Tôi đón Alan Beckett ở ngưỡng cửa, ông ta nhảy bật vào phòng với vẻ sôi nổi khác thường. Ông ta đã bỏ bộ com lê cổ lỗ thường mặc, thay vào đó là quần bò xanh, áo sơ mi kiểu Hawaii hoa hòe hoa sói cùng một chiếc áo khoác thể thao màu trắng và giày tennis. Khi bước ngang qua bàn lễ tân ở văn phòng phía ngoài, ông ta xoay một vòng với vẻ thanh thoát đáng kinh ngạc, mắt nhìn khắp căn phòng.
“Kỉ niệm ùa về,” ông ta nói. “Tôi từng có một văn phòng như thế này nhiều năm trước. Anh có đoán được hồi đó tôi làm gì không?”
“Tôi sẽ không đoán đâu.”
“Không à? Thôi cũng được. Hồi đó, tôi là ứng cử viên chính trị. Anh có thấy ngạc nhiên không?”
“Giờ chẳng có gì khiến tôi ngạc nhiên được cả.” Tôi chỉ tay vào văn phòng phía trong. “Sao chúng ta không ngồi xuống đã nhỉ?”
Tôi đứng bên ngưỡng cửa chờ ông ta đi vào. Ông ta cặp một cuốn sách dưới cánh tay và hờ hững đặt nó lên bàn lúc ngồi xuống ghế. Đó là một cuốn sách bìa cứng nhưng lớp áo ôm bên ngoài đã được tháo ra. Tôi không thấy tiêu đề của nó.
“Hồi đó, tôi ứng cử vào hội đồng thành phố,” ông ta kể. “Thành phố nào thì anh chẳng cần biết làm gì. Tôi đã tổ chức toàn bộ chiến dịch tranh cử của mình trong một văn phòng rất giống thế này.”
“Ông có thắng cử không?”
Ông ta mỉm cười vẻ cam chịu. “Ai cũng hỏi câu đó mà chẳng quan tâm tới mục tiêu của tôi là gì, hay những vấn đề nào tôi muốn giải quyết.” Ông ta nhún vai. “Không, tôi không trúng cử, anh Loogan à.”
Tôi ngồi xuống. “Hồi đó, ông muốn giải quyết những vấn đề gì?”
“Vấn đề duy nhất tôi muốn giải quyết là luật quy hoạch đô thị.” Ông ta nghiêng đầu sang một bên. “Nghe chẳng có gì to tát phải không? Nhưng để tôi nói cho mà nghe, nó sẽ tạo ra sự thay đổi lớn lắm đấy. Khi quy hoạch tốt, các doanh nghiệp sẽ bắt đầu đổ tới. Cùng với đó là những con người thông minh và có kĩ năng. Tiền thuế thu được cũng tăng lên. Ta dùng tiền đó trả cho lực lượng cảnh sát, cứu hỏa, xây dựng trường học, công viên - mọi thứ mà những con người tài giỏi này cần để nuôi sống gia đình. Nhưng nếu quy hoạch sai thì khác hẳn. Tất cả những người đó sẽ tới nơi khác mà sống hết.”
“Ông nghĩ tại sao mình không trúng cử?”
“Đối thủ của tôi là mẫu con người của gia đình. Hắn có mái tóc rậm. Hắn thường xuất hiện trong các quảng cáo trên TV với hình ảnh tay áo xắn cao, đứng giữa đám đông mà phát biểu đầy nhiệt huyết. Dĩ nhiên, chẳng ai nghe được hắn nói gì, người ta chỉ nghe thấy tiếng nhạc và giọng phát thanh viên thôi.”
Beckett thở phì một hơi rồi nói thêm, “Giờ hắn vẫn làm việc ở hội đồng thành phố. Trong khi đó, tôi đã làm cố vấn cho một thượng nghị sĩ và tôi hi vọng sẽ tiếp tục hợp tác với người kế nhiệm,” Ông ta hất hàm về phía chai Macallan đặt trên bàn. “Tôi thấy anh đã nhận được món quà của tôi.”
“Phải,” tôi dè dặt nói. “Nhưng tôi không rõ là nhân dịp gì.”
“Cứ coi như là quà hòa giải thôi. Ấn tượng ban đầu giữa hai chúng ta đúng là không tốt chút nào.”
Ông ta di di ngón tay cái lên cằm. “Đó là lỗi của tôi,” ông ta nói. “Tôi thấy mình có nghĩa vụ với ngài nghị sĩ. Vậy nên tôi phải cẩn thận xem xét những ai tiếp cận với ngài ấy và ý định của họ.”
“Tôi đã nói chuyện với ông ấy hai lần,” tôi nói. “Tôi thấy mến ông ấy. Còn thì tôi chẳng có ý đồ nào cả.”
“Ngài ấy cũng mến anh. Có lẽ đó chính là lý do khiến tôi không mấy thân thiện với anh. Tôi chẳng ngần ngại thú nhận điều này. Phải mất nhiều năm trời tôi mới có được sự tin tưởng của ngài ấy. Vậy mà vừa gặp anh, ngài ấy đã cảm mến ngay. Tôi thấy hơi ghen tị đấy.”
Ông ta nói với vẻ nhẹ nhàng, khiêm tốn. Điều này có tác dụng xua tan sự thù địch.
“Ngài nghị sĩ giờ sao rồi?” tôi hỏi han.
“Vẫn ổn. Chuyện anh chứng kiến tối hôm trước - chà, thỉnh thoảng ngài ấy cũng có đôi chút vấn đề.” Beckett xua tay gạt đi chủ đề này. “Tôi tới đây không phải vì ngài nghị sĩ.”
“Vậy lý do đó là gì?”
“Tôi mong rằng anh sẽ sẵn lòng giúp tôi việc này.”
Tôi mỉm cười. “Thật thế à?”
“Tôi cần anh nói chuyện với Lucy Navarro,” ông ta nói. “Thuyết phục cô ta rút lại tất cả mấy chuyện ngớ ngẩn về Terry Dawtrey và Henry Kormoran - cùng lời khẳng định lố bịch rằng Callie đã giúp Flovd Lambeau thăm dò ngân hàng Great Lakes.”
“Tại sao tôi phải làm thế?”
“Anh tin lời khẳng định đó là sự thật à?”
“Không.”
“Anh có cho là việc các chính trị gia bị bêu riếu một cách vô căn cứ trên báo chí đem lại ích lợi gì không?”
“Nếu những cáo buộc đó là vô căn cứ, thế thì vấn đề tự nó đã được giải quyết, đúng không nào? Như ông nói, điều đó thật lố bịch. Vậy ngay cả khi tờ National Current đăng chuyện này lên báo, những người biết suy nghĩ sẽ gạt bỏ nó ngay.”
“Theo tôi thấy,” Beckett nói, “thế giới này đầy rẫy những kẻ ngu ngốc. Nếu tờ Current đăng chuyện này, kiểu gì cũng sẽ có một bộ phận người dân tin vào nó.”
“Đó đúng là một vấn đề nghiêm trọng với ông. Nhưng tôi không nghĩ là ngăn cản Lucy sẽ giải quyết được gì.” Tôi cầm một chiếc bút chì trên mặt bàn chỉ vào ông ta. “Ông biết cô ta phỏng đoán những gì phải không? Cô ta cho rằng gia đình Spencer đã nhúng tay vào vụ sát hại Dawtrey và Kormoran. Nếu giờ ông cố mua lấy sự im lặng của cô ta, điều đó cũng chẳng khác gì thú nhận tội ác trong mắt cô ta.”
Môi Beckett mím lại với vẻ khó chịu. “Chúng ta đều biết Callie Spencer không liên quan gì tới cái chết của Terry Dawtrey và Henry Kormoran cả. Tôi cũng không hiểu anh đào đâu ra cái ý nghĩ tôi đang muốn mua chuộc Lucy Navarro.”
“Ông không đánh đổi thứ gì để cô ta từ bỏ cuộc điều tra hay sao?”
“Dĩ nhiên là không. Làm vậy rõ ràng là sai trái.”
“Và ông cũng không định mua chuộc tôi để thuyết phục cô ta từ bỏ sao?”
“Tôi chỉ đang nhờ anh giúp mà thôi.”
Tôi dựa mình vào ghế và dò xét ông ta. Hai gò má ông ta đỏ ửng như má trẻ con. Chiếc áo lòe loẹt khiến ông ta trông giống một chú hề, nhưng đôi mắt vẫn toát lên vẻ sắc sảo.
“Ông giỏi thật,” tôi nói. “Tôi không hiểu làm cách nào có người lại đánh bại nổi ông, bất kể tóc tai hắn rậm rạp đến thế nào.”
“Tôi thực sự không hiểu anh đang nói gì,” ông ta nói.
“Tôi mới nhận được một cuộc gọi từ Amelia Copeland hôm nay. Có đúng là ông không xúi giục bà ta làm thế?”
Ông ta mỉm cười. “Amelia là một phụ nữ dễ mến. Bà ấy là bạn thân của gia đình Spencer, Casterbridge và - tôi rất vui lòng khi nói điều này - của tôi nữa. Nhưng chẳng ai ‘xúi giục’ bà cả.”
“Vậy việc bà ta gọi điện tới đây, nói mình bị quyến rũ bởi tờ Gray Streets đến mức nào hay muốn ủng hộ tòa soạn, hoàn toàn chỉ là ngẫu nhiên?”
“Tôi không ngạc nhiên vì bà ấy gọi điện tới đây. Bà ấy là người rất hâm mộ dòng truyện trinh thám. Thư viện riêng ở nhà bà chất đầy sách của Agatha Christie[1] và Patricia Highsmith[2]. Bà ấy có thể giúp anh nhiều đấy. Quỹ của bà ấy có nhiều tiền hơn cả Chúa trời.”
“Bà ta muốn gặp tôi tuần sau. Nhưng không hiểu sao, tôi cứ có cảm giác kết quả buổi gặp mặt hôm đó phụ thuộc vào việc tôi có giúp ông thuyết phục Lucy Navarro từ bỏ hay không.”
“Tôi lại thấy anh quá đa nghi. Tôi đâu thể kiểm soát việc Amelia tài trợ tiền cho ai.”
“Ông không quan tâm đến chuyện đó, đúng không? Nếu vậy, tôi từ chối sự giúp đỡ của bà ta thì cũng chẳng sao, đúng không?”
Beckett bứt một sợi chỉ trên chiếc áo khoác thể thao. “Tôi chẳng quan tâm. Với tôi thì thế nào cũng được. Nhưng tôi cho là một người ở vị trí của anh sẽ rất sẵn lòng đón nhận sự hào phóng của Amelia.”
Tôi chụm các đầu ngón tay lại chống dưới cằm. “Vị trí của tôi là thế nào?”
“Anh đang hoạt động trong ngành xuất bản truyện ngắn, mà thời buổi này ít người đọc thể loại này lắm. Số lượng phát hành của anh năm nay so với năm ngoái thế nào?”
“Tôi cho là cao hơn một chút.”
“Tôi thì lại tin rằng con số này thấp hơn nhiều mới phải. Tòa soạn của anh vẫn hoạt động được tới giờ là nhờ Bridget Shellcross. Cô ta là một nhà văn, nếu tôi nhớ không nhầm, chuyên viết truyện về một người buôn đồ nghệ thuật đi phá án cùng với chú mèo của mình.”
“Ông nhầm rồi.”
“Thật à?”
“Là với chú chó chứ.”
“Chỉ là chi tiết vặt vãnh thôi mà. Hai người vẫn giữ mối quan hệ tốt với nhau chứ?”
“Cũng tạm ổn.”
“Anh nghĩ là cô ta sẽ tiếp tục rót tiền cho tòa soạn tới bao giờ?”
“Chúng tôi chưa bàn tới chuyện đó.”
Ông ta hạ giọng xuống một chút. “Anh bao nhiêu tuổi rồi, anh Loogan?”
“Câu hỏi hơi riêng tư, Al nhỉ?”
“Anh đã 39 tuổi. Mức thu nhập hàng năm của anh thấp tới mức không thể chấp nhận nổi.” Ông ta đọc ra một con số, y như một người bán hàng ở hội chợ ước lượng cân nặng của tôi vậy. Tuy thế, phỏng đoán của ông ta sát với con số thực tế đến nỗi khoảng chênh lệch chẳng còn ý nghĩa gì. “Trong khi đó,” ông ta nói, “anh vẫn sẵn sàng một mình gánh vác cả tòa báo.”
“Khi ông suy xét sự việc theo cách đó,” tôi đáp, “đúng là không thể chấp nhận nổi thật”. Tôi chỉ tay về phía ông. “Để tôi hỏi ông điều này. Lucy Navarro chẳng quản lý tòa báo nào đang cần tài trợ cả. Vậy ông đánh đổi gì cho cô ta thế?”
“Tôi chẳng đánh đổi gì cả,” ông ta nói. “Cũng như tôi chẳng đánh đổi gì với anh vậy.”
“Hiển nhiên, Amelia Copeland mới là người đưa ra đề nghị. Bà ta vẩy cây đũa thần và thế là quả bí ngô hóa thành xe ngựa, những con chuột hóa thành ngựa kéo.” Tôi nhìn thẳng vào ông ta. “Ông cho là mình có thể bưng bít vụ bê bối về Callie Spencer đến bao giờ?”
“Chẳng có vụ bê bối nào liên quan tới Callie Spencer cả,” Beckett nói.
“Cô ấy đang ứng cử vào Thượng viện, rồi đột nhiên những kẻ tham gia vụ cướp ngân hàng Great Lakes - kể cả tên đã bắn cha cô ấy - lần lượt mất mạng. Nếu đó không phải là một vụ bê bối, ít ra nó cũng gần đạt tới mức đó rồi.”
“Những chuyện này chẳng liên quan gì tới Callie cả.”
“Phải rồi, làm sao mà liên quan được cơ chứ?” tôi nói. “Callie là một con người mẫu mực. Người dân ngưỡng mộ cô ấy. Giới nhà báo cũng thế. Họ sẵn lòng không tọc mạch quá đáng. Nhưng vẫn còn một kẻ giết người ngoài kia. Hắn đang rình rập Sutton Bell. Hắn đã cố giết anh ta một lần mà không được. Nếu lần tới hắn đạt được mục đích thì sao? Liệu khi đó người ta có còn nói rằng, ‘Chà, chuyện này chẳng thể nào liên quan tới Callie Spencer được’?” Tôi chờ đợi phản ứng từ phía ông ta, nhưng Beckett vẫn rất bình thản. “Và còn kẻ cướp thứ năm, gã tài xế đó. Hắn đúng là một ẩn số, phải không? Tôi tự hỏi khi nào hắn sẽ xuất đầu lộ diện. Ông có cùng câu hỏi đó không?”
Ông ta tỏ vẻ băn khoăn. “Tên tài xế đó đã lẩn trốn được 17 năm,” Beckett nói. “Tại sao bây giờ hắn lại lộ diện chứ? Tôi thấy việc này chẳng hợp lý chút nào.”
“Tôi thì lại nghĩ ông đang lo lắng về hắn. Nếu không thì ông đã chẳng đột nhập vào văn phòng tôi.”
Vẻ băn khoăn biến mất trên khuôn mặt Beckett, nhưng chỉ một giây sau, nó trở lại rõ nét hơn. Vầng trán hồng hào của ông ta nhíu lại. “Là anh mời tôi tới đây đó chứ,” ông ta nói.
“Tôi đang nói về lần trước ông tới đây kia.”
“Trước ngày hôm nay, tôi chưa từng đến đây lần nào cả.”
“Ông đã đến đây cuối tuần trước,” tôi nói. “Ai đó đã khoét một lỗ hình vuông trên kính cửa ra vào.” Tôi ngừng lại một chút. “Tối hôm vừa rồi, ngài nghị sĩ đã nói với tôi hai điều. Ông ấy nói ông sinh ra ở Battle Creek và cha ông là một thợ thủ công. Tôi có tính đa nghi, vậy nên tôi đã tra cứu ‘Battle Creek’ trên Google cùng với họ của ông. Một trong những kết quả tìm kiếm là Beckett Glass[3]. Hóa ra cha ông là một thợ làm kính.”
“Đúng thế,” ông ta thừa nhận với một cái nhún vai, “và tôi hiểu lý do thông tin đó khiến anh nghi ngờ. Nhưng sao tôi lại phải đột nhập vào văn phòng anh?”
“Vì tò mò là bản tính tự nhiên của con người.”
“Gì cơ?”
“Đó là một câu nói của Aristotle. Ông đột nhập vào đây vì có một thứ ông muốn tìm hiểu. Chuyện này bắt đầu từ thứ Tư tuần trước.”
“Tôi không hiểu,” ông ta nói.
“Hôm thứ Tư, có kẻ định giết Sutton Bell,” tôi nói. “Nhưng trước khi ra tay, hắn đã để một tập bản thảo ngoài cửa văn phòng tôi. Đó là bản tường thuật những tội ác của chính hắn - đánh chết Charlie Dawtrey như thế nào, cố gắng bắn Terry Dawtrey ra sao, hay chuyện hắn đã siết cổ Henry Kormoran.”
“Đó có phải tập bản thảo mà thám tử Waishkey đã đem tới buổi tiệc tối Chủ nhật?”
“Chính là nó.”
“Nhưng tối Chủ nhật vừa rồi mới là lần đầu tiên tôi biết đến nó.”
“Tôi không nghĩ thế,” tôi nói. “Elizabeth đã gửi một bản sao cho Walter Delacorte ở Sault Sainte Marie hôm thứ Năm. Delacorte lại gửi nó cho Harlan Spencer, chỉ huy của ông ta từ 17 năm trước. Rồi Spencer kể lại cho Callie và Callie báo cho ông.”
“Anh đang giả định quá nhiều thứ đấy.”
“Thực ra, tôi chỉ giả định một điều duy nhất - là tất cả mọi người đã nói chuyện với nhau. Elizabeth muốn Delacorte coi trọng tập bản thảo, vậy nên cô ấy buộc phải nói cho ông ta biết xuất xứ của nó. Ông ta có thể truyền thông tin này tới người khác. Vậy là ông biết tập bản thảo đã được đặt trước cửa văn phòng tôi, nhưng lý do tại sao thì chưa rõ. Kẻ giết người hoàn toàn có thể gửi thẳng nó cho cảnh sát nếu muốn. Nếu muốn nổi tiếng, hắn chỉ việc gửi nó tới tòa soạn báo Tin tức Ann Arbor hay bất kể đài truyền hình nào ở Detroit.”
“Vậy anh cho là tôi đột nhập vào đây để tìm hiểu tại sao kẻ giết người gửi tập bản thảo đó tới tòa soạn Gray Streets?”
“Không hẳn thế. Tôi tin là ông đã biết câu trả lời trước khi đột nhập vào đây. Cũng không khó đoán lắm. Một điều gì đó đã thu hút hắn đến tòa soạn Gray Streets. Ta đã biết vụ cướp ngân hàng Great Lakes lúc nào cũng đeo đẳng trong tâm trí hắn. Đầu năm nay, tờ Gray Streets đã xuất bản một câu chuyện có chủ đề cướp ngân hàng - ‘Chỉ Là Giấy’ sáng tác bởi Peter Fletcher. Nó được phỏng theo vụ cướp ngân hàng Great Lakes. Câu chuyện viết dưới góc nhìn của tên tài xế, nói về cuộc trả thù những kẻ cướp còn lại của hắn. Chi tiết cụ thể thì không quan trọng lắm. Vấn đề là truyện được đăng trên website của tòa soạn, bất cứ ai chú ý lùng sục mối liên quan giữa tạp chí Gray Streets và vụ cướp ngân hàng Great Lakes cũng có thể tìm thấy nó. Giống như ông đã tìm thấy.”
“Đó là suy nghĩ của riêng anh thôi.”
“Theo suy nghĩ của riêng tôi, ông đã tìm ra mối liên quan này và cảm thấy tò mò về tác giả Peter Fletcher. Phần tiểu sử ghi rằng anh ta đến từ Hell, Michigan. Chắc hẳn ông đã khám phá ra mặc dù đúng là có một thị trấn tên là Hell ở Michigan, chẳng có Peter Fletcher nào ở đó cả. Cái tên đó chỉ là một bút danh. Vậy nên ông mới đột nhập vào đây - để biết tên thật của tác giả đó.”
“Vậy tại sao tôi lại quan tâm tới tay nhà văn đến mức ấy cơ chứ?”
“Tôi không chắc,” tôi nói. “Tôi đã nghĩ ra hai giả thiết, nhưng chắc ông sẽ thấy chúng thật khó tin. Một là ông nghĩ tên tài xế trong vụ cướp ngân hàng Great Lakes thực sự là tác giả câu chuyện đó. Ông muốn đảm bảo hắn không gây rắc rối và cản trở chiến dịch tranh cử vào Thượng viện của Callie Spencer.”
“Anh nói đúng,” Beckett nói. “Thật là một giả thiết kỳ quặc. Thế còn giả thiết còn lại thì sao?”
“Tôi không muốn tiết lộ cho lắm.”
“Coi nào.”
“Được rồi, nhưng ông phải trả lời tôi câu này đã. Ông bao nhiêu tuổi rồi?”
Tôi nhắc lại câu ông ta vừa hỏi tôi ban nãy. Nó khiến ông ta kinh ngạc. Nhưng rồi ông ta cũng trả lời.
“43.”
Tôi không thèm giấu giếm sự ngạc nhiên. “Thế mà từ trước tới giờ, tôi tưởng anh phải 50 tuổi cơ,” tôi nói. “Nhưng nếu anh mới 43 tuổi, cũng có khả năng là...”
“Khả năng là gì?”
“Anh chính là tên tài xế trong vụ cướp ngân hàng Great Lakes. Nếu thế, hồi đó anh đã 26 tuổi, lớn tuổi hơn Bell và những tên khác một chút, nhưng vẫn ở ngưỡng chấp nhận được.”
Beckett, giờ là “anh ta”, bật cười. “Anh khôi hài thật đấy, anh Loogan à.”
“Rất vui vì anh thấy vậy,” tôi nói. “Nếu anh là tên tài xế, truyện ngắn đó sẽ khiến anh khó chịu, có lẽ là do vài chi tiết quá gần với sự thật. Vậy nên anh lo lắng không biết bí mật của mình còn được an toàn không. Điều đó đã thúc đẩy anh đột nhập vào đây để tìm hiểu danh tính của tác giả câu chuyện.”
“Chuyện này thật khôi hài, như tôi đã nói ban nãy. Nhưng tôi không phải tên tài xế trong vụ cướp ngân hàng Great Lakes đâu.”
“Vậy 17 năm trước anh làm gì?”
“Thời điểm đó, tôi vừa mới thất bại trong chiến dịch tranh cử vào hội đồng thành phố.”
“Hẳn là anh thất vọng lắm.”
“Phải.”
“Vậy càng dễ để Floyd Lambeau dụ dỗ anh vào băng nhóm.”
“Tôi chưa từng gặp lão,” Beckett nói. “Mùa thu năm đó, tôi bắt đầu làm việc cho ngài nghị sĩ. Thế nên tôi chẳng có thời gian đi cướp ngân hàng nào cả.”
“Chỉ là phỏng đoán thôi mà,” tôi nói. “Điểm mấu chốt là, tuy không biết tại sao anh đột nhập vào đây cuối tuần trước, tôi dám chắc anh chưa tìm hiểu được gì về Peter Fletcher cả.”
“Chưa được sao?”
“Đúng thế. Chúng tôi còn không có hồ sơ nào về anh ta. Người đó không tồn tại trên đời.”
“Vậy ai đã viết câu chuyện mà theo anh thì tôi đang rất quan tâm?”
“Chính tôi đã viết. Nhưng tôi không bao giờ đăng nó trên tờ Gray Streets dưới tên thật của mình cả. Tôi là biên tập viên chính, làm vậy sẽ thật khó coi. Tôi luôn sử dụng bút danh Peter Fletcher.”
Beckett vuốt cái trán hói. “Thú vị thật đấy. Nhưng dĩ nhiên, tôi chưa từng quan tâm tới Peter Fletcher hay đột nhập vào văn phòng của anh.”
“Nếu anh vẫn khăng khăng là thế thì được thôi,” tôi nói. “Miễn là chúng ta thấu hiểu nhau. Tôi không muốn sau này nhận được tin một gã Peter Fletcher tội nghiệp nào đó bị sát hại giữa đêm khuya chỉ vì tôi đã viết một truyện ngắn dưới cái tên đó.”
“Anh có trí tưởng tượng phong phú thật, anh Loogan.”
“Đúng vậy. Còn về phần Lucy Navarro, tôi không biết tại sao anh lại khó chịu với cô ta đến thế, nhưng tôi phải thừa nhận mình cũng bắt đầu có cảm tình với cô ta. Có tiếp tục điều tra hay không là quyền của cô ta - tôi không có ý định khuyên cô ta phải làm thế nọ hay thế kia. Nhưng nếu có chuyện gì xảy ra với cô ta, tôi e rằng trí tưởng tượng của tôi sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát. Khi ấy, có thể tôi sẽ tưởng tượng ra cả một âm mưu phía sau với nghi can chính là anh.”
“Tôi cho là anh đã đọc quá nhiều truyện đấy, anh Loogan.”
“Tôi chỉ nói những gì mình nghĩ thôi. Anh đã nói gì về ngài nghị sĩ nhỉ - rằng anh cảm thấy có trách nhiệm với ông ấy? Tôi với Navarro cũng vậy. Anh nên biết rằng cô ta đang nằm dưới sự bảo vệ của tôi.”
Beckett chống tay lên đầu gối rồi đứng dậy khỏi ghế. “Thật là một tình cảm cao quý,” anh ta nói, “nhưng tôi có thể cam đoan với anh rằng cô Navarro chẳng gặp phải mối đe dọa nào từ tôi cả. Tôi rất muốn thuyết phục anh tin vào điều đó, nhưng tôi sẽ không làm mất thì giờ của anh thêm nữa.”
Anh ta gật đầu chào tạm biệt và xoay người bước đi. Tôi đứng dậy tiễn anh ta. Beckett mới đi được vài bước, tôi nhớ ra anh ta đã bỏ quên cuốn sách.
“Anh để quên đồ này,” tôi nói.
Anh ta đứng lại. “Không, tôi đem nó đến cho anh đấy. Cứ coi nó là lý lẽ cuối cùng tôi đưa ra để thuyết phục anh giúp đỡ mình.”
Tôi đi vòng ra ngoài bàn giấy và nhìn anh ta bước qua văn phòng phía ngoài. Sau khi cánh cửa dẫn ra hành lang đóng lại, tôi cầm lấy cuốn sách. Bìa của nó khô rát và hơi sần sùi. Tôi liếc nhìn nhan đề trên gáy sách - Giàn Hỏa Thiêu - và tên tác giả: E. L. Navarro.
❀ ❀ ❀
[1] Agatha Christie (1890 - 1976): Nữ nhà văn trinh thám nổi tiếng người Anh, được mệnh danh là “Nữ hoàng trinh thám”.
[2] Patricia Highsmith (1921 - 1995): Nữ nhà văn trinh thám - tâm lý nổi tiếng người Mỹ.
[3] Hãng đồ thủy tinh Beckett.