Câu chuyện Lucy Navarro xuất hiện trở lại là một sự kiện tẻ nhạt, nhàm chán mà chẳng ai muốn bỏ công sức đưa tin. Tờ National Current đăng một mẩu tin vắn trên website nhưng không đưa nó vào bản in. Lúc trước, chính tòa báo này đã tỏ ra vô cùng sốt sắng khi có vẻ như Lucy đã bị giết hại bởi người hâm mộ - một thằng nhóc từ Ohio với mong muốn biến thành ma cà rồng.
Những cây viết của tòa soạn Current viết được nhiều tin hơn về vụ Lark chết ngay trước ngưỡng cửa nhà Callie Spencer - dù vậy, tôi không tin họ dám viết hết mình. Các tờ báo danh tiếng chỉ đưa tin một cách dè chừng. Phần lớn cho rằng chuyện này chẳng liên quan gì tới Callie: Lark là một kẻ đáng nguyền rủa có thể bám lấy bất kỳ ai. Các chuyên gia đều đồng tình Callie đã xử lý tình huống không may này rất hợp lý. Nếu được hỏi, tôi cũng sẽ nói y như vậy.
Đến tối thứ Hai, tin tức về cái chết của Lark đã nhạt hẳn. Đó là bởi vào buổi chiều, thượng nghị sĩ John Casterbridge đã tổ chức một cuộc họp báo công bố mình được chẩn đoán mắc chứng Alzheimer[1].
Tôi xem buổi họp báo trên kênh CNN. Thượng nghị sĩ đi cùng con trai và Callie. Các bác sĩ của bệnh viện trường Đại học Michigan cũng có mặt để trả lời những câu hỏi. Ông ấy đứng trên bục tại giảng đường, đọc lời cảm ơn tới các cử tri đã ủng hộ mình nhiều năm qua. Ông ấy nói tới những thành tựu mà họ đã đạt được và tương lai tươi sáng của bang. Ông ấy trấn an mọi người rằng mình vẫn ổn, chứng bệnh mới ở giai đoạn đầu. Cho tới giờ, các triệu chứng không nặng lắm - chỉ là một chút vấn đề về trí nhớ thôi.
Những lời này không có vẻ gì khó tin cả. Ông ấy vẫn điều khiển được bản thân và nói năng lưu loát. Tôi biết ông ấy đang nói dối về mức độ các triệu chứng - mới tuần trước, ông ấy còn lên đường tìm kiếm người vợ quá cố của mình. Nhưng tôi không cảm thấy khó chịu vì lời nói dối đó. Nó chẳng ảnh hưởng tới ai.
Tới cuối bài phát biểu, ông ấy ngừng lại để vuốt một lọn tóc bạc. “Cuộc đời tôi chưa kết thúc,” ông ấy nói. “Nhưng tôi sẽ không còn phục vụ cho bang của chúng ta nữa. Tôi rất muốn hoàn thành nốt những tháng ngày còn lại trong nhiệm kỳ, nhưng không thể được. Vậy nên tôi rất buồn phải thông báo rằng tôi xin từ chức khỏi Thượng viện. Quyết định có hiệu lực ngay từ hôm nay.”
Những câu hỏi vang lên tứ phía, nhưng ông nghị sĩ không trả lời. Ông ấy bình thản vẫy tay về phía máy quay rồi bước xuống khỏi bục, Jay và Callie đi kèm hai bên. Góc quay lui ra xa và ta có thể thấy một bác sĩ của ông ấy bước lên trước micro. Nhưng ngài nghị sĩ là trung tâm của cả khung cảnh, bước đi với mái đầu ngẩng cao cho tới khi bóng ông ấy khuất sau cánh cửa.
Không thấy Alan Beckett đâu cả, nhưng tôi tin chắc anh ta là người đứng sau mọi chuyện. Thời điểm đưa ra thông báo thật hoàn hảo. Nó chuyển sự chú ý từ Lark trở lại cuộc đua vào Thượng viện. Những phỏng đoán ai sẽ ngồi vào chiếc ghế trống của ngài nghị sĩ xôn xao khắp nơi những ngày sau đó. Tới cuối tuần, thống đốc bang đã chọn một cựu nghị sĩ có danh tiếng. Ai cũng hiểu ông ta chỉ là người thay thế cho tới khi Callie Spencer trúng cử và tuyên thệ. Lợi thế trong cuộc bầu cử đang hoàn toàn nghiêng về cô ấy.
Tháng Tám tiếp nối những ngày cuối cùng của tháng Bảy. Giờ khi Lark đã chết, Sutton Bell đưa vợ và con gái trở về nhà. Elizabeth cho anh ta xem bức ảnh của Matthew Kenneally từ thời sinh viên. Bell nói mình không nhận ra người đó. Có thể anh ta nói thật, nhưng tôi tin rằng trong bất cứ trường hợp nào, anh ta cũng sẽ trả lời như vậy. Sutton Bell muốn chôn vùi vụ cướp ngân hàng Great Lakes trong quá khứ.
Công tố viên của hạt không truy tố Matthew Kenneally, dựa trên suy nghĩ rất đúng đắn rằng sẽ chẳng có ban bồi thẩm nào kết tội y.
Tối thứ Năm, ngày mùng 6 tháng Tám, tôi nhìn vào tấm gương trong nhà tắm và nhận ra mình chưa cạo râu đã một tuần nay. Tôi gắn lưỡi dao cạo mới và bắt tay vào việc. Khi tôi chui vào giường vài phút sau đó, Elizabeth ngẩng lên khỏi đống giấy tờ đang bày la liệt và vuốt ve gò má tôi. “Tốt hơn rồi đấy,” cô nói.
“Em có thể tiết lộ mình đang làm gì không?” tôi hỏi.
Cô mỉm cười, cúi xuống mấy tờ giấy. “Em thích anh tự tìm hiểu cơ.”
Tôi nhặt bừa một trang giấy lên, cô liền đánh vào tay tôi một cái. “Em đã bày chúng theo thứ tự rồi.”
Những trang giấy là bản sao các tài liệu cũ từ cuộc điều tra vụ cướp ngân hàng Great Lakes. Rất nhiều tài liệu liên quan tới Floyd Lambeau. Tôi biết Elizabeth đang cố tìm mối liên hệ giữa Lambeau và Matthew Kenneally.
Tôi với lấy một trang khác. “McCaleb có biết em đang giữ mấy tài liệu này không?” tôi hỏi.
“Khỏi cần quan tâm ông ấy biết gì,” cô nói.
Owen McCaleb cho rằng việc cố liên hệ Matthew Kenneally với vụ cướp cách đây 17 năm tại khu vực ngoài tầm quản lý của mình thật vô ích. Ông đã thuyết phục Elizabeth ngừng điều tra, tuy thế ông không cấm đoán gì cả.
Vậy là cô tiếp tục sục sạo. Trang giấy tôi vừa cầm lên là những ghi chép tiểu sử của Kenneally. Y ra đời ở Steven’s Point, Wisconsin. Cha mẹ y là Richard J. Kenneally và Mary M. Lafleur. Elizabeth đã ghi lại ngày cưới của cha mẹ y và ngày sinh của con trai họ. Bên lề là ghi chú nguệch ngoạc: Đáng chú ý?
“Thế này nghĩa là gì?” tôi hỏi cô.
Cô liếc nhìn sang. “Nó có nghĩa là anh lười biếng quá.”
Tôi nhìn lại ngày tháng lần nữa và đoán ra mọi chuyện. “Kenneally sinh ra sau ngày cưới của cha mẹ có 7 tháng. Vậy cha mẹ y đã quan hệ trước hôn nhân.”
Elizabeth gật đầu. “Hoặc y bị đẻ non.”
“Điều này quan trọng lắm à?”
“Em chưa biết được thông tin nào mới là quan trọng.”
Kenneally lấy bằng đại học ở trường Johns Hopkins. Nhưng khi vụ cướp ngân hàng Great Lakes xảy ra, y đang học tại trường Đại học Wisconsin ở Madison.
“Floyd Lambeau từng dạy ở trường Đại học Wisconsin?” tôi hỏi.
Elizabeth đưa cho tôi một tập tài liệu, trong đó có danh sách những buổi diễn thuyết và lịch giảng dạy của Lambeau trong suốt 20 năm. Một trang có nhãn đánh dấu màu vàng.
“Lão đã tới đó 1 tuần để giảng về lịch sử người da đỏ,” cô nói.
Tôi mở tới trang được đánh dấu. Buổi thuyết giảng được tổ chức vài tháng trước vụ cướp. “Chính là y,” tôi nói. “Kenneally là tên tài xế.”
Cô nhìn tôi với vẻ tán thành. “Cách đây chưa lâu, anh còn đoán đó là Jay Casterbridge mà.”
“Cái đó chỉ là phỏng đoán. Còn đây là chứng cứ.”
“Vẫn chưa đủ đâu.”
Hôm thứ Sáu, khi tôi ngủ dậy thì đã là buổi trưa. Tôi xuống nhà và thấy cả Elizabeth lẫn Sarah đều đi vắng. Ánh sáng bên ngoài tràn vào nhà qua những bức mành cửa mở rộng.
Sau 45 phút, tôi đã tới tòa soạn Gray Streets. Hòm thư ở sảnh chật ních. Tôi lôi đám phong bì ra và khuân lên tầng sáu. Điện thoại reo lên khi tôi đang ngồi phân loại chúng.
Một giọng nói ở đầu dây bên kia, “Tôi ngày càng say mê tạp chí của anh hơn đấy, anh Loogan à.”
Đó là giọng phụ nữ. Mất một lúc, tôi mới nhận ra Amelia Copeland. Nghe như thể bà ta đang lái xe - tôi có thể nghe thấy tiếng gió thổi. Tôi tưởng tượng cảnh bà ta phóng đi trên chiếc xe mui trần giống như trong những bộ phim từ thập kỉ 40.
“Tôi đang xem nốt truyện ‘Máu Trên Ngọc Bích’,“ bà ta nói. “Đúng là một tác phẩm vô cùng lôi cuốn. Lời thoại thì tuyệt hảo.”
“Tuyệt hảo?” tôi hỏi lại.
“Đầy sức sống. Anh khó hiểu lắm đấy, anh Loogan à.”
“Tôi không định tỏ ra như thế.”
“Thường khi tôi đưa tiền, ai cũng cuống quít nhận lấy. Nhưng anh thì không.”
Giờ thì tôi đã nhớ: Lần trước, bà ta bảo tôi gọi cho mình để sắp xếp một buổi gặp mặt.
“Tôi xin lỗi,” tôi nói. “Đợt này tôi không tới văn phòng vì đang bình phục” - bình phục khỏi điều gì đây chứ? - ”khỏi sự thất vọng.”
“Sự thất vọng?”
“Và một vết thương do trúng đạn.”
Bà ta bật cười. “Đáng nể thật. Chúng ta có thể nói chuyện này trong bữa tối. Anh có rảnh không?”
“Hôm nay sao?”
“Lúc 5 giờ, ở quán Gratzi. Anh biết chỗ đó chứ?”
“Tôi biết.”
“Tuyệt quá. Hẹn gặp lại anh nhé.”
Tôi gác máy và nói “Tuyệt quá” trong văn phòng trống không. Tôi chậm chạp xoay ghế lại trong khi ngẫm nghĩ xem chuyện gì vừa mới xảy ra. Đáng ra món tiền của Amelia Copeland được dùng để mua lấy sự hợp tác của tôi. Lần trước, bà ta gọi là vì Alan Beckett muốn tôi thuyết phục Lucy từ bỏ loạt phóng sự về Callie Spencer. Nhưng chắc chắn lần này đó không phải điều anh ta mong muốn. Lucy đã ngừng cuộc điều tra rồi.
Chiếc ghế ngừng xoay. Có lẽ tôi đã suy nghĩ quá nhiều. Amelia Copeland chỉ đơn thuần là ưa thích tạp chí Gray Streets mà thôi. Trên đời này còn nhiều việc có bản chất cũng đúng như vẻ bề ngoài.
Tôi dành cả buổi chiều phân loại thư từ và chỉnh sửa bản thảo. Lúc 5 giờ, tôi đi bộ tới quán Gratzi và thấy Amelia Copeland đang chờ mình tại bàn trên gác lửng. Bà ta bận quần dài của đàn ông, một chiếc áo cánh cùng chuỗi ngọc trai. Bà ta đã gọi món orecchiette alla rustica[2], trong khi tôi gọi penne con pollo[3].
Cuộc nói chuyện của chúng tôi nhảy từ chủ đề này sang chủ đề khác. Amelia hỏi tôi kiến thức về các tác giả kinh điển: Arthur Conan Doyle, Dashiell Hammett, Dorothy Sayers. Sau đó, bà ta cho tôi xem ảnh mấy đứa cháu: Những đứa trẻ xinh xắn đang cưỡi ngựa, chơi hockey và bóng mềm. Bà ta muốn biết cảm giác bị bắn như thế nào và tôi kể về Anthony Lark. Bà ta mới chỉ nghe qua về hắn chứ chưa biết tường tận.
“Giờ tôi không theo dõi tin tức nữa,” bà ta nói. “Quá ảm đạm.”
Khi người bồi bàn tới dọn đĩa, bà ta gọi cà phê espresso và bánh tiramisu cho cả hai chúng tôi rồi bắt đầu nói vào chủ đề chính. Bà ta hỏi tôi tờ Gray Streets có quỹ nào đứng sau không.
“Tôi chưa từng biết tòa soạn cần có hậu thuẫn như thế,” tôi thú thật.
Chúng tôi bàn thêm về chủ đề này trong 30 phút, tôi được nghe về đủ các ưu đãi thuế dành cho quỹ phi lợi nhuận. Khi đứng dậy khỏi bàn, tôi đã biết tên một luật sư có thể giúp mình thành lập một tổ chức kiểu đó. Rồi quỹ của bà ta sẽ tài trợ cho tôi, sau đó thì cứ thế mà phát triển.
Vài đám mây cao tít trôi qua trên phố Main khi chúng tôi rời quán ăn. Bà ta nói mình đỗ xe ở ga ra gần đây. Chúng tôi vừa đi tới đó vừa nói chuyện phiếm. Trong thang máy của ga ra, rốt cuộc tôi mới có cơ hội hỏi bà ta điều mình băn khoăn bấy lâu. “Bà Copeland,” tôi mở lời.
“Cứ gọi tôi là Amelia,” bà nói.
“Amelia này, tôi băn khoăn không hiểu làm cách nào bà biết về tờ Gray Streets? Có ai yêu cầu bà liên lạc với tôi không?”
Mọi người thường tránh nhìn nhau khi đứng trong thang máy nhưng Amelia Copeland lại nhìn thẳng vào mắt tôi. “Nếu anh biết đủ nhiều để hỏi câu đó,” bà ta nói, “hẳn anh cũng mường tượng ra câu trả lời rồi.”
“Alan Beckett.”
“Dĩ nhiên là Alan Beckett. Tôi cũng đang băn khoăn về điều này. Anh đã làm phiền gì anh ta thế?”
Cửa thang máy mở và chúng tôi bước ra ngoài. “Tôi đã làm phiền gì anh ta à?” tôi hỏi.
“Chuyện gì đó đã khiến anh ta thay đổi hẳn thái độ về anh. Mới 2 tuần trước, anh ta còn khen anh hết lời, vậy mà giờ anh ta bảo rằng anh là kẻ chẳng biết điều chút nào.”
Tôi lờ mờ đoán ra lý do của sự thay đổi này, nhưng tôi giữ câu trả lời cho riêng mình.
“Hẳn anh ta có lý do riêng,” tôi đáp. “Nhưng nếu thế, tại sao bà lại gọi cho tôi hôm nay?”
Tôi thấy bà ta cau mặt. “Alan Beckett chỉ là một chú bé giúp việc cao cấp thôi,” bà nói. “Tôi không phải nghe lệnh anh ta.” Mặt bà ta sáng lên. “Hơn nữa, anh ta đã nhầm về anh.”
Chúng tôi đang bước lên con dốc giữa một hàng xe thì bà ta dừng lại và nói, “Đến nơi rồi.” Nhìn qua vai bà, tôi có thể thấy chiếc Mazda đỏ tươi có mui hạ xuống được, phiên bản hiện đại hơn của chiếc mui trần mà tôi tưởng tượng. Tôi đã vẽ ra trong đầu hình ảnh bà ta phóng đi trên chiếc xe này, gió lùa vào mái tóc bạc, dải khăn choàng phấp phới phía sau.
Bà ta mỉm cười rồi nói mình rất vui vì sau cùng hai chúng tôi cũng gặp được nhau, và tôi tán thành.
“Chúng ta sẽ giữ liên lạc chứ?” bà ta hỏi. Tôi bằng lòng.
Rồi với một cái gật đầu nhẹ, bà ta xoay người đi qua chiếc Mazda và ngồi vào chiếc xe đỗ bên cạnh nó.
Chiếc minivan màu xanh dương.
❀ ❀ ❀
[1] Chứng bệnh suy giảm chức năng thần kinh ở người cao tuổi.
[2] Món mì Ý hình vỏ sò.
[3] Món mì Ý hình ống.