Kẻ Cướp Cuối Cùng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

❊ ❊ ❊

Rời khỏi quán ăn, Walter Delacorte đeo cặp kính râm lên và dẫn chúng tôi ra xe. Rồi chúng tôi nhìn theo cho đến khi ông ta đi khuất trên phố Court. Ngay khi vừa lên xe, Elizabeth chỉ nói hai từ: “Rod Steiger[1].”

Mất vài giây, tôi mới hiểu cô muốn nói gì. “Phim In the Heat of the Night,” tôi nói.

“Ông ta gợi cho em nhớ tới viên cảnh sát trưởng mà Rod Steiger thủ vai trong phim đó, chỉ khác là khéo ăn nói và vô trách nhiệm hơn.”

Cô nổ máy và lái xe ra phố.

“Anh thì lại nhớ tới William xứ Occam,” tôi nói.

“Ông ta đóng phim gì thế?”

“Đó là một nhà triết học người Anh sống ở thời Trung cổ.”

Ngừng lại một thoáng, cô nói, “Dao cạo Occam[2].”

Tôi gật đầu. “Là lý thuyết dao cạo Occam. Không nên phức tạp hóa vấn đề quá mức cần thiết. Thế nên, nếu ta có thể giải thích mọi chuyện đã xảy ra mà không cần manh mối về tay súng trên đồi...”

“... thì chẳng có tay súng nào hết.”

“Chính xác. Cảnh sát trưởng Delacorte vừa cho chúng ta một bài giảng về siêu hình học.”

“Vậy em đoán chuyến đi tới Sault Sainte Marie của chúng ta thành công cốc rồi.”

“Mình vẫn còn thời gian đi xem cửa bến mà.”

Cô hạ kính bên ghế lái xuống. Gió lùa vào mái tóc cô.

“Em ghét phải làm anh thất vọng, David ạ. Nhưng chúng mình sẽ không đến chỗ cửa bến đâu.”

Chúng tôi cùng nhau thưởng ngoạn phong cảnh vùng Sault Sainter Marie suốt 1 tiếng rưỡi sau đó. Nơi dừng chân đầu tiên là văn phòng của Arthur Sutherland, luật sư của Kyle Scudder. Elizabeth đưa cho Sutherland bản vẽ tổng hợp các đặc điểm của tên mặc áo kẻ cùng một bản sao tập bản thảo mô tả cái chết của Charlie Dawtrey. Mặc dù trong suốt cuộc nói chuyện, ông đã ngắt lời cô tới 5-6 lần để nghe điện thoại, tới cuối buổi cô cũng thuyết phục được ông rằng thân chủ mình vô tội.

Sau đó, hai chúng tôi tới nhà viên cảnh sát Rhiner. Đó là một căn nhà tươm tất, có bồn nước nuôi chim ở sân trước. Một chiếc Buick đỗ trên lối đi cạnh cây óc chó. Tuy thế, khi chúng tôi gõ cửa, không có ai trả lời cả. Elizabeth đành để lại danh thiếp trong hòm thư bên cửa ra vào.

Chuyến viếng thăm cảnh sát Tillman cũng chẳng khá hơn. Anh ta sống trong một căn nhà gỗ bên mạn tây thị trấn, giữa đường cao tốc liên bang và đường ray xe lửa. Một chú chó sủa vang trong sân bên khi chúng tôi bước lên hành lang trước nhà. Người phụ nữ ra mở cửa có vẻ phờ phạc, trên tay bồng đứa bé con. Một đứa lớn hơn, đang tuổi chập chững tập đi, bám lấy gấu váy mẹ. Cả hai đều là con gái, tóc cột nơ. Nhìn vào trong nhà, chúng tôi thấy còn một cô bé khoảng 6 tuổi. Nó vừa chạy vòng vòng vừa hát theo một ca khúc thiếu nhi trên đĩa CD.

Người phụ nữ - vợ của Tillman - không buồn lắng nghe những câu hỏi của Elizabeth, nói rằng chồng mình đi vắng không biết đến lúc nào mới về. Sau đó, cô ấy cầm tấm danh thiếp của Elizabeth rồi đóng sập cửa lại.

Chúng tôi tới nghĩa trang Whiteleaf vào đầu giờ chiều, lái xe qua cổng rồi đỗ lại ở chỗ râm mát duy nhất trong bãi. Vài phút sau, chúng tôi tìm được mộ của Charlie Dawtrey. Lần theo lối mà Terry Dawtrey đã đi, chúng tôi tìm thấy một bia đá ghi tên AGNES DAWTREY - chính là mộ người bà mà hôm trước gã đã xin viên cảnh sát ra thăm.

Lọ hoa hồng đã bị đem đi. Đó là nơi Terry Dawtrey quỳ xuống cỏ và nhặt chìa khóa còng lên, để rồi sau đó cố tẩu thoát về phía hàng rào.

Chúng tôi có thể nhìn thấy được kết cục của gã. Bên kia hàng rào, băng niêm phong của cảnh sát viền quanh một khoảnh đất nhỏ. Ai đó đã buộc trên hàng rào một miếng vải màu vàng, có lẽ được xé ra từ một chiếc khăn bông.

“Cái này để đánh dấu đây,” Elizabeth nói.

Cô rút một tờ giấy ở trong túi và mở nó - tấm bản đồ tải từ Internet được cô in ra. Nó thể hiện rõ địa hình nghĩa trang và những con đường bao quanh.

“Những bông hồng là để chỉ cho Dawtrey chỗ cái chìa khóa,” cô nói, “còn miếng vải là để đánh dấu chỗ gã cần chạy tới.” Cô nhìn xuống tấm bản đồ. “Nếu chạy thẳng qua ngọn đồi này, gã sẽ tới đường Portage. Ở đó, chiếc Camaro ăn cắp đã được chuẩn bị sẵn.”

Tôi xoay lưng về phía mộ Agnes Dawtrey rồi tiến tới đoạn hàng rào có miếng vải đánh dấu màu vàng. Elizabeth sải bước ngay bên cạnh.

“Trong bản thảo này, tên mặc áo kẻ viết rằng Dawtrey chạy thẳng tới chỗ hắn núp trên đồi,” tôi nói. “Hẳn là hắn đã nằm trên kia, dưới bóng cây thông.”

Elizabeth níu lấy cánh tay tôi khi cả hai bước tới gần hàng rào. “Hắn bắn một phát về phía Dawtrey nhưng bị trượt,” cô nói.

Đó không phải một câu hỏi, nhưng tôi vẫn trả lời. “Đúng vậy.”

Cô chỉ tay lên khoảng đất trống trước mặt chúng tôi, nơi một khoanh đất lớn đã bị xới lên rồi lấp lại.

“Ai đó đã đào viên đạn lên.”

Gió thổi làm đám cỏ dại trên sườn đồi gợn sóng lăn tăn. Đứng trên đỉnh đồi, tôi nhìn xuống những dải băng cảnh sát đánh dấu hiện trường uốn lượn trong đám cỏ.

“Chính là chỗ này,” tôi nói.

Elizabeth đứng sát bên tôi. Chúng tôi không leo thẳng tới đây mà đi ra qua cửa nghĩa trang, vòng qua chỗ hàng rào rồi mới lên đồi.

Một cây thông trắng với lá kim phủ dày dưới gốc - đúng như miêu tả của tên mặc áo kẻ. Nằm dưới gốc thông có thể quan sát được toàn cảnh bên dưới mà không bị phát hiện, trừ khi có ai đó chủ tâm tìm kiếm thật kĩ.

Elizabeth quỳ xuống và vuốt bàn tay lên mặt đất phủ đầy lá thông. Cô nói, “Theo những gì viết trong bản thảo này, khẩu súng bị kẹt khi bắn phát đầu làm hắn phải đẩy nó khỏi ổ đạn. Viên đạn rơi trên đám lá thông. Súng nổ phát thứ hai và hẳn là vỏ đạn cũng rơi xuống đây. Hắn không viết rằng mình đã nhặt nó lên sau đó.”

“Đúng thế,” tôi nói.

Tôi ngồi xuống tìm kiếm trên mặt đất cùng cô. Chẳng thấy gì cả.

“Có lẽ hắn đã nhặt cả viên đạn lẫn vỏ đạn rồi,” cô nói. “Dân chuyên nghiệp hẳn sẽ làm vậy. Chắc hắn thấy không cần viết những chi tiết nhỏ nhặt thế này.”

“Em nghĩ hắn là dân chuyên nghiệp à?”

Cô lắc đầu. “Nếu xem xét hành động thì thấy hắn tùy cơ ứng biến nhiều hơn.”

“Nếu hắn không nhặt viên đạn và vỏ đạn, chắc chắn một người khác đã làm điều đó. Có thể là Delacorte hoặc nhân viên của ông ta.”

“Chúng ta chưa biết chắc mà.”

“Nhưng hai ta có cùng suy nghĩ, phải không nào?”

Cô không đáp. Chúng tôi đứng dậy, nhìn xuống bãi cỏ lượn sóng.

“Có khả năng là cảnh sát thực sự không biết có người núp trên này,” mãi sau cô mới nói. “Phát súng nổ có thể bị nhầm là tiếng vọng. Viên đạn không trúng mục tiêu mà găm xuống đất. Nhưng khi em gửi bản thảo cho Delacorte, chắc chắn ông ta đã tới đây sục sạo rồi.”

“Có thể chính ông ta đã đào viên đạn lên,” tôi nói, “rồi nhặt cả viên đạn và vỏ đạn trên đồi nữa.”

“Cũng có thể.”

“Nhưng làm thế để làm gì? Sao phải lấp liếm chuyện này?”

“Em không biết. Có lẽ Delacorte chỉ muốn mau chóng xử vụ này cho xong. Việc một cảnh sát của ông ta bắn chết tù nhân đã đủ tồi tệ lắm rồi. Phải thừa nhận trên đồi còn một tay súng nữa chỉ làm tình hình xấu thêm. Nó làm dấy lên những câu hỏi ông ta không trả lời được.”

Cô chợt im bặt như thể bị thứ gì đó bên dưới làm sao nhãng. Tôi trông theo ánh mắt cô và thấy một chiếc xe đi qua cổng nghĩa trang.

Chiếc xe nhìn quen quen. Đứng bên tôi, Elizabeth nói, “Có phải là chiếc Buick của Paul Rhiner kia không?”

Chiếc xe dừng lại. Một người đàn ông mở cửa xe bước ra, bận quần bò xanh, áo sơ mi bỏ ra ngoài. Anh ta bước tới chỗ chúng tôi đỗ xe, nhìn qua cửa kính, sau đó bước trên thảm cỏ tiến về phía mộ Charlie Dawtrey.

“Người đó làm gì thế nhỉ?” tôi nói.

“Đang dò xét chúng ta đấy.”

Rhiner - nếu đó quả thực là anh ta - đứng lại trước mộ Charlie Dawtrey và chầm chậm ngoái đầu nhìn quanh.

“Không phải anh ta bám theo chúng mình đến đây chứ?” tôi hỏi Elizabeth.

“Chắc không phải đâu,” cô nói. “Có lẽ Delacorte đã cử anh ta tới.”

“Em có nói với Delacorte là mình sẽ ra đây đâu.”

“Đâu cần phải nói mới biết được. Em vẫn còn nhiều điều chưa rõ về cái chết của Terry Dawtrey, vậy hiển nhiên là em phải tới đây rồi.”

Cuối cùng, Rhiner cũng ngẩng đầu lên. Anh ta đứng đó, nhìn lên chỗ chúng tôi, một tay giơ lên che nắng cho khỏi chói.

“Chúng ta có nên đi xuống không?” tôi hỏi.

“Cứ để anh ta lên đây.”

Có vẻ Rhiner định làm thế thật. Anh ta bắt đầu bước ra cổng như thể sắp vòng qua hàng rào để lên đồi. Nhưng khi anh ra tới bãi đỗ, một chiếc Volkswagen Beetle màu vàng tiến vào. Rhiner cố tránh xa chiếc xe, nhung một phụ nữ bước ra rồi đuổi theo anh ta.

“Còn đây là ai thế?” tôi nói.

Elizabeth khẽ đáp. “Một mối phiền toái.”

Bên dưới, Rhiner và người phụ nữ đang nói gì đó với nhau nhưng chúng tôi không nghe được. Một lúc sau, Rhiner quay lưng bỏ đi và chui vào xe. Chúng tôi nghe thấy tiếng máy nổ, chiếc xe lăn bánh trên bãi. Khi chiếc Buick ra tới đường cái, Rhiner rồ ga lao vụt đi.

Elizabeth kéo tôi từ đỉnh đồi xuống rồi cúi mình nhặt một nắm lá thông. Chẳng đợi tôi hỏi tại sao, cô nói, “Đi thôi.”

Chúng tôi lại xuống theo đường vòng như trước. Người phụ nữ đang dựa vào xe đợi chúng tôi. Có vẻ như cô ta chủ ý ăn mặc giống dân bản địa để hoà nhập: Quần áo bằng vải bông chéo, đôi bốt cứng to tướng.

Elizabeth mở lời giới thiệu. “David, đây là Lucy Navarro. Còn Lucy, đây là David Loogan.”

Chúng tôi chào nhau.

“Cô Lucy đây là phóng viên,” Elizabeth nói. “Cô ấy làm ở tòa soạn New York Times.”

Cô gái mỉm cười và lắc đầu. “Là National Current chứ.”

“Thật à?” Elizabeth tinh nghịch nói. “Cô là điện tích dương à[3]?”

“Cũng gần như thế. Hai người có thể cho tôi biết mình vừa làm gì trên đồi không?”

Khi bước qua bãi đỗ xe, Elizabeth khoác tay tôi. Giờ cô ngả đầu lên vai tôi và nói, “David, cô ấy muốn biết mình vừa làm gì trên đồi kìa.”

Tôi nhặt một mẩu lá thông vương trên tóc cô. “Em bỏ sót rồi này,” tôi nói.

Lucy Navarro lờ đi màn kịch của chúng tôi và hỏi tiếp. “Paul Rhiner vừa đi khỏi đây. Có phải anh ta đến gặp hai người không?”

Elizabeth ngoái đầu nhìn ra đường. “Hoá ra đó là Rhiner à?”

“Rhiner là người đã bắn chết Terry Dawtrey. Việc điều tra đã có tiến triển gì chưa? Có manh mối nào làm sáng tỏ vụ sát hại Henry Kormoran hay vụ tấn công Sutton Bell không?”

“Cô ấy hỏi hay đấy chứ?” Elizabeth nói với tôi.

“Và hỏi nhiều nữa,” tôi nói.

“Vậy thì trả lời tôi đi nào,” Lucy Navarro đề nghị.

“Tôi cũng muốn lắm,” Elizabeth đáp, “nhưng chúng tôi bị muộn mất rồi. David, tàu chạy lúc mấy giờ nhỉ?”

Tôi nhìn đồng hồ. “Nếu mình đi luôn bây giờ thì vẫn còn kịp.”

“Chuyến tàu nào thế?”

Trước khi chúng tôi quay về chỗ đỗ xe, Elizabeth nghiêng mình về phía Lucy Navarro và nói, “Đáng ra tôi không nên nói cho cô biết điều này, nhưng nếu có cơ hội vượt biên giới sang Canada, cô có thể đi tàu hỏa qua thung lũng Agawa. Không ai biết đâu, chỉ giữa chúng ta với nhau thôi nhé, tôi nghe nói cảnh vật ở đó đẹp tuyệt trần.

❀ ❀ ❀

[1] Rod Steiger (1925 - 2002): Diễn viên nổi tiếng người Mỹ.

[2] Lý thuyết triết học nổi tiếng của William xứ Occam, cho rằng lời giải thích đơn giản nhất thường là lời giải thích xác đáng nhất. Từ “dao cạo” ám chỉ việc cạo đi những giả thiết thừa.

[3] Trong tiếng Anh, từ “Current” có nghĩa là “Thời sự” hoặc “Dòng điện”.

n trên. Tôi mở một trang ở giữa và đọc lướt trang giấy được đánh máy, xem ngẫu nhiên vài từ: đẩy, đổ vỡ, đèn bàn, đau đầu. Chỉ là một mớ hỗn độn, nhưng điều đó không quan trọng. Riêng câu mở đầu đã nói lên tất cả, phần còn lại chỉ là tiểu t
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.