Kẻ Cướp Cuối Cùng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 57

❊ ❊ ❊

Chiếc xe tải chỉ còn một bên đèn pha chiếu xuyên qua bóng tối dưới những rặng cây. Ánh sáng rọi lên con đường trải nhựa, lốp xe bắn những viên sỏi vào gầm. Nick Dawtrey đã chỉnh ghế gần lại để có thể với tới tay lái. Dây đeo súng của Sam Tillman nằm trên ghế phụ, khẩu 9 li giắt trong bao.

Trước đó, cậu đã quay lại nhà Tillman nhưng không thấy ai. Thế là cậu đập vỡ kính cửa sổ mà vào, giống như ở nhà Delacorte.

Đôi chỗ cây mọc quá gần đường, đến nỗi cành cây quệt lên hông chiếc xe tải. Chiếc xe đi chậm dần rồi dừng hẳn. Cậu tắt máy, đợi cho mắt quen với bóng tối rồi bước ra ngoài. Cậu bỏ lại chiếc thắt lưng trên ghế, chỉ cầm khẩu súng theo.

Cha cậu luôn để chìa khóa dự phòng dưới cái xô trong hành lang. Nick tìm thấy nó, mở cửa thật chậm rãi và nhẹ nhàng để không gây ra tiếng động. Bên trong, một chiếc đèn bàn bật sáng dưới chụp đèn bằng da. Nó tỏa đủ ánh sáng để cậu nhìn thấy John Casterbridge nằm trên ghế sofa, miệng mở ra ngáy khe khẽ. Ông nghị sĩ vẫn mặc nguyên quần áo khi đi ngủ.

Trên sàn bên cạnh chiếc sofa, những lá bài xếp thành cột dọc - trò solitaire. Casterbridge đã chơi bài rồi ngủ quên. Nick quỳ xuống, đặt khẩu súng lên thảm rồi thu dọn mấy lá bài. Cậu không muốn thấy cỗ bài vì nó là của cha cậu và trước kia ông từng chơi bài cùng Terry.

Cậu gặp anh trai lần đầu lúc 5 tuổi, trong phòng thăm tù nhân ở nhà tù Kinross. Hôm đó, cậu đã rất sợ hãi, ít ra là sau này cha cậu kể lại thế. Có thể cậu sợ mọi người và tiếng ồn ở đó, nhưng Terry thì cậu không sợ. Anh có nụ cười rạng rỡ và điệu cười nhẹ nhàng, luôn muốn nghe cậu kể về bạn bè và trường học.

Cậu nhớ những buổi viếng thăm sau đó. Terry kể những chuyện cười ngộ nghĩnh. Tại sao bò phải đeo chuông? Vì sừng của chúng không hoạt động[1]. Thỉnh thoảng, hai người chơi cờ đam. Đôi khi, Terry đem ra một cỗ bài. Ba người bọn họ ngồi bên chiếc bàn nhựa trắng - Nick và cha ngồi một bên, Terry ngồi bên kia - và họ chơi trò fish.

Mất một thời gian, Nick mới hiểu Terry là tù nhân - và điều đó nghĩa là gì. Ban đầu, khi hết thời gian thăm tù nhân, cha lại nắm tay cậu và bảo cậu nói lời tạm biệt. “Terry về cùng chúng ta được không ạ?” cậu hỏi. “Lần này thì không, nhóc ạ,” Terry đáp. Một lần, trên đường về, cậu hỏi cha về chuyện đó. “Anh ấy không về được,” cha cậu nói. “Họ không cho anh ấy ra khỏi đó.” “Tại sao chứ?” Nick hỏi. “Anh con đã làm một việc có lỗi,” cha cậu giải thích, “và giờ anh ấy phải ở đó.” “Anh ấy không nói xin lỗi được ạ?” “Đôi khi một lời xin lỗi là không đủ.”

Cha cậu nói với vẻ rất buồn rầu và Nick không hỏi thêm câu nào nữa. Nhưng từ đó, cậu nhận thức rõ hơn về những bức tường xám của phòng thăm tù nhân, đám lính canh ngăn không để anh cậu ra ngoài. Lần kế tiếp, khi từ biệt Terry, cậu rướn người vào gần anh và thì thầm, “Em sẽ cứu anh ra khỏi đây.”

Terry mỉm cười, nhưng anh không cười thành tiếng. Nick thấy vui vì điều đó. Lần tới thăm sau, cậu nhắc lại lần nữa, Terry chỉ gật đầu. “Anh dám cá là em sẽ làm thế nhóc ạ.”

Những chuyến viếng thăm đều đặn tiếp diễn. Nick lớn dần, những trò bài cậu chơi với Terry cũng thay đổi, từ fish sang hearts, rồi crazy eights và poker. Tới 15 tuổi, cậu đã thôi không nói cái câu “Em sẽ cứu anh ra khỏi đây” từ lâu lắm rồi. Cậu không làm thế nữa vì không muốn đám lính canh nghe thấy. Đó là lời hứa cậu chắc chắn sẽ thực hiện.

Nick gom bộ bài lại rồi bỏ vào túi. Cậu lấy khẩu súng trên mặt thảm, bật cái chốt bên cạnh. Đó là chốt an toàn. Cậu lên đạn theo cách mình thường thấy trong phim. Giờ một viên đã nằm trong ổ đạn rồi.

Cậu đứng bên chiếc sofa và nghe tiếng John Casterbridge ngáy. Hai bàn tay nhăn nheo đồi mồi đặt trên bụng. Phần thịt trên cổ có những nếp nhăn sâu. Một mảng râu bạc lộ ra dưới quai hàm nơi lão ta bỏ sót khi cạo râu.

Nick nhắm khẩu súng giữa ngực lão già. Cậu cảm thấy ngực mình nghẹn lại, người run lên như có dòng điện chạy qua. Cậu giương thẳng tay, nhưng khẩu súng vẫn run rẩy. Cậu ngước lên và nhắm mắt lại, cố giữ yên cánh tay.

Khi mở mắt, cậu nhìn thấy tấm lịch in hình chim sẻ của cha mình trên bức tường sau ghế sofa. Bên cạnh nó là tấm ảnh chân dung của chính cậu.

Ở đây không được, cậu nghĩ.

John Casterbridge trở mình. Nick bước tới gần và thọc mũi súng vào vai lão ta.

“Dậy đi,” cậu nói.

Tôi cầm theo khẩu súng khi xông vào rừng tìm Nick và ông nghị sĩ. Đó là một quyết định vô thức. Khi Elizabeth rẽ ngoặt vào con đường tới căn chòi của Charlie Dawtrey, khẩu súng nằm ngay trước mắt tôi, trong hộc đựng ngăn tay mở rộng. Nó vẫn ở nguyên chỗ đó khi chúng tôi lái ngang qua chiếc xe tải han gỉ. Elizabeth đỗ lại trên bãi cỏ. Lúc xuống xe, tôi mới lấy khẩu súng khỏi túi và giắt nó vào thắt lưng. Thỉnh thoảng tôi vẫn ước gì mình đã bỏ nó lại.

Lề đường gần căn chòi giờ đỗ đầy ô tô: Xe của ông nghị sĩ phủ bạt, xe của Madelyn Turner, xe của sở cảnh sát bang Michigan. Chiếc xe cuối cùng này là sắp xếp của Hannagan. Ông ta đã cố hết sức điều động qua điện thoại trong khoảng thời gian cực ngắn. Brimley không có sở cảnh sát riêng.

Hannagan đỗ lại ngay sau xe tôi. Chúng tôi gặp nhau ngoài hành lang, nơi một hạ sĩ tên là Cooper đang đứng chờ sẵn. Đó là một thanh niên có mái tóc đỏ. Anh ta đến nơi trước có 5 phút.

“Khi tới nơi, tôi thấy cửa mở và bà Turner ở bên trong,” anh ta báo cáo. “Ngoài ra không còn ai khác.”

“Bà ta đâu rồi?” Hannagan hỏi.

Anh ta chỉ về phía đông. “Bà ta đi nói chuyện với hàng xóm để tìm hiểu thêm. Không thấy dấu vết vật lộn nào,” anh ta nói, mắt liếc vào căn chòi. “Trông chỗ này chẳng có vẻ gì là có người ở cả. Có thật là John Casterbridge đã ở đây không?”

Hannagan nhìn sang Elizabeth. “Thật đấy,” cô nói.

“Và chiếc xe tải đằng kia,” hạ sĩ Cooper nói. “Có phải đó là chiếc xe mà con trai bà Turner đã dùng để tới đây?”

Elizabeth gật đầu.

“Vậy thì mọi người lo lắng cũng phải thôi,” Cooper nói. “Tôi tìm thấy thứ này trong xe.” Anh ta bước vào nhà và vớ lấy một vật ngay gần cánh cửa. Tôi nhận ra chiếc thắt lưng của Sam Tillman. Bao súng rỗng không.

Chúng tôi nghe thấy tiếng chân vọng lại ngoài đường - Madelyn Turner đã quay trở về. Bà ta bước vội qua con đường lát đá dẫn tới căn chòi và nói rằng cặp đôi mà mình hỏi không nhìn hay nghe thấy gì khác thường. “Một đêm yên ắng,” bà ta nói. “Không có tiếng la hét hay tiếng động lớn nào - nếu có, hẳn họ đã nghe thấy.”

Bà ta thở hổn hển và nói rất nhanh. Mắt bà ta trợn trừng.

“Nếu có, hẳn họ đã nghe thấy,” bà ta nhắc lại. “Không có tiếng động lớn nào. Thế là tốt rồi.”

Tiếng động lớn. Bà ta không thể nói ra từ “tiếng súng.”

Hannagan xen vào, hỏi bà ta bằng chất giọng bình tĩnh. “Tốt rồi. Giờ bà có biết con trai mình ở đâu không? Có nơi nào gần đây cậu bé muốn đến không?”

“Tôi không chắc. Nó đã lang thang trong rừng từ hồi mới chập chững biết đi. Đường lối thế nào nó đều biết cả.”

“Ít ra bà có biết cậu bé đi hướng nào không?”

Bà ta nhìn quanh như để tìm dấu chân con trai. Hai nguồn sáng duy nhất là từ căn chòi và mặt trăng tròn vành vạnh bên trên. Cỏ và lá thông phủ kín mặt đất. Thời tiết hôm đó khô ráo, không thấy dấu vết gì.

Bà ta ngẩng lên quay về phía nam, xoay lưng lại phía cửa căn chòi. “Đi theo lối kia một đoạn là ra tới đường chính.” Bà ta chậm chạp xoay về hướng bắc. “Khu rừng phía sau căn chòi thì rậm rạp hơn. Những con đường mòn gần như nằm cả trong này. Cứ đi lên phía bắc sẽ ra tới hồ.”

“Bà nghĩ cậu bé đi ra hồ à?”

“Tôi không biết.” Madelyn lắc đầu. “Tôi không thể... Tôi phải đi tìm nó.”

Hannagan chạm tay lên vai bà ta. “Tốt nhất là bà cứ ở đây, lỡ cậu bé quay lại thì sao? Chúng tôi sẽ đi tìm. Để tôi gọi thêm người giúp đỡ. Rồi chúng tôi sẽ tìm ra cậu bé thôi.”

Madelyn trả lời ông ta, nhưng tôi không ở lại đó để nghe. Tôi trở lại xe, tìm thấy chiếc đèn pin mình đã sử dụng ở nhà Delacorte. Lục lọi trong cốp xe, tôi tìm ra thêm một chiếc đèn pin nữa.

Elizabeth trở lại chỗ tôi và tôi đưa cho cô một chiếc đèn pin. Tôi hất đầu về phía Hannagan. “Chúng ta sẽ không chờ ông ta cử nhân viên tới đây tìm kiếm chứ?”

“Không,” cô nói.

Madelyn cũng không chờ đợi. Bà ta chạy vào rừng và gọi tên Nick. Viên hạ sĩ đi theo sau để trông nom bà ta. Hannagan ở lại căn chòi gọi điện thoại.

Tôi và Elizabeth vòng ra sau chòi và đi về hướng bắc, xuyên qua rừng cây. Chẳng bao lâu, chúng tôi bắt gặp con đường mòn đi về hướng đông bắc - một con đường hẹp bằng đất nện.

Chúng tôi đi theo nó xuống một cái rãnh, sau đó khi con đường dâng lên cao và tách ra thêm một lối về phía bên trái - gần đúng hướng tây bắc. Chúng tôi rẽ theo lối này tới một khoảng trống nhỏ mọc đầy dương xỉ, leo qua một thân cây bu lô mục nát. Được một đoạn, con đường lại tách làm đôi.

Chúng tôi dừng lại ở đó. Tiếng Madelyn gọi Nick chỉ còn văng vẳng phía xa.

“Chỗ này rộng quá,” Elizabeth nói.

“Anh biết.”

Cô chiếu đèn pin lên con đường bên phải. “Em không muốn chúng ta tách ra chút nào.”

“Anh cũng thế.”

Những thân cây vây quanh chúng tôi như chờ đợi.

Cô hôn tôi thật nhanh. “Đừng để bị bắn lần nữa đấy.”

“Khả năng xảy ra chuyện đó là bao nhiêu chứ?” tôi nói.

Tôi đi theo đường bên trái, sang phía tây một đoạn trước khi vòng lên phía bắc. Nó cắt ngang một con đường không trải nhựa, dẫn qua một căn chòi tối om lớn hơn của Charlie Dawtrey. Tôi chiếu đèn pin lên cửa sổ và cửa chính, không thấy có dấu vết phá hoại nào.

Đi qua căn chòi, con đường mở rộng ra, rừng bắt đầu thưa hơn. Đất dốc xuống, các rễ cây tạo thành những bậc thang tự nhiên. Khi đến chỗ đất phẳng, tôi lấy điện thoại trong túi gọi cho Nick, nghe cái giọng nói vô tư tuổi 15 của cậu bảo tôi để lại tin nhắn và sau đó cậu sẽ gọi lại.

Càng đi xa, tiết trời càng dịu mát. Đâu đó có tiếng lửa cháy. Con đường vòng sang phía đông một chút, đất nện nhường chỗ cho cát. Hồ Superior hiện ra, nhuốm màu xanh đen dưới bầu trời đêm. Ánh trăng lấp lánh trên bọt nước gần bờ.

Tôi tìm thấy cậu nằm co ro trên bãi cát, hai cánh tay ôm lấy đầu gối, đầu gục xuống. Những lọn tóc đen lòa xòa xuống mặt cậu.

Tôi quỳ xuống trước mặt cậu bé. “Nick, cháu vẫn ổn chứ?”

Cậu ngẩng lên, dùng tay quệt ngang mặt. “Chú muốn gì?”

“Chú đi tìm cháu nãy giờ đấy.”

“Để cháu được yên.”

“Mẹ cháu đang lo lắng lắm. Mọi người tưởng sẽ tìm được cháu ở căn chòi.”

Cậu bé nhìn ra bóng tối trên mặt hồ. “Cháu không thể làm chuyện đó trong chòi được.”

Tôi cảm thấy ruột gan mình thắt lại. “Làm gì cơ?”

“Chú nghĩ đó là gì?”

“Nick, ông nghị sĩ đâu rồi?”

Cậu khoát tay qua vai. “Trên bãi cát ấy. Cháu đã bỏ lại lão ta ở đó.”

Tôi nhìn thấy một mảng đen trên ngón tay cậu. Nó chuyển sang màu đỏ dưới ánh đèn pin.

“Cháu bị thương à?” tôi hỏi thăm.

Cậu lắc đầu nhưng không dám nhìn thẳng vào mắt tôi.

“Cháu đang chảy máu kìa.”

Cậu giơ tay lên ngắm nghía. “Không phải máu của cháu đâu.”

Tôi cố nghĩ xem vết máu đó từ đâu mà ra. Nếu có tiếng súng nào hẳn tôi đã nghe thấy.

“Khẩu súng đâu rồi, Nick?”

“Cháu không biết.”

“Chuyện gì đã xảy ra?”

Cậu lại ôm lấy đầu gối và gục đầu xuống, không trả lời.

“Chú rất muốn giúp cháu,” tôi nhẹ nhàng nói, “nhưng chú cần biết chuyện gì đã xảy ra.”

“Cháu không cần ai giúp cả.”

“Chú sẽ tìm được gì trên bãi cát hả Nick?”

“Chú tự đi mà tìm. Có ai ngăn chú đâu.”

Tôi với tay gạt những lọn tóc khỏi khuôn mặt cậu. “Nói cho chú biết chuyện gì đã xảy ra với khẩu súng.”

Cậu gạt tay tôi. “Tránh xa cháu ra.”

“Nói đi.”

Tôi thấy cậu rùng mình, khó khăn lắm mới thốt nên lời. “Chú muốn cháu nói gì đây? Cháu bắt lão ta quỳ trên bãi cát rồi dí súng vào đầu. Và lão ta đã thú nhận rằng mình đã sai người giết Terry.”

Nick gục mặt vào hai cánh tay và tôi lại đưa tay ra chạm lên mái tóc cậu. Lần này, cậu để yên. Cậu đu đưa thân mình từ trước ra sau, giọng buốt nhói như một vết thương. “Lão ta đã thú nhận và cháu vẫn không thể làm điều đó. Cháu không thể bóp cò. Tại sao?”

Tôi ngồi xuống bên cạnh và vòng tay qua vai cậu. Tôi ngắm nhìn những con sóng vỗ vào bờ và cảm nhận thân mình cậu đu đưa chậm dần rồi ngừng hẳn. Khi cậu đã bình tĩnh lại, tôi đỡ cậu đứng dậy và dẫn xuống chỗ bờ hồ. Cậu rửa mặt và hai bàn tay.

“Chú muốn cháu chờ ở đây,” tôi dặn. “Chúng ta sẽ quay lại căn chòi cùng nhau.”

Cậu trả lời tôi bằng một cái gật đầu lơ đãng.

“Chú sẽ không đi lâu đâu,” tôi nói và để cậu đứng lại đó với chiếc đèn pin trong khi mình đi dọc theo bãi cát.

Bờ hồ lượn về phía nam và chẳng bao lâu, tôi tới một ngọn đồi cỏ mọc tươi tốt chạy từ bìa rừng xuống tới sát mặt nước. Đi vòng qua đó, tôi thấy một người ngồi trên bãi cát dưới ánh trăng. Hai chân ông nghị sĩ duỗi ra trước và khi tới gần, tôi có thể thấy ông ấy để chân trần, hai ống quần xắn lên cao, giày và tất nằm cạnh đó. Ông ấy ngả ra sau và tì lên hai cánh tay, mắt nhìn lên bầu trời đầy sao.

Mãi tới khi tôi đứng thật sát, ông ấy mới nhìn thấy tôi. Ông ấy chậm rãi ngồi dậy, khoanh hai chân, rồi bật cười rất khẽ, gần như không nghe thấy được. “Anh thường đi đây đó lắm, phải không?”

Tôi ngồi đối diện với ông ấy trên bãi cát. “Ông cũng vậy mà.”

“Anh thấy Brimley thế nào?”

“Theo như tôi thấy, nó là một thị trấn nhỏ xinh xắn.”

Ông ấy gật đầu, nhìn mặt hồ qua vai tôi. “Lúc nào tôi cũng yêu quý nơi này. Thời trẻ, tôi đã tới đây để đi cắm trại hay leo núi. Đó là trước khi họ mở sòng bạc. Nếu ưa thích sự náo nhiệt, anh cứ qua cầu sang Canada, tới Sault Sainte Marie.” Ông ấy rũ cát bám trên ống quần. “Hồi đó, ta có thể qua biên giới mà không cần hộ chiếu. Đó là một thời kỳ ngây thơ. Anh có không?”

Một giây sau, tôi mới nhận ra ông ấy đang hỏi về hộ chiếu của mình. “Tôi không đem nó theo,” tôi đáp.

“Nhưng anh có hộ chiếu. Nó vẫn còn hiệu lực chứ?”

“Chắc thế.”

“Anh phải đảm bảo nó vẫn còn hiệu lực,” ông ấy nói. “Chẳng bao giờ ta biết được khi nào cần dùng và phải mất vài tuần mới gia hạn được. Tôi chưa bao giờ có thời gian làm việc đó.”

“Gia hạn hộ chiếu?”

“Không, cải tổ lại hệ thống cho thống nhất. Tôi luôn muốn làm thế. Nhưng ta đang nói tới Bộ ngoại giao, thuyết phục họ cải tổ bất cứ điều gì cũng rất khó khăn.”

Tôi im lặng nhìn ông ấy một lúc rồi nói: “Ông sẽ cứ thế này à?”

Ông ấy nhíu mày, tỏ vẻ bối rối. “Anh bảo gì cơ?”

“Lucy Navarro kể với tôi rằng khi mệt mỏi, ông thường nói chuyện lan man.”

Cái nhíu mày biến mất và ông ấy cười lớn. “Vậy anh trông chờ điều gì ở tôi? Tôi đang dần mất trí. Anh chưa xem buổi họp báo à?”

“Tôi xem rồi,” tôi nói. “Khi đó thì tôi tin, nhưng giờ tôi cũng không dám chắc nữa.”

“Cứ tin đi. Bệnh tình của tôi là thật. Tất cả những bác sĩ giỏi nhất đều nói thế với tôi.”

“Ông có vẻ vẫn ổn mà, thậm chí còn lái xe được.”

Bàn tay phải của ông nghị sĩ để trên mặt đất, dọc theo thân người, những ngón tay thọc xuống cát. “Sắp tới, họ sẽ không để tôi làm thế nữa đâu,” ông ấy nói nhỏ. “Nhưng giờ thì chưa. Một thời gian nữa, tôi còn chẳng tự mặc được quần áo. Các y tá sẽ giúp tôi việc đó và lau rãi rớt trên cằm tôi. Họ đã lên kế hoạch cho tôi thế đấy. Nhưng tôi không nghĩ là mình sẽ sống đến lúc đó.”

Ông ấy hạ giọng khi nói mấy từ cuối cùng.

“Ông không nghĩ là tôi sẽ thấy thương hại ông đấy chứ?” tôi hỏi.

“Có lẽ là không.”

Nãy giờ, tôi quan sát kỹ ông ấy dưới ánh trăng. Tôi có thể thấy thứ gì giống như vết máu ở thái dương và một vết rách ngay dưới chân tóc ông ấy. Một miếng vải lanh trắng nằm trên mặt cát bên trái ông ấy - một mảnh xé ra từ gấu áo sơ mi. Trên đó có những vệt sẫm, có lẽ ông ấy đã dùng nó để cầm máu.

Tôi chỉ vào thái dương ông ấy. “Vết thương nặng cỡ nào?”

Ông ấy chạm đầu ngón tay lên vết rách. “Không sao đâu, chỉ là một vết xước thôi.”

“Sao ông lại bị thế?”

“Tôi vấp ngã trong rừng.”

“Và đập đầu xuống đất? Đen đủi quá.”

Ông ấy chẳng nói gì.

“Ông có chắc là Nick không đánh ông bằng khẩu súng đó?” tôi hỏi.

“Sao anh lại nghĩ thế?”

“Ở vào vị trí của cậu bé, tôi sẽ làm thế nếu không thể bắn ông.”

❀ ❀ ❀

[1] Đây là phép chơi chữ. Trong tiếng Anh, từ “horn” vừa có nghĩa là “sừng”, vừa có nghĩa là “tù và” hoặc “còi”.

n trên. Tôi mở một trang ở giữa và đọc lướt trang giấy được đánh máy, xem ngẫu nhiên vài từ: đẩy, đổ vỡ, đèn bàn, đau đầu. Chỉ là một mớ hỗn độn, nhưng điều đó không quan trọng. Riêng câu mở đầu đã nói lên tất cả, phần còn lại chỉ là tiểu t
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.