“Tên cậu ta là Jeremy Dechant,” Elizabeth thuật lại với tôi vào tối hôm đó. “Đến từ Sylvania, Ohio, ngoại ô thành phố Toledo.”
Cô về nhà lúc 8 giờ rưỡi tối. Tôi và Sarah đã dùng bữa: Gà nướng và sa lát trộn cà chua lẫn dưa chuột. Tôi đang xếp bát đĩa vào máy rửa.
“Cậu ta đã đọc tiểu thuyết của Lucy,” Elizabeth kể. “Cậu ta nói cuốn sách đã giúp cậu nhận ra rằng mình sinh ra để trở thành ma cà rồng. Cậu ta tin rằng nếu bắt cóc và uống máu Lucy thì bản thân sẽ hóa thành ma cà rồng, chứ thực ra mình không muốn giết cô ta .”
Hoá ra tất cả những gì cậu ta nói chỉ là nhảm nhí.
“Cậu ta không lái chiếc minivan màu xanh,” Elizabeth nói với tôi. “Em không tin là cậu ta từng đến bãi đỗ xe của khách sạn Winston. Thậm chí cậu ta không miêu tả nổi chỗ đó. Khi được hỏi hiện giờ xác Lucy ở đâu, cậu ta nói nó đã hóa thành một màn sương khi cô ta chết. Ma cà rồng chết kiểu đó mà.”
Cô đứng bên quầy bếp, tay cầm một cốc nước chanh. “Chúng em đã liên lạc với cảnh sát Sylvania,” cô nói. “Họ biết chàng trai này. Cách đây 2 năm, cậu ta được chẩn đoán mắc chứng tâm thần phân liệt. Họ đã đưa cậu ta về đồn vài lần vì la hét ngoài đường. Cậu ta có một niềm đam mê bệnh hoạn với những con vật bị cán chết trên đường. Có lần họ bắt gặp cậu ta đang đi dọc theo đường cao tốc gần nhà, tay lôi xác một con hươu.”
Cô dừng lại để uống một hớp nước chanh. “Hôm nay, cậu ta mang theo một chiếc ba lô. Bên trong đựng tiểu thuyết của Lucy và một con sóc chết quấn trong túi rác. Cậu ta nói mình thèm khát máu người, nhưng nghĩ tốt hơn tạm thời cứ uống máu sóc đã.”
“Đáng nể thật,” tôi nói. “Em đã xử lý sao với cậu ta?”
“Chúng em gửi trả cậu ta về Ohio. Cha mẹ cậu ta sẽ đưa con trai đi khám. Cảnh sát ở Sylvania nói rằng họ sẽ tìm kiếm xung quanh nhà cha mẹ cậu ta - cạnh đó có một khu rừng. Họ cho rằng có khả năng là cậu ta liên quan tới việc Lucy mất tích. Em vẫn nghĩ là cậu ta đã bịa ra chuyện đó. Cậu ta đọc tin về Lucy trên báo và tự tưởng tượng ra chuyện này. Cậu ta chỉ phạm mỗi một tội là làm lãng phí mất nửa ngày của em.”
Elizabeth ăn nốt chỗ đồ ăn từ bữa tối, còn tôi thì đã dọn dẹp xong. Sau đó, cô tiếp tục nghiên cứu tập hồ sơ về Anthony Lark, trải giấy tờ khắp mặt bàn ăn và viết ghi chú trên cuốn sổ tay. Cô đang vẽ lại biểu đồ thời gian những sự việc xảy ra liên quan tới cái chết của Charlie và Terry Dawtrey, Henry Kormoran, vụ tấn công Sutton Bell. Cô thường làm vậy mỗi khi phá án. Bằng cách đặt các sự việc theo đúng trình tự, đôi khi ta có thể nhận ra những mối liên quan mà trước đó mình đã bỏ qua.
Jeremy Dechant xuất hiện trên bản tin lúc 10 giờ tối. Các chi tiết không được tường thuật kĩ lắm, tôi có cảm giác tay phóng viên chỉ chờ dịp để được thốt ra cụm từ “lời thú tội kỳ quái”. Anh ta thực hiện bản tin cạnh bãi cỏ trước nhà cha mẹ Dechant. Một cảnh sát Sylvania sốt sắng trả lời phỏng vấn về cuộc tìm kiếm đang được tiến hành. Không ai thuộc sở cảnh sát Ann Arbor đưa ra bất cứ bình luận nào.
Tôi tắt TV và bảo Elizabeth là mình phải tới tòa soạn Gray Streets.Tôi cũng nói với Sarah như vậy. Lúc đó, cô bé đang ngồi ngoài hiên nói chuyện với bạn qua điện thoại. Cô bé nhìn tôi hồ nghi. “Thật đấy,” tôi nói.
Quả thực là tôi tới tòa soạn. Tôi đỗ xe sau tòa nhà rồi đi thang máy lên tầng sáu. Ngồi tại bàn làm việc bên cửa sổ mở rộng, tôi có thể nghe thấy tiếng kèn saxophone vọng lên từ dưới phố. Một buổi tối thứ Sáu ở Ann Arbor là thế này đây.
Tôi miễn cưỡng ngồi chỉnh sửa truyện về tay thám tử và cô gái nắm quyền thừa kế được 20 phút. Sau đó, tôi đóng cửa sổ, khóa cửa văn phòng rồi phóng xe lên phía bắc tới phố Summit. Những bức rèm của nhà số 315 đều đóng kín, nhưng tôi có thể nhìn thấy ánh đèn qua khe hở. Tôi đi vòng quanh khu nhà và gọi cho Alan Beckett. Một lúc sau, anh ta mới trả lời.
“Chào anh Loogan.”
“Đã bảo rồi mà. Anh giỏi thật đấy.”
Anh ta bật ra một tiếng thở nặng nhọc như thể đang đứng lên khỏi ghế. “Anh vào thẳng vấn đề đi.”
“Quá tốt, mà cũng có thể nói là quá may mắn,” tôi nói. “Anh đã xem bản tin chưa?”
Tôi đi hết một vòng tới mặt tiền nhà 315 rồi đỗ lại bên lề đường.
“Nói vậy vẫn mập mờ lắm,” anh ta đáp. “Tôi xem nhiều bản tin lắm.”
“Jeremy Dechant.”
“Chàng trai đã thú nhận giết Navarro?”
“Chính thế. Anh lôi cậu ta từ đâu ra thế?”
Tôi tưởng tượng lúc này anh ta đang đi đi lại lại sau bức rèm.
“Tôi không hiểu ý anh là gì,” anh ta chối.
“Chuyện đó đúng là quá thuận tiện cho anh mà,” tôi nói. “Việc Dechant xuất hiện ấy. Mọi người vẫn không muốn tin Callie Spencer có liên quan tới Lucy. Giờ thì họ chẳng cần phải làm thế nữa. Họ có thể yên tâm rằng một thằng nhóc lập dị đã đọc truyện của Lucy rồi nảy ra những ý nghĩ điên rồ. Cảnh sát có tin lời khai của nó hay không chẳng quan trọng. Miễn là ai cũng biết tin này.”
“Tôi chẳng dính líu gì tới việc cậu Dechant thú tội cả.”
Tôi lắng nghe tiếng động cơ nổ đều đều.
“Cũng có thể đó không phải sự thật,” tôi nói. “Tất cả đều là từ trí tưởng tượng phong phú của tôi mà ra.”
“Nhiều khả năng là thế đấy,” Beckett đáp. “Tiện thể, có người đã đột nhập vào đây hôm qua. Anh có chắc là không biết gì về chuyện đó không?”
“Sao anh lại hỏi thế?”
“Tôi có cảm giác rằng kẻ đó phải là người có trí tưởng tượng phong phú. Hiển nhiên, tôi nghĩ ngay tới anh.”
“Chắc là bọn trẻ con trong khu phố đấy thôi.”
“Rõ ràng là một hành động trẻ con,” anh ta nói. “Tên này còn có đồng bọn. Đó là một thiếu nữ, tôi không tin cô bé sống quanh khu này.”
“Thật vậy à?”
“Kể ra cũng hay ho. Cô bé dùng điện thoại của tôi để gọi cho cha. Phải cái số điện thoại của cha cô lại là số của một cửa hàng bán dụng cụ vẽ.”
“Thật là lạ lùng.”
“Cô bé đó có nét gì rất quen, mãi sau tôi mới nhận ra. Cô bé khiến tôi nhớ tới thám tử Waishkey.”
“Chuyện đó...”
“.. .thật là lạ lùng, tôi biết.” Anh ta thở dài. “Tôi tin là chuyến viếng thăm đó của anh đã xua tan mọi nghi ngờ và anh sẽ không quay lại đây lần nào nữa.”
“Tôi không hiểu ý anh.”
“Đương nhiên là không rồi. Tạm biệt, anh Loogan.”
Anh ta dập máy. Tôi chờ đợi một lúc trên con phố vắng, sau đó đi tới đầu kia khu nhà rồi rẽ ngoặt xuống phía nam.
Tôi đi theo phố Fountain tới phố Miller, rồi rẽ sang phía đông. Vài phút sau, tôi dừng lại trên phố Bedford, ở đúng vị trí mà tôi đã ngồi cùng Lucy trên chiếc Bettle vàng vào 2 ngày trước.
Tôi tắt đèn pha nhưng vẫn để nổ máy, chăm chú nhìn ô cửa sổ cạnh bàn làm việc của Callie với hi vọng sẽ nhìn thấy cô ấy.
Một lúc sau, tôi chuyển sự chú ý sang cửa chính. Cánh cửa gỗ màu sẫm, xù xì, không sơn phủ. Tôi chợt nảy ra ý định tới đó gõ cửa. Tính toán xem nên nói gì khi cô ấy mở cửa cho mình vào nhà.
Cửa bật mở. Một người đàn ông bước ra. Tôi nhận ra ngay dáng người anh ta - Jay Casterbridge, chồng của Callie. Anh ta đi ngang qua chiếc Ford màu bạc rồi chui vào một chiếc Audi. Lùi xe ra đường, anh ta lái thẳng về hướng tôi, tới chỗ giao với đại lộ Arlington rồi rẽ trái.
Tôi bật đèn pha và bám theo anh ta.
Chúng tôi dừng lại cách đó chưa đầy 3 cây số, tại một căn nhà nằm dưới tán cây sồi trên phố Fernwood. Hiên nhà treo quốc kỳ Mỹ, biển bán nhà cắm trên bãi cỏ ghi số điện thoại và tên công ty CASTERBRIDGE REALTY.
Anh ta lái xe theo lối vào tới một ga ra nằm tách rời căn nhà chính. Tôi đi quá chỗ đó một quãng rồi đỗ lại trên phố. Dưới tán cây sồi tối om mặc dù cả phố tràn ngập ánh trăng. Tôi cẩn trọng bước trên vỉa hè gồ ghề, đi chậm lại khi tiếp cận lối vào nhà. Trong xe của Casterbridge không có ai. Tôi thấy ánh đèn hắt ra từ một ô cửa sổ bên hông nhà.
Vừa định bước lên lối đi, tôi thoáng thấy thứ gì đó chuyển động trên vỉa hè đằng xa. Một bóng người đen thẫm đang lẩn vào sau thân cây.