Đương nhiên là tôi đến phố Summit.
Khi tôi quay lại nhà 315, chiếc xe của Beckett vẫn chưa về. Tôi lái xe ngang qua đó rồi rẽ ở ngã tư, đỗ xe trên phố Fountain và đi bộ ngược trở lại ngôi nhà.
Tôi cúi người chạy dọc hàng rào rồi đi lên lối vào cho xe ô tô. Khẩu súng của Bridget nằm gọn trong túi sau.
Những hạt mưa nhỏ giọt từ máng nước trên mái hành lang sau nhà. Tôi bước tới mở cửa nhưng nó bị khóa. Bên cạnh đó còn mấy cửa sổ làm bằng bốn tấm kính ghép lại. Tôi kiếm được một viên đá trong sân, gói nó trong khăn tay để giảm tiếng ồn rồi đập vỡ tấm kính.
Với tay qua lỗ thủng, tôi mở khóa xích và chốt cửa bên trong. Cánh cửa sau mở ra một căn bếp có lẽ chẳng được sử dụng bao giờ. Tôi đoán Beckett đã ra ngoài ăn tối. Nếu anh ta đi ăn tiệm, có lẽ sẽ mất kha khá thời gian, còn nếu đi mua đồ ăn sẵn thì anh ta có thể trở lại đây bất cứ lúc nào.
Đi xuyên qua nhà bếp, tôi tới một căn phòng nhỏ đặt máy giặt, máy sấy và chạn bát đĩa. Sau chạn là một cánh cửa sơn trắng nhìn giống như cửa tủ, nhưng có lẽ đó là lối dẫn xuống tầng hầm. Tôi quyết định sẽ quay lại cánh cửa này sau.
Phòng khách choán hết mặt trước ngôi nhà. Trong phòng có một lò sưởi bị xây gạch bịt kín và mấy món đồ đạc màu be tẻ nhạt thường thấy trong các căn hộ cho thuê. Căn phòng khá gọn gàng, ngoại trừ mấy mảnh báo cắt trên nệm ghế và một chiếc cốc bỏ không đặt trên bàn.
Tôi chuyển sang một gian phòng chẳng có đồ đạc gì, có lẽ vốn được dành làm phòng ăn. Sàn lát gỗ mịn. Bên phải là cầu thang dẫn lên tầng hai.
Trên gác có ba phòng ngủ và một phòng tắm. Beckett để máy cạo râu cạnh bồn rửa và bàn chải đánh răng ngang miệng một cái cốc sứ.
Tôi tìm được thêm vài món đồ của anh ta trong phòng ngủ lớn nhất. Một chiếc áo choàng tắm vứt dưới chân giường. Một chiếc vali để trên ghế. Ba bộ com lê cổ lỗ sĩ treo trong tủ cùng với một mớ áo sơ mi. Hai phòng ngủ còn lại trống không. Không có dấu vết gì chứng tỏ có người từng bị giam giữ trong đó.
Tôi trở xuống tầng một và nhìn ra ngoài phố. Vẫn chưa thấy bóng dáng chiếc xe của Beckett. Tôi băng qua bếp tới phòng giặt và mở cánh cửa màu trắng. Bản lề rít lên như tiếng kèn kỵ binh vẳng lại từ xa. Một cầu thang gỗ dẫn xuống căn hầm tối om. Tôi ấn công tắc ở đầu cầu thang, một bóng đèn bật sáng bên dưới. Những bậc thang gỗ oằn lại kêu cọt kẹt dưới chân tôi.
Thứ đầu tiên tôi để ý thấy là cửa sổ tầng hầm bị bịt kín. Sàn nhà bằng xi măng đã nứt nẻ. Một túi cát để tập đấm bốc treo trên một sợi xích cột vào xà nhà.
Trên bức tường phía sau, nằm cách xa mặt đường nhất, có một cánh cửa.
Tôi không thấy lò đốt hoặc bình nước nóng. Có lẽ nó được đặt sau cánh cửa kia. Tôi không biết ở đó còn gì nữa không. Căn nhà có vẻ được xây rất vững chãi. Bức tường phía sau cũng làm bằng bê tông như phần móng. Cánh cửa bị khóa.
Tôi đấm cửa và gọi tên Lucy. Không có tiếng trả lời.
Chẳng có lý do nào để tin rằng cô ta đang bị giam sau cánh cửa đó. Ổ khóa trên cửa chẳng nói lên điều gì. Có lẽ nó đã được lắp nhiều năm trước bởi một cặp vợ chồng không muốn để tụi trẻ con lại gần lò đốt. Tôi nhìn quanh tìm chìa khóa. Với tay lên khung cửa, tôi chẳng thấy gì ngoài một lớp bụi dày.
Tôi lùi lại và lấy sức đạp thật mạnh vào cánh cửa. Đó là một ý tồi. Lực từ cú đạp như một cái đinh mới xuyên vào vết thương ở hông tôi.
Tôi xoay người lại và dựa vào tường, chờ cho cơn đau dịu bớt. Phá cửa rõ ràng là không ăn thua. Tôi vẫn còn khẩu súng, nhưng tôi không tin mình có thể bắn vỡ được ổ khóa. Tôi cần tìm chìa khóa ngay.
Đi lên cầu thang, tôi kiểm tra chạn để bát đĩa và tủ tường bên trên máy sấy. Trong bếp, tôi tìm được giá treo chìa khóa ngay cạnh cửa. Cả bốn cái móc đều trống không.
Trong khi đang bước qua đống kính vỡ trong phòng, tôi nhận được một cú điện thoại. Tôi đã tắt chuông, thế nên chỉ cảm thấy nó rung trong túi áo.
Tôi lờ nó đi và bắt đầu mở ngăn kéo tủ bếp. Ngăn đầu tiên trống không. Trong ngăn thứ hai có một cuốn sổ và rất nhiều bút. Tôi bới đống bút ra nhưng vẫn không thấy chìa khóa. Ngăn kéo thứ ba có một chiếc búa, một bộ tua vít và một cuộn băng dính màu bạc.
Điện thoại tôi đã ngừng rung, nhưng giờ nó lại rung lên lần nữa. Tôi rút nó khỏi túi và nhìn thấy tên Sarah hiện trên màn hình.
Bên ngoài, một chiếc xe tiến vào lối đi.
Tôi mở điện thoại ra. Cô bé không chờ tôi cất lời.
“Chú không nhấc máy à?” cô bé nói. “Cháu cố cảnh báo chú nãy giờ.”
Tôi bước tới bên cửa sổ nhìn ra lối đi và nghe tiếng động cơ tắt. Qua bức rèm mở hé, tôi thấy cửa chiếc Lexus của Beckett mở ra. Tôi rướn người lại gần hơn để nhìn dọc lối đi. Sarah xuất hiện, tay dắt xe đạp trên vỉa hè, điện thoại áp vào tai.
“Cháu đang làm gì vậy?” tôi hỏi khẽ.
“Giúp chú,” cô bé nói. “Cháu sẽ cố hết sức giữ chân ông ta.”
Cô bé gập điện thoại và tôi cũng vậy. Tôi nhìn Beckett bước ra khỏi xe. Anh ta vẫn còn cách vài mét, dưới lối đi thấp hơn bậu cửa sổ. Tôi có thể thấy cái trán hói và hai chỏm tóc vàng hoe hai bên.
Tay trái anh ta cầm chiếc túi in logo của một quán ăn Mexico tên là Tios. Anh ta nhìn thấy Sarah và quay lại phía cô bé. Khi ấy bản năng bảo tôi xông ra chắn giữa hai người.
Tôi ngoái lại nhìn ngăn kéo mình vừa mở. Cuộn băng dính. Tôi tưởng tượng Lucy Navarro đang bị giam sau cánh cửa dưới tầng hầm, nằm bất tỉnh trên sàn trong khi tay và chân bị trói. Một miếng băng dính dán trên miệng, miếng nữa che kín hai mắt.
Bên ngoài, Sarah bắt đầu ba hoa về chiếc xe đạp của mình. Tôi có thể nghe rõ tiếng cô bé, cửa sổ để ngỏ vài phân để không khí bên ngoài lọt vào phòng.
“... chạy qua một ổ gà sâu phải đến 30 phân. Cháu đoán dưới đó có đinh hay gì đó...”
Đây là cơ hội cuối cùng để tôi tìm chiếc chìa khóa. Tôi quay lại chỗ ngăn kéo - còn ba ngăn tôi chưa kiểm tra. Một ngăn trống không, một đựng một mớ dao dĩa bạc, ngăn còn lại đựng khăn ăn và giẻ bắc nồi.
“... may mà cháu chưa ngã nhào qua tay lái...”
Tôi lãng phí thời gian tìm kiếm dưới mấy chiếc khăn, sau đó lục cả đống dao dĩa nữa.
“... lốp trước xịt hẳn rồi. Cháu có thể vá nó nhưng không có bơm...”
Tôi bắt đầu lục trong tủ bếp. Mấy gói bánh quy mặn, một lon cà phê, đĩa ăn, mấy cái bát mẻ.
“...đó là chưa kể điện thoại của cháu cũng vô dụng. Hết pin rồi. Chú làm ơn cho cháu mượn điện thoại được không? Cháu phải gọi bố cháu đến đón...”
Mấy cái cốc sứ, đồ thủy tinh. Một ly uống rượu có in hình cỏ ba lá. Một chiếc chìa khóa đồng nằm trong ly.
Tôi cầm lấy nó và đi sang phòng giặt. Bên ngoài, Sarah đang tiếp tục cuộc nói chuyện tưởng tượng qua điện thoại với thư ký của cha mình. Người thư ký bảo cô bé giữ máy. “Giờ đã hơn 6 giờ, bố cháu đang phải họp,” cô bé nói với Beckett. “Bố cháu lúc nào cũng chỉ biết đến công việc. Cháu thề là kể cả bị trúng đạn đi nữa, hôm sau ông ấy vẫn đi làm như thường.”
Tôi lao xuống cầu thang tầng hầm, trượt trên sàn xi măng. Chìa khóa tra khít vào ổ nhưng không xoay được. Tôi giật nó một hồi, hơi kéo ra một chút mới mở được khóa. Tôi ấn vai vào cánh cửa rồi mở nó ra.
Trong buồng tối om. Lại một ô cửa sổ bị bịt kín nữa. Tôi có thể nhìn thấy hình dáng chiếc lò đốt lẫn bình nước nóng. Không còn gì nữa. Mất vài giây, tôi mới tìm được dây công tắc đèn trần. Bóng đèn 60 watt chiếu sáng căn phòng. Trên sàn nhà không có mảnh băng dính nào. Lucy chưa từng bị giam ở đó.
Tôi tắt phụt đèn và khóa cửa, vừa phóng lên cầu thang vừa lấy khăn mùi soa xóa sạch vân tay trên chìa khóa.
Bên ngoài, Sarah đang cảm ơn Beckett đã cho mình mượn điện thoại
Tôi thả chìa khóa vào chiếc ly và đóng tủ lại. Beckett mở cửa mời Sarah vào nhà trong lúc chờ cha mình tới đón.
“Dạ thôi ạ,” cô bé nói. “Bố cháu sẽ đón cháu ở ngã tư.”
Tôi giẫm lên đống kính vỡ khi chạy ra ngoài, dùng khăn mùi soa vặn tay nắm cửa từ bên trong và xóa dấu vân tay bên ngoài. Tôi để mặc cánh cửa mở hé.
Từ chỗ hành lang sau nhà, tôi có thể nghe thấy tiếng Beckett bước tới gần.
Tôi xoay người lại, lao hai bước tới lan can rồi nhảy vọt qua. Tôi tiếp đất an toàn, dù vậy cơn đau lại nhói lên ở hông. Tôi chạy dọc hông nhà, tới chỗ cánh cửa ở hàng rào. Trong một phút hoảng loạn, tôi lo rằng nó bị khóa.
Tôi mở then cửa và đi qua đó, ra tới vỉa hè rồi nhìn sang trái thấy Sarah đang chờ ở ngã tư, tay dắt xe đạp. Tôi có thể đi theo cô bé, nhưng như thế tôi phải băng qua lối đi trước nhà Beckett. Tốt hơn là đi đường vòng.
Vậy là tôi đi xuyên qua sân nhà hàng xóm ra phía sau căn nhà số 315 phía đầu bên kia hàng rào, ra tới phố Fountain. Sarah đã chờ sẵn cạnh ô tô của tôi.
Chúng tôi cất xe đạp vào cốp xe. Lần này, tôi ngồi sau bánh lái, đi tới phố Spring rồi ngoặt về phía nam. Tôi vẫn thở gấp, cơ thể đau đớn vì nãy giờ chạy nhảy quá nhiều. Đặc biệt là chỗ vết thương ở hông.
“Đúng là hành động dũng cảm, nhưng cũng thật dại dột,” tôi nói.
“Cháu đồng ý,” Sarah đáp.
“Thật à?”
“Cháu cho là ta đang nói tới việc chú đột nhập vào căn nhà đó.”
Tôi nhìn sang Sarah và thấy cô bé đang nhìn lại mình với nụ cười trên môi. Điều này gợi cho tôi nhớ tới mẹ cô bé.
“Chú đang nói cháu ấy,” tôi nói. “Cháu đã bám theo chú. Đáng lẽ cháu không nên làm thế. Lỡ anh ta nhìn kĩ hơn lốp xe của cháu thì sao.”
“Ông ta sẽ thấy nó bị xịt,” cô bé nói. “Cháu xì hết hơi ra rồi.”
“Cháu làm chuyện đó lúc nào thế?”
“Ngay khi cháu tới đây. Một số người thích lên kế hoạch trước khi hành động.”
Chúng tôi lái xe đi trong tiết trời xám xịt, vài giọt mưa rơi xuống từ những tán lá.
“Chú làm gì mà lâu thế?” cô bé hỏi.
Tôi kể cho cô bé về cánh cửa bị khóa dưới tầng hầm.
“Vậy Lucy không có ở đó,” cô bé nói. “Chú nghĩ cô ta đang ở đâu?”
“Chú không biết.”
“Nhưng chú vẫn nghĩ là ông ta bắt cóc Lucy - người đó tên là gì nhỉ?”
“Alan Beckett,” tôi đáp trong khi chậm rãi vòng vào con phố trước nhà Elizabeth. “Anh ta là cố vấn của Callie Spencer. Chú nghĩ kể cả nếu không phải Beckett tự tay bắt cóc Lucy, anh ta cũng là người chủ mưu. Hay ít nhất anh ta cũng biết tường tận vụ này.”
“Và ông ta đang giam giữ cô ta ở một nơi khác,” Sarah nói. “Hoặc một người khác đang làm việc đó.”
Giọng cô bé đều đều như thể đang nêu ra một sự việc quá hiển nhiên. Nhưng thực sự thì cô bé đang đặt ra một câu hỏi. Tôi cũng tự hỏi mình như thế. Nếu Beckett và gia đình Spencer muốn thủ tiêu Lucy Spencer, liệu có lý do gì để tin rằng cô ta vẫn còn sống không? Cô ta trở thành mối đe dọa đối với bọn họ vì những thông tin đã nghe được từ Terry Dawtrey và Henry Kormoran. Tuy thế, tôi phần nào hi vọng rằng họ vẫn để cho cô ta sống, ít nhất là trong một khoảng thời gian nhất định. Có lẽ họ cũng đang băn khoăn: Cô ta biết nhiều đến đâu? Cô ta có chứng cứ xác thực nào không?
Nhưng càng suy nghĩ tôi càng thấy lập luận này phi lý hơn. Nếu còn câu hỏi gì thì chắc hiện giờ họ đã có câu trả lời rồi. Tôi không có cơ sở gì để tin rằng họ vẫn để cô ta sống cả. Nhưng tôi mong rằng đó là sự thật. Tôi muốn tin rằng vẫn còn một cánh cửa ở đâu đó và cô ta đang chờ đợi sau cánh cửa ấy. Chờ đợi tôi tìm ra cô ta.