Cô ấy đứng chờ tôi ở đó, yên lặng như thể mọc lên từ bãi cỏ.
“Sao cô phải nấp?” tôi hỏi.
“Tôi vẫn chưa biết phải làm gì.”
“Cô ăn mặc kiểu gì thế này?”
“Tôi không nghĩ điều đó có gì quan trọng cả.”
“Quần bò và dép xăng đan. Không ra vẻ thượng nghị sĩ chút nào.”
“Tôi đã làm thượng nghị sĩ đâu.”
Chiếc quần bò nhạt màu, cái áo phông in logo của Đại học Michigan có một vết rách ở cổ. Tôi có thể mường tượng được phần nào dáng vẻ của Callie Spencer ở tuổi đôi mươi khi còn là sinh viên trường luật.
“Cô đã bám theo tôi,” tôi nói. Một lập luận tuyệt hảo. Tôi có thể nhìn thấy chiếc Ford xám bạc đỗ trên phố ngay sau lưng cô ấy. Tôi đã quá chú tâm theo đuôi Jay Casterbridge mà không để ý tới cái đuôi phía sau mình.
“Anh đi theo chồng tôi tới đây,” cô ấy nói. “Tại sao?”
“Tôi đang tìm Lucy Navarro.”
Nãy giờ, giọng cô ấy rất nghiêm túc, vì thế tôi ngạc nhiên hết sức khi cô ấy bật cười.
“Anh cho là Jay đang giam giữ cô ta à?” cô ấy hỏi.
“Đáng ra tôi đã phải nghĩ tới điều này trước đây rồi. Kẻ bắt cóc Lucy coi cô ta là mối đe dọa đối với mình. Cô ta đã phỏng vấn nhiều người về vụ cướp ngân hàng Great Lakes. Jay đã làm gì vào 17 năm trước?”
“Học ở trường luật thôi,” cô ấy đáp, bước lại gần để có thể nhìn rõ mặt tôi. “Anh nghĩ Jay là kẻ cướp thứ năm?”
“Tại sao lại không nhỉ? Floyd Lambeau thu nạp những sinh viên giàu lý tưởng. Lão khoái trá khi lung lạc những con người này. Tôi đoán rằng lão phải cảm thấy sướng rơn khi thu nhận con trai thượng nghĩ sĩ làm tài xế giúp mình tẩu thoát.” Tôi ngừng lại một chút. “Điều này cũng giải thích tại sao tung tích hắn lại được che giấu kĩ đến thế.”
“Che giấu?”
“Cha cô không miêu tả được tên tài xế. Có lẽ một thượng nghị sĩ đã yêu cầu ông phải làm thế.”
Cô ấy với tay chạm vào chỗ rách ở cổ áo. “Một giả thiết thú vị. Tôi có dính líu gì không hay tôi vô can?”
“Tôi chưa luận ra tất cả mọi chuyện được,” tôi nói. “Nhưng giờ cô nên về nhà đi.”
“Tại sao?”
Tôi chỉ tay vào ngôi nhà. “Tôi chuẩn bị vào đó. Cô không muốn ở lại đây đâu.”
Lại một tràng cười nữa. “Tôi không bỏ đi lúc này được.”
“Tôi không nói đùa đâu.”
“Tôi cũng thế. Nếu chồng tôi đang giam giữ một phóng viên trong đó, tôi cần được biết.” Callie bỏ đôi xăng đan ra và đi chân đất về phía ngôi nhà. Tôi phải rảo bước mới đuổi kịp cô ấy.
“Chúng ta có nên xông vào không nhỉ?” cô ấy hỏi. “Hay là nghe ngóng xem thế nào đã?”
Tôi định trả lời, nhưng cô ấy đã đặt một ngón tay lên môi mình, ra hiệu cho tôi im lặng. Tôi bước theo cô ấy trong bóng tối, đi ngang qua mặt tiền ngôi nhà, dừng lại một chốc ở rìa lối vào.
Vẫn còn một cửa sổ sáng đèn bên hông nhà, gần mặt sau. Bức rèm mở hé, để lộ một khoảng trống có thể nhìn qua được nếu bạn đứng gần. Tuy thế, vì cửa sổ nằm cao hơn tầm mắt, bạn phải kê thứ gì đó ở dưới.
Callie cũng nhận ra ngay điều này. Cô ấy chạm vào cánh tay tôi rồi chỉ vào một thùng rác nhựa nằm cạnh ga ra.
Cô ấy đứng chờ cạnh xe ô tô của chồng trong khi tôi ra lấy cái thùng rác và lật úp nó xuống bãi cỏ dưới cửa sổ. Tôi liếc mắt dò hỏi nhưng cô ấy chỉ ra hiệu: Anh lên trước đi.
Tôi nhìn quanh một lần cuối. Trên phố không có ai. Căn nhà bên cạnh có vẻ bị bỏ hoang.
Tôi cẩn thận đặt chân trái lên thùng rác, sau đó leo lên, lấy lại thăng bằng.
Qua khe hở trên bức rèm, tôi nhìn thấy quầy bếp, mấy chiếc tủ tường gỗ, bồn rửa bằng thép không gỉ. Mặt quầy lát đá hoa cương. Một chiếc đài đặt dưới tủ tường. Tôi có thể nghe thấy loáng thoáng qua cửa sổ đóng kín: BBC World News trên đài NPR.
Jay Casterbridge đứng cạnh bồn rửa, bận áo sơ mi và quần âu xám. Trong phòng còn một người phụ nữ, nhưng không phải Lucy Navarro, cô ta có vóc người cao gầy. Nếu muốn, tôi có thể đếm từng xương sườn cô ta, vì Casterbridge đã cởi áo ngoài của cô ta và đang lần giở áo lót. Anh ta tháo nốt cái móc cuối cùng và cởi nó ra - chiếc áo trắng trơn không lấy gì làm đặc biệt - và gục đầu xuống hôn lên ngực cô ta. Tay anh ta vuốt dọc sống lưng cô ta rồi luồn vào dưới cạp váy. Sau đó, anh ta nhấc bổng người phụ nữ lên, xoay ngược lại và đặt cô ta lên quầy bếp.
Nhìn vậy là đủ rồi. Tôi nhẹ nhàng tụt xuống bãi cỏ. Khi quay sang Callie Spencer, tôi thấy cô ấy vẫn giữ vẻ mặt bình tĩnh gượng gạo, cho thấy mình đã đoán ra những gì tôi vừa chứng kiến. Tôi lắc đầu như thể làm vậy có thể ngăn được Callie, nhưng cô ấy đã đặt một bàn chân trần lên thùng rác.
Tôi giúp Callie leo lên và đặt tay sau lưng để đỡ cô ấy đứng cho vững - cô ấy phải nhón chân lên mới nhìn được. Tôi chờ đợi và nghe tiếng cô ấy thở. Cô ấy đứng đó vài giây, đủ lâu để thấu hiểu mọi chuyện. Khi ấy tôi mới nhận ra mình đã nhầm lẫn tai hại thế nào. Callie không bám theo tôi. Tôi đỗ xe trên con phố nơi cô ấy ở, theo dõi nhà cô ấy, nhưng cô ấy chẳng thể nào biết được tôi đang rình mò ở đó. Thực ra, cô ấy chỉ bám theo chồng mình.
Callie bám tay vào vai tôi khi leo xuống, không nói gì, bước một mạch dọc theo lối đi. Tôi để mặc cái thùng rác úp trên bãi cỏ và đuổi theo cô ấy. Về tới chỗ đỗ xe, cô ấy xỏ lại đôi xăng đan và quay lại nhìn tôi. Trời quá tối khiến tôi không thể đọc được ánh mắt hướng về mình. Callie ngoảnh mặt đi và vòng ra phía ghế lái. “Tôi về đây,” cô ấy nói.
Đó không hẳn là một lời mời, nhưng với tôi thế là giống hết mức có thể rồi.
Khi tôi trở lại chỗ đỗ xe ô tô, cô ấy đã biến mất sau dãy nhà. Nhưng tôi cũng biết đường về mà không cần phải bám theo cô ấy. Mặt trăng ló ra khi tôi về tới phố Bedford, tạo thành một đĩa bạc bên trên mái nhà. Chiếc Ford của Callie nằm trên lối đi trải sỏi.
Tôi đi quá một chút về hướng đông và đỗ xe trên phố, chiêm ngưỡng bãi cỏ được cắt tỉa công phu của những ngôi nhà xung quanh dưới ánh đèn đường. Ánh sáng cũng chiếu lên những cây dây leo bò trên bức tường của gian nhà phụ tạo thành những cái bóng mềm mại trên tường gạch. Callie để ngỏ cửa.
Tôi đóng cửa lại sau lưng, tiếng động đủ lớn để cô ấy nghe thấy. Callie đứng cạnh chiếc ghế da, quay lưng lại phía tôi, đầu cúi thấp. Khi tôi tới gần, cô ấy xoay người lại, môi mím chặt để khỏi bật ra tiếng khóc.
Tôi đưa tay ra và cô ấy tiến lại, gục đầu vào vai tôi. Mái tóc óng mượt thoang thoảng mùi dâu tây. Tôi đặt một tay sau gáy cô ấy, cảm nhận làn da ấm áp. Cô ấy choàng tay qua người tôi và ôm chặt một cách đáng ngạc nhiên.
Tôi không biết chúng tôi đã đứng như vậy bao lâu. Tôi cảm thấy nước mắt cô ấy thấm ướt trên vai áo. Cơn nhói đau khi cánh tay cô ấy siết qua vết thương bên hông mình. Tôi đưa tay xuống giữa hai bả vai, xoa lưng cô ấy qua làn áo mỏng.
Sau cùng, Callie lùi lại và lau nước mắt. Tôi được chứng kiến sự thay đổi của cô ấy một lần nữa. Giờ Callie đứng thẳng, đầu ngẩng cao, chôn giấu hoàn toàn sự mềm yếu vừa bộc lộ với tôi.
“Lẽ ra anh không nên tới đây,” cô ấy nói với chất giọng lạnh lùng vô cảm. “Tôi không hiểu rõ về anh, vậy nên tôi chưa thể tin anh được. Nếu anh nghĩ tôi sẽ lên giường với anh thì anh nhầm rồi. Tôi tỉnh táo hơn gã chồng mình và biết kiềm chế dục vọng. Tôi không phải loại người yếu đuối lúc nào cũng cần an ủi.”
Cô ấy khoanh tay thể hiện sự phòng thủ. “Anh đóng kịch khá lắm,” cô ấy nói. “Thật quá tử tế. Tôi không cần sự thương hại của anh. Tôi không ưa gì anh. Giờ anh đã biết những chuyện có thể làm phương hại đến tôi. Anh hẳn rất hài lòng và tôi căm ghét điều đó. Nếu anh còn chút lương tâm - có điên tôi mới tin điều này - hãy biến khỏi đây và quên chuyện này đi.”
Khi nói, hầu như lúc nào cô ấy cũng nhìn thẳng vào mắt tôi, nhưng tới mấy câu sau cùng thì lại ngoảnh mặt đi. Tôi không hiểu mình phải quên đi điều gì - cái ôm giữa hai chúng tôi hay sự phản bội của gã chồng.
Tôi nói, “Tôi e rằng mình chưa nghe rõ. Nếu những lời đó dành cho tôi, phiền cô nhắc lại giùm.”
Cằm Callie hạ thấp một chút và hình như tôi thấy đôi bờ vai cô ấy xuôi xuống. “Không được đâu,” cô ấy đáp với một nụ cười cay đắng. “Anh muốn uống gì không? Tôi có bia và rượu vang. Hay để tôi pha đồ gì cho anh nhé?”
“Bia cũng được rồi,” tôi nói.
Cô ấy ở trong bếp rất lâu, lục lọi tủ lạnh và tủ tường. Tôi để mặc cô ấy và ngồi xuống chiếc ghế sofa. Cô ấy đưa tôi cốc bia, tự rót cho mình một cốc nữa, rồi uống một ngụm và thả mình xuống chiếc sofa còn lại trong phòng. Cô ấy tỏ ra thoải mái, co chân phải lên ghế.
“Người phụ nữ đó là ai?” tôi hỏi. “Cô có biết không?”
Tôi có thể thấy khuôn mặt phía trên thành cốc của cô ấy nhăn lại. “Tôi không chắc là mình muốn tiết lộ cho anh biết đâu.”
“Tùy cô thôi,” tôi đáp, ngả người trên đệm ghế.
Cô ấy uống một ngụm nữa rồi nói, “Đó là Julia Trent, đối tác của chồng tôi ở hãng luật.”
“Lúc trước cô có biết chuyện này không?”
“Không. Nhưng bao giờ Jay cũng lăng nhăng. Vậy nên tối nay tôi mới bám theo chồng mình. Anh ấy nói muốn đi lái xe loanh quanh cho thư giãn đầu óc.” Cô ấy gõ một ngón tay lên thành cốc. “Julia Trent. Tôi chưa từng nghi ngờ cô ả. Lúc nào tôi cũng cho rằng cô ả là loại gỗ mục thôi. Ả nhân tình mới đây ít ra vẫn trẻ và đẹp hơn tôi. Như thế còn dễ chấp nhận chút. Anh cười gì thế?”
“Làm sao mà tôi bỏ qua câu đó được,” tôi nói. “Tôi tin là cô ta trẻ hơn, nếu cô nói vậy, nhưng đẹp hơn thì không đâu.”
“Anh khéo nịnh đấy. Nhưng đó là sự thật. Jay lúc nào cũng say đắm những cô nàng xinh đẹp và anh ấy chẳng kiềm chế bản thân chút nào. Đó là thói xấu lớn nhất của anh ấy.”
Tôi uống một hơi dài rồi đặt cốc bia lên chiếc bàn nhỏ.
“Cô có chắc anh ấy không phạm phải tội lỗi nào nữa không?”
Đôi mắt nâu của cô ấy nheo lại. “Anh vẫn chưa từ bỏ ý nghĩ Jay là kẻ cướp cuối cùng đấy chứ?”
“Tôi chưa loại trừ được khả năng đó. Cô nói hồi đó anh ấy học ở trường luật.”
“Phải. Tại trường luật Harvard, rất xa Sault Sainte Marie.”
“Lúc ấy cô quen anh ấy chưa?”
Cô ấy lắc đầu. “Sau này tôi mới gặp anh ấy.”
“Vậy cô cũng không chỉ ra được anh ấy đang ở đâu vào cái ngày xảy ra vụ cướp ngân hàng Great Lakes. Cô gặp anh ấy khi nào?”
“Sau vụ cướp 2 năm, trong chiến dịch tranh cử của ngài nghị sĩ. Thời đó, cha tôi thường xuyên có mặt tại các sự kiện chính trị kiểu như vậy. Ông nổi tiếng trong giới cảnh sát và lời nói rất có trọng lượng. Ngài nghị sĩ mời ông phát biểu trong vài buổi vận động tranh cử và tôi cũng đi cùng ông. Tôi gặp Jay ở đó.”
Tôi nghiêng đầu. “Và khi cô cưới anh ấy, ý kiến của cha cô thế nào?”
“Ông nghĩ tôi còn trẻ quá và khuyên tôi nên chờ một thời gian nữa.”
“Thú vị thật.”
“Hẳn là anh cũng sẽ làm vậy nếu con gái mình chuẩn bị cưới một kẻ cướp ngân hàng, đúng không nào?” Cô ấy nói với vẻ mỉa mai. “Nghe này, anh đang đánh giá sai về Jay đây. Tôi biết hết những thói hư tật xấu của anh ấy, nhưng chúng không như anh nghĩ đâu. Anh ấy không lái xe cho Floyd Lambeau. Nếu có, cha tôi không đời nào che giấu chuyện này cả, dù đích thân ông thượng nghị sĩ yêu cầu đi nữa.”
“Tại sao cô lại chắc chắn thế?”
“Cha tôi là một người chính trực.”
Tôi với lấy cốc và uống một hớp nữa. Tôi thấy thật vô ích khi tranh cãi với cô con gái về sự chính trực của cha mình. Chúng tôi im lặng nhìn nhau một lúc. Ánh mắt cô ấy hoàn toàn vô hại, đôi môi mím lại một cách đáng yêu.
Tôi quyết định thử vận may. “Hãy nói về Floyd Lambeau nhé,” tôi nói.
Nét mặt cô ấy thoáng lộ vẻ khó chịu. “Lão thì có chuyện gì để ta nói đây?”
“Henry Kormoran kể rằng anh ta đã nhìn thấy cô đi cùng Lambeau ở ngân hàng Great Lakes.”
“Chúng ta đã từng nói về chuyện này rồi...”
“Tôi biết. Kormoran khẳng định mình nhận ra cô nhờ nụ cười tuyệt mĩ, nhưng hồi đó hàm răng cô không lấy gì làm đẹp. Tôi đã suy nghĩ nhiều về điều này. Trí nhớ con người nhiều khi khá kỳ quặc. Nếu anh ta đinh ninh mình đã nhìn thấy cô, có thể trí óc anh ta cũng thêm thắt vài chi tiết. Nhưng ngay cả khi anh ta nhầm về chi tiết đó, chắc gì hôm đó cô không có mặt ở ngân hàng.”
Ánh mắt Callie ấm áp và cởi mở. “Anh thực sự nghĩ tôi đã tiếp tay cho Floyd Lambeau trong vụ cướp ngân hàng Great Lakes?”
Tôi xua tay gạt đi câu hỏi. “Alan Beckett cũng hỏi tôi như thế. Anh ta cũng làm tôi rối trí y hệt cô đang làm lúc này.”
“Tôi có làm gì đâu?”
“Kormoran chưa từng bảo rằng cô thăm dò ngân hàng,” tôi nói. “Anh ta chỉ kể là đã thấy cô ở đó cùng với Lambeau. Có lẽ hai người chỉ vô tình gặp nhau. Hoặc Lambeau đã yêu cầu cô tới gặp mình. Tôi nghĩ tình huống này sẽ hấp dẫn lão - thăm dò ngân hàng trước sự hiện diện của con gái cảnh sát trưởng. Lão thấy chất nghệ thuật trong đó.”
Cô ấy không hề phủ nhận điều này hay thay đổi nét mặt. Tôi nói, “Nếu đúng như vậy, cô đang ở vào một tình cảnh trớ trêu. Một mặt, cô chẳng phạm tội gì. Mặt khác, cô đã che giấu chuyện này suốt 17 năm, điều đó khiến cô có vẻ đáng ngờ. Rồi Lucy Navarro xuất hiện, bới tung mọi chuyện lên. Cô ta trở thành mối đe dọa với sự nghiệp chính trị của cô.”
“Nếu anh nghĩ là tôi đã làm gì Lucy Navarro thì...”
Tôi giơ tay ngắt lời cô ấy. “Tôi không nghĩ thế. Nhưng tôi tin Alan Beckett là thủ phạm.”
“Không đời nào tôi cho phép anh ta làm thế...”
“Anh ta có thể đã lén làm việc đó mà không cho cô biết, để cô không can thiệp được.”
Tôi ngờ rằng mình đã nhìn thấy một thoáng do dự trong mắt cô ấy, nhưng cũng có thể chỉ là do tôi tự tưởng tượng ra. “Không,” cô ấy phủ nhận. “Anh ta không làm thế đâu.” Tôi chờ cô ấy nói thêm, thí dụ như một lời khẳng định sự chính trực của Beckett. Nhưng không. Tôi nhìn cô ấy đứng lên và biết cuộc nói chuyện đến đây là kết thúc.
Cô ấy tiễn tôi ra cửa. Tôi cảm ơn cô ấy về cốc bia và nói lời tạm biệt. Cô ấy không đáp lại. Khi tôi đi được một quãng, cô ấy mới cất lời, “Tôi cam đoan là anh nhầm rồi.”
Quá nửa đêm tôi mới về tới nhà. Khi đó, Elizabeth đang ngồi trên sàn với những trang giấy liệt kê diễn biến vụ việc bày xung quanh. Một bản concerto của Mozart phát khe khẽ trên dàn loa. Tôi ngồi xuống và choàng tay qua vai cô. Cô xoay người lại. Chúng tôi hôn nhau một lúc lâu.
“Môi anh có vị bia,” cô nói sau khi hôn, “cả người thì có mùi dâu tây.”
“Anh đã uống bia với Callie Spencer,” tôi nói. “Có lẽ em vừa mới ngửi thấy mùi dầu gội của cô ấy đấy.”
Hai khóe miệng cô nhếch lên. “Thật không thế?”
“Anh để cô ấy dựa vào vai mình mà khóc.”
“Ga lăng nhỉ. Cô ấy khóc vì chuyện gì thế?”
“Chồng cô ấy ngoại tình.” Trong nền nhạc Mozart, tôi thuật lại những chuyện xảy ra tối hôm nay.
Khi tôi kể xong, Elizabeth hỏi, “Vậy anh nghĩ Jay Casterbridge là kẻ cướp thứ năm? Và anh ta đã bắt cóc Lucy?”
“Là anh ta hoặc Beckett thực hiện vụ bắt cóc,” tôi nói. “Anh cũng chưa dám chắc.”
Elizabeth trầm ngâm nhìn ngang qua căn phòng. “Em nghĩ là anh đã nhầm về Beckett đấy.”
“Anh không thấy thế. Hôm thứ Tư, anh ta đã cố mặc cả với Lucy để cô ta từ bỏ cuộc điều tra. Cô ta cự tuyệt và đến tối thì mất tích.”
Elizabeth bắt đầu thu dọn các trang giấy nháp. “Như vậy thì sớm quá. Khi Lucy cự tuyệt, anh ta vẫn còn nhiều phương án khác, chẳng hạn như trở lại với một lời đề nghị hấp dẫn hơn. Anh ta sẽ không bắt cóc cô gái ngay như thế. Em nghĩ thủ phạm là người khác.”
“Vậy chỉ còn Jay Casterbridge,” tôi nói.
Cô tỏ vẻ hoài nghi. “Jay Casterbridge đến đây tối thứ Tư vì anh ta đã lục soát tài liệu của vợ và tìm ra lá thư của Lark.”
“Chính xác. Lark đang lần theo những kẻ tham gia vụ cướp ngân hàng Great Lakes. Nếu Casterbridge cũng nằm trong băng nhóm đó, hiển nhiên anh ta muốn Lark bị bắt.”
“Chuyện đó chỉ có thể xảy ra nếu Lark biết anh ta đã tham gia vụ cướp.”
“Có thể Casterbridge cũng không chắc chắn Lark biết hay chưa,” tôi nói. “Tối hôm đó, anh ta rời khỏi đây lúc mấy giờ?”
“Khoảng 11 giờ 15.”
“Vậy anh ta vẫn có đủ thời gian đến khách sạn Winston.”
Elizabeth thu thập mấy trang cuối cùng. “Em vẫn không tin. Jay Casterbridge tỏ ra rất miễn cưỡng khi đưa em lá thư vì sợ Callie biết mình đã qua mặt vợ. Em không cho rằng anh ta có thể mưu tính nổi một vụ bắt cóc.”