Chuyện gì đã xảy ra với cô ấy?” Elizabeth hỏi Helen Lark.
“Đúng như những gì cô đang nghĩ,” bà nói. “Gia đình con bé cố che giấu sự thật bằng những từ sáo rỗng, nhưng chẳng lừa được ai, phải không? ‘Đột ngột qua đời.’ Con bé đã tự sát bằng thuốc ngủ.”
Bà ngừng lời, hai tay chắp lại phía sau như khách tới thăm viện bảo tàng. Carter Shan liếc nhìn người đàn ông trong tấm ảnh đính hôn: Tóc vàng, vai rộng, người cơ bắp, nụ cười kiểu lên mặt dạy đời. Dòng chữ bên dưới ghi tên chú rể là Derek Everly.
“Người chồng...” Shan nói.
“Phải, chính thằng chồng đã đẩy con bé đến nông nỗi ấy,” Helen Lark kể. “Chúng học chung trường trung học: Anthony, Susanna và Derek. Susanna là cô gái dịu dàng nhất trên đời. Anthony yêu con bé. Nó chưa bao giờ tỏ ra ham học và tôi nghĩ hẳn phải chật vật lắm nó mới đỗ nổi vào đại học. Nhưng khi con bé đến học ở Đại học Bang Michigan, nó cũng vào trường đó.
Con bé học ngành Mỹ thuật và tôi đoán Anthony cũng sẽ học ngành đó ngay nếu có tí năng khiếu nào. Cuối cùng, Anthony học ngành tiếng Anh.
Anthony và Susanna hẹn hò với nhau. Đầu tiên là từ hồi trung học, sau đó lên tới đại học. Con bé là người chủ động chia tay. Tôi không biết lý do là gì, nó chưa bao giờ chịu nói về chuyện đó. Nhưng chuyện xảy ra khi hai đứa học năm cuối tại trường Bang Michigan. Sau đó, con bé còn ở lại trường học thạc sĩ. Anthony thì trở về nhà vì ở đó chẳng còn gì níu chân nó nữa.
Nó sống vất vưởng 2 năm, làm mấy công việc lặt vặt. Nó dành phần lớn thời gian rảnh dưới này. Rồi một mùa hè, con bé trở về làm nó hồ hởi hẳn lên, nhưng chẳng được bao lâu. Con bé đang cặp với Derek Everly.
Derek chưa bao giờ vào đại học. Gia đình gã sở hữu một công ty bất động sản trong thành phố này. Gã theo đuổi Susanna, hai đứa đính hôn ngay trong năm đó và làm lễ cưới vào mùa xuân. Tôi không cho là thời gian đầu gã đã đánh đập con bé ngay.”
Helen Lark uể oải thở dài. “Cô có thể thấy tấm ảnh con bé ở kia, một tay bó bột. Derek đã kẹp ngón tay con bé vào cánh cửa. Đó là trước khi gã khôn ra, biết cách đánh vợ mà không để lại dấu vết nhìn thấy được. Tôi biết điều này vì Anthony đã nói với tôi. Nó nghe được chuyện này từ Susanna, cùng với lý do và những lời bao biện của con bé. Công ty bất động sản làm ăn thua lỗ. Derek muốn sinh con, mà Susanna lại không kịp có thai để thỏa mãn chồng. Derek cho là vợ mình ngoại tình với Anthony. Điều này rõ ràng không đúng, mặc dù tôi biết Anthony chẳng mong gì hơn là được ở bên con bé.
Nó van vỉ con bé ly dị Derek, nhưng con bé cứ tin rằng rồi chồng mình sẽ thay đổi. Derek đã hứa như thế. Sau mỗi lần bạo hành vợ, Derek lại xin lỗi và hứa điều này sẽ không lặp lại nữa. Trong một chốc, có vẻ như gã rất thành thật. Nhưng chẳng được bao lâu.
Khi Anthony không thể chịu đựng được nữa, nó tới gặp cha của Susanna. Chính là người đàn ông ngồi xe lăn kia. Khi đó ông ta vẫn chưa phải dùng đến xe lăn. Đó là một người cao lớn cả đời làm việc ngoài công trường. Ông ta đến gặp Derek ở văn phòng công ty bất động sản, nói rằng mình tới vì chuyện của con gái. Derek nói gã chẳng có chuyện gì cần nói với ông ta cả. ‘Không đôi co gì hết,’ gã tuyên bố. Vậy là ông ta nện cho Derek một trận, bỏ mặc gã nằm trên sàn với khuôn mặt sưng húp và đầy máu. Cha con bé nói nếu phải quay trở lại đây lần nữa, ông ta sẽ giết gã.
Chắc cô đoán được chuyện gì xảy ra sau đó rồi. Derek tỏ ra biết lỗi và, lạy Chúa, Susanna ở lại với gã.
Nhưng 1 tháng sau, cha con bé lái xe tới gặp một người bạn ở quán rượu. Bốn thằng nhảy bổ vào ông ta ở bãi đỗ xe. Chúng đem theo gậy bóng chày, đánh ông ta đến gãy cả chân tay và xương sườn. Cảnh sát chưa bao giờ bắt được chúng và không ai nghi ngờ vụ này có liên quan gì tới Derek Everly cả.
Nhưng Susanna thì biết ai là kẻ chủ mưu. Con bé bỏ chồng và khiến gã phải chịu lệnh quản thúc. Sau đó, con bé chuyển về sống với cha để có thể chăm sóc ông ta. Tình trạng của ông ta có vẻ tốt lên, nhưng lúc nào ông ta cũng hít thở rất khó khăn. Sau cùng, ông ta chết vì chứng viêm phổi. Khi ấy, ông ta đã quá yếu để chống chọi lại căn bệnh. Con bé đã ở bên cha khi ông ta qua đời.
Anthony tới dự đám tang. Derek cũng xuất hiện ở nghĩa trang. Gã chờ tới khi linh mục cầu nguyện xong và những người tới viếng quay lại bãi đỗ xe. Lúc đó, gã mới tiếp cận Susanna. Anthony đứng chắn giữa hai người. ‘Mày không nên ở đây,’ nó nói. Nhưng Derek lờ nó đi và nói thẳng vào mặt Susanna. ‘Cô tưởng lệnh quản thúc ngăn được tôi sao?’
Con bé ở đây đêm hôm đó. Nhưng sang ngày, con bé quay trở lại nhà cha mình. Con bé nói với Anthony rằng mình có một số việc cần làm mà không cho nó đi cùng. ‘Em sẽ ổn thôi,’ con bé bảo. ‘Anh không thể lúc nào cũng ở bên em được.’ Con bé hứa sẽ trở lại đây trước khi trời tối. Khi con bé không quay về, Anthony lao đi tìm. Nó tìm được con bé nằm trên giường trong nhà cha mình, bên cạnh một lọ thuốc ngủ đã uống hết.”
Helen Lark xoay lưng lại với những bức ảnh dán trên tường. Bà nhìn quanh như thể không biết mình nên đi đâu. Sau cùng, bà tiến về phía chân cầu thang. Elizabeth ra đó với bà.
“Tất cả những chuyện này,” Elizabeth nói, ra hiệu về phía bức tường, “xảy ra từ bao giờ?”
“Vài tuần sau khi con bé chết,” Helen Lark nói. “Khi đó, Anthony suy sụp tới mức không thể đi làm nổi. Nó lục tất cả những tấm ảnh của Susanna mà nó có. Tôi cố khuyên can nó. Cha nó - tôi không muốn nói điều này, nhưng ông ấy chẳng được tích sự gì. Hồi còn nhỏ, Anthony nuốt lấy từng lời của ông ấy, nhưng nó càng lớn thì hai cha con càng xa cách.”
Bà bỏ kính và dùng vạt áo lau mắt kính. “Chồng tôi là một người kín đáo. Ông ấy sở hữu một chiếc thuyền và thích đi câu cá. Anthony thì chẳng hứng thú câu cá chút nào, vậy nên ông ấy không biết phải làm gì với nó cả.”
Bà đeo lại cặp kính. “Sau nửa năm, tôi bảo Anthony tới gặp bác sĩ tâm lý. Được vài buổi, nó thấy chỗ đó không phù hợp. Anthony tin rằng bản thân phải chịu trách nhiệm về cái chết của Susanna vì nó chưa làm hết sức mình để ngăn chuyện đó lại. Khi bác sĩ phản biện lại lối suy nghĩ đấy, nó không chịu nghe. Có lẽ nó chỉ muốn tìm ai đó đồng tình với mình thôi.
Khi không nhận được sự đồng tình đó, nó ngừng tới phòng khám. Nhưng rồi nó lại tiếp tục đi làm. Tôi nghĩ nó làm vậy chỉ để tôi không rầy la nó nữa.” Bà hất hàm về phía bức tường. “Và 1 năm sau cái chết của Susanna, tôi hỏi nó đã tới lúc gỡ tất cả những thứ này xuống khỏi tường chưa. Nó chỉ nhìn tôi. ‘Con sẽ không bao giờ gỡ chúng xuống cả,’ nó nói.”
Elizabeth chỉ vào bức ảnh trên mé tường bên phải, nơi dán đầy ảnh của Callie Spencer. “Thế còn những tấm ảnh này thì sao?” cô hỏi. “Từ bao giờ con trai bà lại quan tâm tới vụ cướp ngân hàng Great Lakes đến thế ?”
“Từ hồi mùa xuân năm nay,” Helen Lark nói. “Tôi còn nhớ lúc đó mình rất giận vì nó dám bán chiếc thuyền của cha.” Ánh mắt bà hướng xuống đất. “Chồng tôi mất vào tháng Ba. Ông ấy để lại con thuyền cho Anthony. Tôi cứ nghĩ vật này sẽ có chút ý nghĩa với nó, nhưng hóa ra nó chỉ muốn tống khứ chiếc thuyền đi thật nhanh. Có lẽ điều đó làm tôi tổn thương.
Cùng khoảng thời gian đó, nó bắt đầu dán ảnh của Callie Spencer lên tường. Tôi không thích thế chút nào. Lý do là cô ấy có nụ cười y như Susanna. Nhưng đây rõ ràng là một nỗi ám ảnh không lành mạnh. Tôi không muốn dây vào chuyện này nữa. Tôi bảo nó nên tính tới chuyện ra ở riêng.
Susanna đã mất từ 3 năm trước. Anthony giờ đã 31 tuổi. Tôi không muốn nó lãng phí cuộc đời mình. ‘Tận dụng hết quãng thời gian còn lại của con nhé ‘- tôi luôn căn dặn nó như thế. Bà với tay vịn lên lan can cầu thang như để tìm chỗ dựa. “Đáng ra tôi phải giữ nó ở lại đây mới phải.”
Elizabeth đặt tay lên vai bà. “Chúng tôi cần tìm anh ta, thưa bà Lark. Bà có biết con trai mình đang ở đâu không?”
“Tôi không biết.”
“Anh ta ra ở riêng từ bao giờ?”
“Từ tháng Năm.”
“Anh ta mới thuê căn hộ ở Ann Arbor cách đây 2 tuần. Trước đó, anh ta sống ở đâu?”
“Nó có một căn nhà ở đây,” Helen Lark nói. “Tôi có thể cho cô địa chỉ.”
“Anh ta có liên lạc với bạn bè nào không?”
“Tôi có thể kể tên vài người, nó không có nhiều bạn bè.”
“Lần cuối bà nói chuyện với anh ta là khi nào?”
“Nó gọi điện về nhà hôm sinh nhật tôi, ngày 28 tháng Sáu.”
“Nếu anh ta gọi điện hoặc trở về đây, bà làm ơn báo ngay cho chúng tôi nhé.”
Helen Lark chầm chậm gật đầu như thể điều đó làm bà đau lòng. “Được rồi.”
“Còn gia đình Susanna thì sao?” Elizabeth hỏi. “Liệu Anthony có liên lạc với ai không?”
“Con bé không có anh chị em ruột, chỉ có vài người họ hàng, nhưng Anthony không thân quen gì họ.”
Shan nói xen vào. “Còn Derek Everly - anh ta thì sao?”
“Thằng đó không còn trên cõi đời này nữa,” Helen Lark đáp, nhìn Shan với cảm xúc mãnh liệt khó tả. “Gã đã chết. Một cách rùng rợn.”
“Chết một cách rùng rợn? Bà ấy nói như vậy à?”
Sau khi rời nhà Helen Lark, Elizabeth và Shan lái xe tới sở cảnh sát Dearborn. Viên cảnh sát trực ban dẫn họ tới gặp một thám tử có tên Hiller. Mặt bàn anh này chất đầy hộp và các tập hồ sơ.
“Derek Everly đã bị đánh chết mùa xuân năm nay trong một nhà kho của công ty bất động sản Everly,” Hiller nói. “Ai đó đã dùng cán của một cái cào phang vào gáy gã. Sau đó xẻ thịt gã bằng lưỡi dao của máy xén cỏ. Đúng là một cái chết rùng rợn thật.”
“Liệu có thể đưa Anthony Lark vào diện tình nghi không?” Elizabeth hỏi.
Hiller ngả người trên ghế. “Derek Everly là một kẻ vô lại, thế nên có rất nhiều người muốn gã chết. Nhưng Lark đúng là nghi can số một. Các vị biết chuyện về cô Marten rồi chứ?”
“Rồi,” Shan nói.
“Vậy thì chẳng còn thắc mắc gì về động cơ giết người nữa,” Hiller nói. “Nhưng về mặt thời gian thì không hợp lý lắm. Lark đã chờ tận 3 năm sau khi cô gái mất rồi mới ra tay.”
“Nhưng mùa xuân năm nay...” Elizabeth nói. “Đó là khi cha Lark mất.
Hiller gật đầu đồng tình. “Chính xác. Có lẽ sau khi cha chết, hắn tự cho phép mình có quyền hành động. Hoặc là khi đó hắn mới suy nghĩ xem điều gì là thật sự quan trọng đối với mình. Dù gì đi nữa, cha Lark qua đời vào tháng Ba còn Everly bị giết vào tháng Tư.”
“Nhưng Lark chưa bao giờ bị truy tố?” Elizabeth nói. “Hắn có chứng cứ ngoại phạm không?”
“Hắn khai mình ở nhà với mẹ đêm hôm đó,” Hiller giải thích với một cái nhún vai. “Bà ấy xác nhận lời khai của hắn. Có lẽ bà ấy bao che cho hắn hoặc hắn đã trốn khỏi nhà mà bà ấy không biết. Vấn đề cốt lõi là chúng tôi không tìm được chứng cứ gì để buộc tội hắn cả. Hắn không để lại dấu vân tay nào. Cú đánh đầu tiên khiến Everly bất tỉnh nhân sự, vậy nên chẳng có sự chống cự nào. Lark thậm chí còn không có lấy một khớp tay bị bầm tím.”
Hiller chậm rãi xoay ghế từ bên này sang bên kia. “Mẹ hắn thuê ngay một luật sư khi chúng tôi vừa sờ gáy hắn. Ông ta không cho hắn nói. Nếu để hắn mở miệng, có khi hắn đã thú nhận rồi. Trong những vụ kiểu này, anh không cần bỏ nhiều công sức lắm. Cứ tỏ ra thông cảm với hắn, làm bộ mình hiểu tại sao hắn làm thế. Với Lark - chà, tôi vẫn nhớ chuyện đã xảy ra với Susanna Marten và cha cô gái. Tôi sẽ chẳng cần phải làm bộ gì hết.”