng với bản chất thật của mình.
Ánh mặt trời phản chiếu rực rỡ trên chóp nhọn bằng đồng của nhà thờ Saint Joseph. Khi chuông trên tháp điểm mười tiếng, Anthony Lark đang nghe ngóng từ chiếc Chevy của mình trong bãi đỗ xe bên kia đường. Hắn có thể nhìn thấy cổng nhà thờ mở rộng, hai cánh cửa gỗ sồi cũng mở toang.
Hàng tá người đưa tang đã vào bên trong, nhiều hơn hẳn so với dự tính của Lark. Lúc trước, hắn chắc mẩm Charlie Dawtrey chỉ có một thằng con duy nhất, nhưng giờ hắn đoán có lẽ ông ta còn vài đứa con nữa, cả một đại gia đình. Lark nhìn họ bước xuống những bậc thang đá hoa cương của nhà thờ.
Người phụ nữ trong quán Cozy Inn đêm đó - Madelyn - tới muộn. Bà ta dẫn theo một thiếu niên, chính là cậu bé trong tấm ảnh treo trên tường căn chòi của Dawtrey.
Lark dõi theo khi họ bước vào trong và sau đó, hắn thấy một chiếc xe cảnh sát đỗ lại trước cầu thang đá hoa cương. Một cảnh sát đậm người với mái đầu xoăn mở cửa phía lái và bước ra trước xe, nhìn tới nhìn lui khắp phố. Người thứ hai - trẻ và gầy hơn - mở cửa sau xe và lôi Terry Dawtrey ra.
Dawtrey mặc một bộ com lê xám rộng thùng thình, không thắt cà vạt. Mái tóc đen của gã đã bị cạo hết. Hai tay gã thu lại phía trước. Một tia nắng phản chiếu lên vòng kim loại của chiếc còng trên cổ tay.
Chân gã cũng phải đeo xiềng. Gã bước ngang, tập tễnh lên từng bậc thang, một cảnh sát túm khuỷu tay gã trong khi người kia theo dõi tình hình trên phố. Khi cả ba đã biến mất sau cổng nhà thờ, Lark nổ máy đi khỏi bãi đỗ xe về hướng tây.
Nghĩa trang Whiteleaf nằm dưới chân một đồi thông rậm rạp. Lark đi giữa những rặng cây, mang theo khẩu súng trường được quấn trong chăn. Hắn đỗ xe cách đó 400 mét, bên lề con đường chạy quanh nghĩa trang. Hắn thấy như thế cũng ổn. Lúc ấy, hắn đã để ý thấy một chiếc Camaro han gỉ đỗ gần đó, nửa trên mặt đường nửa trên đám cỏ dại.
Lark tìm đến vị trí mình đã chọn hôm trước, một khoảnh đất phẳng dưới bóng cây thông trắng mà từ đó có thể nhìn xuống nghĩa trang bên dưới.
Gần một tiếng trôi qua, những chiếc xe đầu tiên xuất hiện. Lark quan sát chúng từ sườn đồi, nơi hắn đang ngồi với khẩu súng trường đặt ngang trên đùi. Trong khi chờ xe cảnh sát, hắn chợt hoảng sợ với ý nghĩ mình đã phạm sai lầm. Có lẽ hai cảnh sát đó sẽ không đưa Terry Dawtrey tới đây, có lẽ gã chỉ được dự buổi lễ ở nhà thờ thôi.
Lark quan sát nhóm người khiêng quan tài tụ lại sau chiếc xe tang. Người chủ trì tang lễ mặc đồ đen, sắp xếp bọn họ thành hai hàng rồi kéo quan tài ra. Vẫn chưa thấy bóng dáng chiếc xe cảnh sát đâu, Lark bắt đầu nghiêm túc cân nhắc việc vắt chân lên cổ để chạy về chỗ đỗ xe. Biết đâu đấy, hắn sẽ bắt gặp chiếc xe cảnh sát đang trên đường trở về nhà tù Kinross và ép nó khỏi đường. May ra vẫn chưa đến nỗi quá muộn.
Linh mục của nhà thờ Saint Joseph đứng bên huyệt, xung quanh ông ta là một nhóm nhỏ những người tới đưa tang. Madelyn đứng tách ra một chút, bận một chiếc áo cánh màu tối và váy dài. Cậu bé trong tấm ảnh treo ở nhà Dawtrey đứng dựa vào bà ta.
Nhóm người khiêng quan tài đặt nó vào vị trí. Vị linh mục mở cuốn Kinh thánh. Và cuối cùng, chiếc xe cảnh sát cũng xuất hiện, chầm chậm lăn bánh trên con đường trải sỏi của bãi đỗ xe.
Khi Terry Dawtrey lê bước qua bãi cỏ nghĩa trang với hai cảnh sát áp giải hai bên, Lark đã vào vị trí dưới tán cây thông trắng. Hắn nằm sấp, tì báng súng vào vai, hai khuỷu tay và ngón chân sục vào đám lá thông mềm. Qua ống ngắm, hắn dõi theo bước chân của Dawtrey qua bãi cỏ, nhưng viên cảnh sát đậm người làm cản trở đường bắn của hắn.
Lark ngả khẩu súng xuống đất. Hai cảnh sát dẫn Dawtrey đến bên kia huyệt mộ, tách khỏi đoàn người đưa tang. Vị linh mục bắt đầu nói, nhưng khi vang tới chỗ Lark, lời ông ta chỉ còn là những tiếng văng vẳng không rõ ràng. Lark tự cho phép bản thân nhìn quanh những hàng bia đá. Chỉ vài ngôi mộ là có vẻ được chăm chút. Trước một bia mộ đặt một bình hoa nhựa cắm hoa hồng và dương xỉ.
Mắt Lark nhìn dọc theo những hàng bia mộ rồi lia sang hàng rào nghĩa trang: Các cột xi măng cách đều nhau với những hàng song sắt màu đen chen giữa.
Một phần hàng rào chạy ngang qua chân đồi bên dưới hắn, ai đó đã buộc một miếng vải màu vàng lên song sắt. Hai đầu dải buộc bay phấp phới trong gió nhẹ.
Vị linh mục phát biểu ngắn gọn và khi Lark tập trung trở lại vào việc theo dõi đám tang, người chủ trì tang lễ đang kín đáo làm phép, nhấn nút hạ quan tài xuống huyệt.
Vài người đưa tang bước tới đống đất, bốc một nắm để rắc lên quan tài. Madelyn và cậu bé cũng nằm trong số họ. Khi đám đông bắt đầu tản đi, hai cảnh sát dẫn Terry Dawtrey tới chỗ đống đất để gã có thể thực hiện nghi thức. Gã sục đôi tay bị còng vào đất rồi thả cho chúng rơi qua kẽ ngón tay như một trận mưa màu đen.
Sau đó, Terry Dawtrey nói riêng điều gì với hai viên cảnh sát áp tải. Một lúc sau, họ tách nhau ra. Lark nâng súng lên vai, nhìn Dawtrey bắt đầu đi hướng ngược lại với nhóm những người đưa tang tản mát còn nán lại, viên cảnh sát mảnh khảnh theo sau gã ở một khoảng cách vừa phải. Người cảnh sát kia thì ra nói chuyện với linh mục.
Lark chăm chú nhìn qua ống ngắm và thấy đôi giày đen của Dawtrey kéo lê trên đường, dây xiềng rung lên. Ống ngắm giương lên, điểm chữ thập lướt qua hai bàn tay đang đan vào nhau của Dawtrey và vòng tròn ánh bạc của chiếc còng. Nó tiếp tục lướt lên trên tới khi mặt gã nằm trọn trong ống ngắm. Đôi mắt căng thẳng dường như đang tìm kiếm thứ gì đó.
Lark ngẩng lên khỏi ống ngắm và nhìn thấy toàn cảnh: Dawtrey đang tập tễnh đi về phía ngôi mộ có đặt bình hoa hồng phía trước, mỗi bước chân lại dẫn gã tới gần vị trí của Lark hơn. Người cảnh sát mảnh khảnh giờ đi sau gã vài mét.
Hắn lại nhìn qua ống ngắm, nhìn vào cái đầu đang cúi xuống của Dawtrey, vào đôi vai xuôi xuống mệt mỏi. Hắn nhằm giữa ngực Dawtrey, vào một khoảng áo sơ mi trắng lộ ra giữa hai ve áo vest. Ngón tay hắn căng cứng trên cò súng.
Bỗng một tràng tiếng nổ phá tan sự im lặng - liền một loạt như súng máy. Lark giật mình nhìn lên khỏi ống ngắm và quay sang trái để tìm nguồn gốc âm thanh đó. Những tia lửa lóe lên phía xa, bắn thẳng lên từ mặt đường trải sỏi của bãi đỗ xe. Hai thằng nhóc cười khanh khách và nhảy lùi lại khỏi đám tia lửa. Chúng mặc quần soóc bò và đi giày tennis, áo sơ mi mở phanh để lộ thân mình gầy gò rám nắng. Hai đứa chỉ khoảng 16 hoặc 17 tuổi là cùng. Một đứa dùng bật lửa châm ngòi và ném thứ gì đó lên mặt đường, thế rồi một tràng tiếng nổ vang lên.
Lark ngoảnh trở lại bãi cỏ nghĩa trang vừa kịp lúc để thấy Terry Dawtrey ngồi xổm bên lọ hoa hồng, bứt thứ gì đó từ bãi cỏ. Rồi những ngón tay phải của Dawtrey lần lượt chạm vào hai cẳng chân và cái xiềng rơi xuống lối đi. Gã lao đi như vận động viên chạy nước rút lúc xuất phát - không còn hình ảnh đôi vai so lại hay dấu hiệu mệt mỏi nào nữa. Gã chạm tay phải vào cổ tay trái, tay trái vào cổ tay phải và hai vòng kim loại của chiếc còng tay rớt xuống thảm cỏ. Hai cánh tay gã vung lên và gã chạy thẳng tới chỗ miếng vải màu vàng buộc trên hàng rào.
Lark nhìn qua ống ngắm, loạng choạng nhắm vào ngực Dawtrey và bóp cò. Không có chuyện gì xảy ra cả. Hắn ngẩng lên khỏi ống ngắm và lắc lắc khẩu súng, cứ như thể làm vậy sẽ giải quyết được vấn đề. Khẩu súng làm hắn phân tâm phần nào khỏi những gì diễn ra bên dưới. Dawtrey đã gần tới chỗ hàng rào. Hai thằng nhóc mặc quần soóc trèo lên xe đạp và tẩu thoát. Những người đưa đám tản mát hết nhìn Dawtrey lại nhìn ra bãi đỗ xe. Người cảnh sát đậm người gạt vị linh mục qua một bên, chạy xuyên qua nhóm người đưa tang.
Viên cảnh sát mảnh khảnh lao trên lối đi đuổi theo Dawtrey, tay rút súng từ trong bao đeo ở thắt lưng.
Lark vặn chốt trên khẩu súng và viên đạn lép bay trong không trung, đáp xuống nhẹ nhàng trên đám lá thông. Bên dưới, Terry Dawtrey đã tới chỗ hàng rào và nhảy bật lên, hai tay túm lấy thanh ngang trên cao. Người cảnh sát mảnh khảnh hét lên, kêu gã đứng lại.
Dawtrey leo qua hàng rào, tiếp đất vụng về và chạm chân xuống sườn đồi nghiêng. Gã chộp lấy đám cỏ dại để đứng vững. Người cảnh sát đuổi theo sau, hò hét qua hàng rào.
Báng khẩu súng trường tì vào vai Lark, chữ thập ngắm trên cổ áo sơ mi trắng mở rộng của Dawtrey. Khi Lark bắt đầu bóp cò, cằm Dawtrey giật ngược lên và một lỗ đỏ sẫm hiện ra ở khoảng hõm ngay dưới cổ gã.
Tiếng súng vọng tới chỗ Lark và hắn bóp cò theo phản xạ, khẩu súng trường nổ đúng lúc Dawtrey ngã quỵ xuống sườn đồi. Viên đạn không trúng đích bay vọt qua vai gã. Lark hạ khẩu súng trường xuống đất và nhìn xuống thấy viên cảnh sát mảnh khảnh đang đứng với khẩu súng lục thò qua hàng rào. Khói bay lên từ họng súng. Lark có thể nghe thấy tiếng chửi bới của viên cảnh sát vọng lên sườn đồi, nhìn thấy khuôn mặt anh ta cau có quay đi, tay nhét khẩu súng vào bao một cách giận dữ.
Dawtrey nằm bất động trong đám cỏ, cái đầu trọc của gã nằm dưới sườn đồi chưa tới 20 mét. Lark bò bằng đầu gối và khuỷu tay, kéo lê khẩu súng theo sau mà rút lui khỏi quả đồi. Một loạt những âm thanh láo nháo bên dưới. Viên cảnh sát đậm người đang hò hét ra lệnh.
Lark bò sát đất cho tới khi hắn lùi xa hẳn khỏi đỉnh đồi. Sau đó, hắn quấn khẩu súng vào tấm chăn và bắt đầu cuốc bộ trở lại chỗ đỗ xe.
Vụ nổ súng trở thành tin tức nổi bật nhất của bản tin tối. Tên tội phạm khét tiếng Terry Dawtrey bị một nhân viên cảnh sát bắn chết trong khi đang cố gắng tẩu thoát. Lark xem bản tin khi nằm trên giường khách sạn. Một túi đá bị bỏ quên đang tan chảy, cơn đau đầu của hắn chỉ còn là một dư âm xa xăm.
Người phụ nữ với nụ cười khả ái lại xuất hiện trên truyền hình. Một phóng viên đứng giữa đám đông gọi tên cô ấy, hỏi cô ấy có phản ứng gì trước cái chết của Dawtrey. Nhưng cô ấy lắc đầu buồn rười rượi mà không nói lời nào.
Lúc nửa đêm, Lark tắt TV và với lấy cuốn sổ tay. Hắn giở một trang mới và dùng chiếc bút máy Waterman viết dàn ý tường thuật lại những sự kiện xảy ra trong ngày - bởi vì tất cả chúng ta phải chịu trách nhiệm về hành động của mình.
Khoảng 1 giờ đêm, cuốn sổ tay đổ ra phía trước, nằm úp trên ngực hắn. Hắn nháy mắt cho tỉnh cơn ngủ gật, trở mình, tìm thấy cây bút nằm lăn lóc trên ga trải giường. Hắn giở lại phần trước cuốn sổ tới bản danh sách của mình: Henry Kormoran. Sutton Bell. Terry Dawtrey. Những con chữ màu đỏ hít thở trên mặt giấy. Kormoran và Bell đang sống ở Ann Arbor. Lark tự cho phép mình ngủ dậy muộn sáng mai rồi lái xe tới đó truy tìm bọn chúng.
Sau một thoáng lưỡng lự, hắn gạch một đường qua tên của Dawtrey. Hắn cảm thấy mình có đặc quyền làm thế, mặc dù chuyện không hẳn là xảy ra theo đúng kế hoạch ban đầu.
Hắn muốn tên đó phải chết và gã đã chết thật. Không quan trọng hắn làm cách nào, miễn là đạt được mục đích.
❀ ❀ ❀
[1] Dennis Lehane (sinh năm 1965): Tác giả trinh thám người Mỹ.
[2] Michael Connelly (sinh năm 1956): Tác giả trinh thám người Mỹ.
[3] Joseph Heller (1923 - 1999): Nhà văn người Mỹ, tác giả của nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch và kịch bản phim.
[4] Tiểu thuyết trào phúng của tác giả Joseph Heller, lấy bối cảnh Thế chiến thứ hai.