Lúc gần 5 giờ, Elizabeth biết tin về kế hoạch ám sát Sutton Bell bị bỏ dở giữa chừng của Lark. Cô nghe được những chi tiết từ Shan, người trước đó đã được Owen McCaleb tường thuật lại vụ việc qua điện thoại. Phản xạ đầu tiên của cô là quay trở lại Ann Arbor và Shan cũng đồng ý, nhưng McCaleb ra lệnh cho họ tiếp tục phỏng vấn nốt những người còn lại trong danh sách của Helen Lark.
“Tôi đã phái tất cả nhân lực ở đây đi truy lùng Lark rồi,” McCaleb nói. “Tôi muốn hai người tiếp tục tìm kiếm manh mối ở đó.”
Điểm dừng tiếp theo của họ là một ngôi nhà đôi cho hai hộ gia đình cùng ở, sân trước có hai cây tần bì chết khô. Đây là nơi Lark đã sinh sống trong khoảng thời gian sau khi rời nhà mẹ mình và trước khi thuê căn hộ ở Ann Arbor. Buổi sáng, Elizabeth và Shan đã đi ngang qua đây nhưng không có ai ở nhà. Giờ họ thấy một chiếc Firebird cũ nát đỗ trên lối đi.
Chủ nhân của chiếc xe Firebird là bạn học cùng trường với Lark. Glen Gough ra mở cửa trong bộ áo phông và quần nỉ, miệng ngậm điếu thuốc lá. Anh ta tỏ vẻ lấm lét khi Elizabeth giơ phù hiệu ra - như thể thuốc lá không phải thứ duy nhất anh ta từng hút. Anh ta chỉ thở phào nhẹ nhõm khi biết rằng họ tới để hỏi thăm về Lark.
“Những điều tôi nghe trên bản tin là thật phải không?” Gough hỏi trong khi dẫn hai người vào nhà. “Cậu ta là kẻ giết người hàng loạt à?”
Elizabeth giả bộ chưa nghe thấy câu hỏi. “Hồi ở trường, anh ta là người như thế nào?”
Gough ngồi phịch xuống chiếc ghế sofa rách bươm. “Thật tình mà nói, cậu ta lúc nào cũng có gì đó hơi lập dị, khép kín.”
“Vậy hai người không phải bạn bè?”
“Tôi không chắc cậu ta muốn kết bạn. Cậu ta không bao giờ nhập hội với tụi con trai. Trong một khoảng thời gian dài, tôi cứ tưởng cậu ta là bóng.”
“Thật không?”
Gough gật đầu, dùng tay phủi chỗ tàn thuốc lá rớt xuống nệm ghế bên cạnh mình. “Chắc là không phải, vì cậu ta chết mê chết mệt Susanna Marten mà. Hai người đã biết về cô ấy rồi phải không?”
“Phải,” Shan nói.
“Cậu ta từng lẽo đẽo theo cô ấy khắp nơi trong trường trung học, thậm chí còn đăng ký làm cuốn kỉ yếu chỉ vì cô ấy nằm trong nhóm chụp ảnh.”
“Vậy sau khi tốt nghiệp cấp ba thì sao?” Elizabeth hỏi. “Anh có hay gặp Lark không?”
“Chúng tôi làm một vài công việc tạm thời cùng chỗ với nhau. Rồi vào khoảng tháng Năm, cậu ta xích mích với mẹ - bà ta nổi đóa vì cậu con trai đã bán thuyền của cha. Tôi nói rằng cậu ta có thể ở đây cùng tôi. Đằng nào tôi cũng cần người chia sẻ tiền thuê nhà.”
“Khi anh ta sống ở đây thì thế nào?”
Gough thả mẩu thuốc lá đã cháy hết vào cái chén đặt trên bàn. “Thật tình mà nói, đó là một kẻ lười nhác.”
Elizabeth nhìn mấy món đồ đạc tồi tàn trong phòng và chiếc TV màn hình phẳng khổng lồ, sau đó ngoảnh lại nhìn mái tóc bù xù và tư thế ngồi ngả ngốn của Gough. “Thật thế à?”
“Phải, cậu ta chẳng đi đâu bao giờ, ngoại trừ đi làm.”
“Anh ta có bao giờ nhắc tới Susanna Marten không?”
Gough lắc đầu. “Tôi từng hỏi thử, vì tôi biết hai người vẫn rất thân thiết cho tới khi cô ấy chết. Nhưng cậu ta tỏ ra lãnh đạm, như thể tôi không được quyền nhắc đến cô ấy.”
“Còn Callie Spencer thì sao?” Elizabeth hỏi. “Anh ta có bao giờ nói tới cô ấy không?”
“Cô nàng đang tranh cử vào Thượng viện ấy à? Không. Nhưng hễ thấy cô nàng trên bản tin là cậu ta lại xem rất chăm chú. Những lúc lên cơn đau đầu, cậu ta lại mở hết kênh nọ tới kênh kia để tìm kiếm như thể nhìn thấy cô nàng là khỏi đau ấy.”
Shan nói xen vào. “Anh ta có thường xuyên bị đau đầu không?”
“Bị suốt ngày luôn.”
“Anh ta có uống thuốc gì không?”
“Đôi khi cậu ta bỏ đá vào khăn bông rồi chườm lên trán.”
“Nhưng anh không thấy anh ta uống thuốc gì bao giờ à?”
“Đương nhiên là có, nhưng tôi không biết là loại gì. Anh nên hỏi bác sĩ của Lark thì hơn.”
Chi tiết này khiến Elizabeth chú ý. “Anh ta có đi khám bác sĩ sao?”
“Một tay bác sĩ tâm lý thôi. Thỉnh thoảng, Anthony lại nhắc lại những lời tay đấy lảm nhảm - rằng chúng ta đều muốn được nhìn nhận đúng với bản chất của mình. Mấy thứ kiểu đó.”
“Mẹ của Anthony nói rằng mình đã cố thuyết phục anh ta tới gặp bác sĩ tâm lý,” Elizabeth nói, “nhưng anh ta chỉ đến đó có vài lần.”
Gough nhún vai. “Liệu cô có chịu đến gặp bác sĩ tâm lý do mẹ mình chỉ định không?”
“Tên vị bác sĩ đó là gì?”
“Tôi không nhớ rõ nữa. Có lẽ là bắt đầu bằng chữ K.”
“Chúng tôi cần nhiều hơn thế. Điều này rất quan trọng.”
“Tôi không nhớ được,” Gough nói. “Nhưng còn con thuyền thì sao?”
Elizabeth nghiêng đầu tò mò. “Nó thì có liên quan gì?”
“Anthony đã bán nó. Hẳn là có giấy tờ. Tay bác sĩ chính là người đã mua con thuyền.”
Con thuyền nằm trên một chiếc rơ moóc trên lối đi. Mặt trời hắt bóng những tán cây bu lô lên thân chiếc thuyền trong khi làn gió khiến bóng cây rung rinh. Anthony Lark vuốt dọc tay theo con thuyền khi đi ngang qua, hắn đã đỗ chiếc Chevy trong một con ngõ khuất.
Con đường lát đá vòng qua ga ra dẫn ra sau nhà bác sĩ Matthew Kenneally. Rêu mọc trong các kẽ đá. Con đường mở rộng ra tới một khoảnh sân trong. Bốn chiếc ghế kim loại đặt quanh chiếc bàn mặt kính. Một chiếc xe cút kít đựng các thứ đồ làm vườn. Một trái bóng bầu dục và giày trượt patin nằm trên bãi cỏ.
Ở đầu kia khoảnh sân, những bậc thang gỗ dẫn tới một chiếu nghỉ trên cao. Lark trèo lên cầu thang và nhìn bóng mình phản chiếu trên tấm kính cửa trượt. Cơn gió thổi bay chiếc áo vest của hắn làm lộ ra khẩu súng của Paul Rhiner đang giắt ở thắt lưng bên trái.
Hắn tiến tới chỗ cửa kính và đưa cả hai tay lên chắn ánh sáng để nhìn vào bên trong. Một căn phòng lớn có trần cao. Những chiếc gối đỏ đặt trên chiếc ghế sofa bọc da màu đen. Một bát hoa quả nằm trên mặt bàn lát đá. Không thấy động tĩnh gì. Có lẽ chẳng có ai ở nhà cả, Lark nghĩ thầm.
Hắn trèo xuống khỏi chiếu nghỉ và bước trở lại khoảnh sân lát đá đến chỗ một cánh cửa sơn trắng giản dị. Cửa khóa, nhưng nó không khít vào khung cửa. Hắn chỉ cần một cái xà beng là có thể cạy được cửa ngay. Chiếc kéo tỉa hàng rào lấy từ xe cút kít cũng được việc không kém.
Gần như không có tiếng động nào ngoài tiếng gỗ gãy vụn.
Căn phòng chứa đầy sách vở sau cánh cửa là phòng làm việc của bác sĩ Kenneally. Lark đã từng đến đây. Buổi điều trị đầu tiên của hắn diễn ra tại văn phòng bác sĩ gần khu phía bắc của trường đại học. Nhưng những buổi gặp gỡ sau đó là ở đây. Lark thường đi vào qua cánh cửa màu trắng, rồi hai người ngồi trên những chiếc ghế thấp đặt giữa phòng. Lark gác chân lên ghế đôn, trong khi vị bác sĩ đan các ngón tay lại đặt dưới cằm. Họ cùng trò chuyện về Susanna Marten.
Một lần, Lark ngồi chờ trong khi Kenneally đi sang phòng khác để gọi điện thoại. Lark lượn lờ trong phòng, nhìn lướt qua những cuốn sách trên giá. Hắn trở lại ghế và nhìn thấy một cuốn tạp chí đặt trên ghế đôn - một ấn bản của Time mở ra đúng trang in tiểu sử của Callie Spencer. Bài báo thuật lại chi tiết những thương tích của cha cô ấy trong vụ cướp ngân hàng Great Lakes và những gì cô ấy đã làm để giúp ông bình phục. Cột báo bên cạnh in hình Terry Dawtrey, Henry Kormoran và Sutton Bell.
Lark bị cuốn hút bởi bài báo tới mức không nhận ra Kenneally đã trở lại trong phòng từ lúc nào. Hắn đọc xong và ngẩng lên thấy vị bác sĩ ngồi đối diện với mình, đôi mắt hiền từ và nhẫn nại.
“Anh đang đọc gì thế?” Kenneally hỏi.
Lark giơ cuốn tạp chí lên thay cho câu trả lời. Hắn gõ ngón tay lên tấm ảnh Callie Spencer chụp cùng những người ủng hộ mình, miệng cười rạng rỡ. “Cô ấy làm tôi nhớ tới Susanna,” hắn đáp.
“Thật à?” Kenneally nói. “Sao anh lại thấy thế?”
Từ phòng làm việc của Kenneally, Lark bước vào một hành lang ngắn dẫn tới phòng khách mà hắn đã thoáng nhìn thấy qua tấm cửa kính. Hắn lấy một trái táo trong bát đặt trên bàn và ăn nó trong khi thơ thẩn trong nhà. Hành lang tầng hai treo rất nhiều ảnh đen trắng. Một tấm ảnh chụp Kenneally vòng tay ôm lấy vợ mình, một phụ nữ có mái tóc đen lượn sóng và khuôn mặt tròn trĩnh. Một bức khác chụp mấy đứa con - hai trai, một gái - cả ba đều có mái tóc lượn sóng giống hệt mẹ.
Trong tấm ảnh mới nhất, cậu con trai lớn khoảng 12 tuổi, đứa thứ hai 10 tuổi, còn bé gái có lẽ 7-8 tuổi. Lark đi dọc hành lang, liếc nhìn vào những căn phòng qua cánh cửa mở rộng. Bọn trẻ đều có phòng riêng: Quần áo vương vãi trên sàn, giường ngủ bừa bộn. Và một phòng ngủ sang trọng cho Kenneally và vợ. Ánh sáng chiếu vào từ cửa sổ hướng nam sẽ giúp họ tỉnh dậy lúc sáng sớm. Lark đứng bên cửa sổ, cắn miếng táo cuối cùng, mắt nhìn xuống sân. Hắn vứt lõi táo vào giỏ rác đặt trong phòng tắm.
Lark trở lại hành lang rồi đi xuống cầu thang, nhưng mới được nửa đường hắn lại quay lên. Có thứ gì đó rất quen trong một tấm ảnh mà ban nãy hắn chỉ mới lướt mắt qua chứ chưa nhìn kĩ. Hắn nhận ra nó ngay: Tấm ảnh chụp cậu con trai cả trong bộ đồng phục, một trái bóng đá kẹp dưới cánh tay. Cậu đang đứng trên lối đi, đằng xa đậu một chiếc minivan. Lark không biết màu sắc của nó qua tấm ảnh đen trắng này, nhưng nếu phải đoán, hắn sẽ nói ngay là màu xanh dương, hệt như chiếc minivan đã bắt cóc Lucy Navarro.
Không có chiếc minivan nào trong ga ra của Kenneally.
Đương nhiên là có đủ chỗ đỗ xe loại đó. Cái ga ra to tướng được chiếu sáng bằng đèn tuýp treo trên nóc. Nó có hai cửa, một cửa đôi và một cửa đơn, bên trong đủ chỗ đỗ cho ba chiếc xe. Bật đèn lên, Lark chỉ thấy có hai chiếc: Một xe Dodge bán tải và một xe BMW. Hắn từng nhìn thấy chiếc xe bán tải đó. Kenneally đã lái nó khi tới mua con thuyền của cha Lark.
Còn một chỗ trống cho chiếc xe minivan. Hẳn là gia đình Kenneally đang đi trên chiếc xe đó. Người ta thường dùng loại xe này trong những chuyến đi đầy đủ cả gia đình.
Lark tự hỏi liệu Lucy Navarro đã bao giờ ở đây chưa. Nếu Kenneally đã bắt cóc cô ta tối hôm đó ở bãi đỗ trước khách sạn Winston, ít có khả năng y đã đưa nạn nhân về nhà. Giết cô ta ở một nơi thật hẻo lánh rồi phi tang cái xác thì hợp lý hơn.
Nhưng cảnh sát vẫn chưa tìm thấy cái xác.
Lark đứng im trong ga ra, nghe tiếng ù ù phát ra từ dãy đèn tuýp trên trần, một loại tiếng động dễ chịu, đều đặn. Lẫn vào đó là một tiếng ù thứ hai, trầm và khàn hơn. Hắn nhìn quanh tìm xem tiếng động đó phát ra từ đâu. Một chiếc bàn để dụng cụ lắp dọc theo tường, những dãy tuốc nơ vít và cờ lê treo vào những cái móc trên tấm bảng.
Bên cạnh bàn là một thùng kim loại màu trắng, dài như cái quan tài nhưng sâu gấp đôi. Một chiếc tủ đông. Lark đặt tay lên nắp tủ và cảm nhận tiếng ù ù. Hắn chưa cần thử cũng biết mình không thể mở nó ra được nếu không có chìa khóa. Hắn đang dò tìm ở những chiếc móc dụng cụ thì nghe thấy tiếng rít, cửa ga ra cuốn lên sau lưng.
Elizabeth và Shan bỏ lại Glen Gough ngồi ngả ngốn trên ghế sofa lúc cuối giờ chiều. Họ đi về hướng tây trên đường 1-94, Elizabeth ngồi sau tay lái, Shan gọi điện thoại. Anthony Lark đã bán chiếc thuyền của cha mình cuối tháng Ba. Helen Lark nói với Shan rằng bà đã gặp người mua nhưng không nhớ nổi tên anh ta. Shan gọi điện cho sở cảnh sát yêu cầu kĩ thuật viên tìm kiếm phương tiện giao thông trong cơ sở dữ liệu. Kết quả là họ tìm được chiếc thuyền dài 7 mét trước đây đăng ký dưới tên Thomas Lark ở Dearborn. Hiện giờ, chiếc thuyền đó thuộc về Matthew Kenneally ở Ann Arbor.
Shan ghi lại địa chỉ của Kenneally và yêu cầu kĩ thuật viên tìm kiếm trên máy tính lần nữa. Họ biết được Matthew Kenneally là bác sĩ tâm lý được cấp phép.
Elizabeth nghe tiếng Shan gập điện thoại lại. Anh cất tiếng hỏi, “Cô có nghĩ rằng Kenneally đã xuống phòng Lark dưới tầng hầm không? Liệu anh ta có nhìn thấy những tấm ảnh của Susanna Marten trên tường?”
Cô đang tự hỏi mình chính câu đó. “Tôi cho là thế.”
Trong khi chiếc xe Crown Vic vẫn đang lao vụt đi trên đường cao tốc liên bang, cô mường tượng lại bức tường của Lark: Những bức hình Susanna Marten bên trái, bên phải là ảnh Callie Spencer.
“Cô có nhớ mẹ Lark nói gì với chúng ta không?” Shan nói.
Elizabeth vẫn còn nhớ. Từ bao giờ con trai bà lại quan tâm tới vụ cướp ngân hàng Great Lakes đến thế? cô đã hỏi Helen Lark. Từ hồi mùa xuân năm nay, bà trả lời. Tôi còn nhớ lúc đó mình rất giận vì nó dám bán chiếc thuyền của cha. Cùng khoảng thời gian đó, nó bắt đầu dán ảnh của Callie Spencer lên tường.
Gia đình Kenneally khá ồn ào. Hai đứa con trai nói liến thoắng về trận bóng chúng vừa chơi. Cô con gái thì bật ngay TV và mở kênh phim hoạt hình. Cô Kenneally trêu chồng mình đãng trí không tắt đèn ga ra, hỏi xem y muốn ăn gì và y có thể giúp mình nấu nướng không.
Lark nghe tiếng họ sau cánh cửa phòng làm việc của bác sĩ Kenneally. Vừa nghe thấy tiếng cửa ga ra là hắn lao ngay vào trong nhà. Giờ hắn nghe thấy tiếng chân bước thình thình lên cầu thang - có lẽ là hai cậu bé. Cứ chờ vài phút nữa, rồi hắn sẽ trở lại ga ra. Có lẽ chiếc chìa khóa đang nằm ở đó, nếu không hắn sẽ kiếm cách khác để mở chiếc tủ đông.
Hoặc là hắn có thể quên hẳn cái tủ đông đó đi. Bởi thực ra hắn tới đây là vì bác sĩ Kenneally cơ mà? Chẳng phải ngẫu nhiên mà hắn giắt khẩu súng của Paul Rhiner ở thắt lưng. Tay bác sĩ đang ở trong bếp với vợ. Lark có thể đi thẳng tới đó. Không có trở ngại gì cả.
Lark chợt nhận ra mình lùi lại khỏi cửa. Hắn đã cầm sẵn khẩu súng của Rhiner trong tay, mặc dù không thể nhớ nổi mình đã rút súng ra khi nào. Những thông điệp trái chiều, hắn nghĩ. Cùng một lúc mình vừa muốn làm việc này vừa muốn trốn chạy khỏi nó.
Hắn ngồi trên chiếc ghế thấp và giắt lại súng vào thắt lưng, kéo áo che bên ngoài. Hắn có đủ thời gian chờ đợi và suy nghĩ cho thông suốt.
Hắn đã cầm cuốn sổ và chiếc bút máy của cha trên tay khi cánh cửa bật mở.
Matthew Kenneally trạc 35 tuổi, có chiều cao và vóc người tầm thước. Mái tóc sẫm màu bắt đầu thưa dần ở hai bên thái dương. Y đeo cặp kính gọng bạc.
Bước chân của y chỉ ngừng lại một thoáng khi nhìn thấy Lark, nhưng y bình tĩnh lại ngay và bước vào phòng, ném mấy lá thư lên chiếc bàn đặt gần cửa.
Không có gì ghê gớm cả, Lark nghĩ. Có lẽ ở trường họ đã dạy chiêu này cho các bác sĩ tâm lý: Không bao giờ phản ứng. Đối với Lark, khuôn mặt của Kenneally lúc nào cũng hệt như mặt nạ. Cặp lông mày của y là hai đường thẳng băng, như thể không biết biểu lộ sự ngạc nhiên bao giờ.
“Anh đã ở đây bao lâu rồi?” Kenneally hỏi.
“Chưa lâu lắm,” Lark đáp.
“Tôi biết mình không quên tắt đèn ga ra. Anh vào đây bằng cách nào?”
Lark đánh mắt về phía cánh cửa trắng mở ra sân. “Tôi phải phá cửa mà vào,” hắn nói.
Kenneally nhíu mày, phản ứng đầu tiên mà y thể hiện. “Như vậy không lịch thiệp chút nào.”
“Đó không phải điều tồi tệ nhất tôi từng làm đâu.”
“Đột nhập vào nhà người khác là phá hoại sự tin tưởng. Chúng ta đã từng nói đến tầm quan trọng của việc tin cậy lẫn nhau rồi mà, Anthony.” Kenneally cởi cặp kính và xoa xoa sống mũi. “Thôi, hãy gác việc đó lại,” y nói. “Anh tới đây là tốt rồi. Tôi đã rất lo cho anh. Anh cần được giúp đỡ.”
“Hôm nay, anh là người thứ hai nói với tôi câu đó đấy.”
“Ai là người đầu tiên?”
“Một người thực sự muốn giúp tôi.”
Kenneally lại nhíu mày và đeo kính. Một giọng nói vang lên từ hành lang, “Anh đi đâu rồi hả Matt? Anh đang nói chuyện với ai trong đó à?” Đó là giọng một phụ nữ, vợ của Kenneally.
Vị bác sĩ bước ra hành lang. “Anh đang nói chuyện với bệnh nhân, cưng à.”
“Bây giờ sao? Em không biết là anh có hẹn.”
“Anh xin lỗi. Lúc trước anh quên mất. Sẽ không lâu lắm đâu.”
Cô ta nói với chồng rằng mình sẽ ăn tối trước. Kenneally trở vào phòng và đóng cửa. Y ngồi xuống đối diện Lark, bắt chéo hai chân. Y chỉ bứt xơ vải trên chiếc quần âu mà không nói năng gì cả. Đó là một trong những mánh lới của y: Không nói gì hết.
Lark phá tan sự im lặng. “Giờ tôi kiểm soát được chứng đau đầu rồi.”
“Thật à?” Kenneally nói. “Tốt lắm.”
“Anh thực sự nghĩ thế à?”
Kenneally đan các ngón tay vào nhau. “Anh có biết mình đang làm gì không, Anthony? Anh vừa ngụ ý rằng tôi không thực sự muốn giúp anh. Giờ anh lại tiếp tục ám chỉ tôi thầm mong anh bị chứng đau đầu hành hạ. Sao tôi lại muốn thế cơ chứ?”
“Chính tôi cũng đang băn khoăn về chuyện đó,” Lark nói, luồn chiếc bút vào túi áo com lê. “Để tôi cho anh xem cái này.”
Không chờ câu trả lời, hắn giơ cuốn sổ ra, mở tới đúng trang mình đã viết tên Terry Dawtrey, Sutton Bell và Henry Kormoran. Giờ hắn đã thêm vào một cái tên nữa.
Kenneally với lấy cuốn sổ. “Cái gì đây?”
“Những tên đã cướp ngân hàng Great Lakes.”
Vị bác sĩ xem xét trang giấy. “Anh đã viết tên tôi vào.”
“Nó phải nằm trong danh sách đó, đúng không nào?” Lark nói, ngả người trên ghế. “Anh có thấy những cái tên đó chuyển động, hít thở phập phồng trên mặt giấy không?”
“Chúng ta từng nói tới chuyện này rồi mà, Anthony.”
“Anh có thấy chúng có màu đỏ như thế nào không?”
Kenneally ngán ngẩm lắc đầu. “Anh mắc chứng rối loạn giác quan, Anthony ạ. Những con chữ không thực sự có màu đỏ hay di chuyển gì cả.”
“Anh có thấy tên mình đặc biệt nhất không? Những cái tên khác đều màu đỏ, nhưng của anh thì đen kịt. Nó vỡ ra thành hàng triệu mảnh nhỏ, bò lúc nhúc lên nhau.”
Kenneally thở dài. “Và anh nghĩ điều đó có ý nghĩa gì?”
“Như vậy nghĩa là anh còn xấu xa hơn cả ba tên kia,” Lark nói. “Anh có thấy không?”
“Chẳng có gì để thấy cả, Anthony. Ở đây chẳng có gì ngoài mấy cái tên anh viết trên một trang giấy. Những thứ còn lại đều do anh tự tưởng tượng ra thôi.”
“Thật à? Chìa khóa cái tủ đông trong ga ra ở đâu thế?”
Dường như câu hỏi này khiến Kenneally chựng lại. Y gấp cuốn sổ lại và gõ lên cằm.
“Tại sao?” y hỏi.
“Tôi muốn xem trong đó có gì.”
“Anh nghĩ trong đó có gì?”
“Xác người,” Lark nói. “Lucy Navarro.”
Hắn nhìn cặp lông mày thẳng tuột của Kenneally nhíu lại.
“Người phóng viên bị mất tích? Tại sao xác cô ta lại nằm trong tủ đông của tôi chứ?”
“Đêm hôm đó, tôi cũng có mặt ở đấy,” Lark nói. “Tôi đã chứng kiến tất cả. Cô ta bị bắt đi bởi một kẻ lái chiếc minivan màu xanh dương, giống hệt chiếc xe của anh.”
Kenneally rướn người ra trước. “Chúng ta có thể ra đó ngay bây giờ, Anthony à. Tôi sẽ cho anh thấy. Chẳng có xác người nào trong tủ lạnh cả. Sau khi đã nhìn tận mắt, liệu anh có chịu thừa nhận mình đã suy nghĩ lung tung và cần được chữa trị không?”
Giọng y nhỏ dần tới khi chỉ vừa đủ nghe. Y có vẻ thành thật. Chỉ một chút nữa thôi là Lark đã tin lời y.
Chỉ một chút nữa. “Có thể anh đã đem chôn cái xác.”
“Anh chẳng vừa nói nó nằm trong tủ lạnh là gì? Thế tóm lại là ở chỗ nào?”
“Tôi chỉ bảo rằng mình muốn xem. Anh đang cố ý bẻ cong lời tôi nói.”
Vẫn với tông giọng nhỏ nhẹ, Kenneally hỏi, “Vậy nếu giờ chúng ta ra ga ra và tôi chỉ cho anh thấy chiếc minivan của tôi không phải màu xanh dương thì sao? Nó màu xám mà.”
Lark thoáng do dự, nhưng hắn nhún vai xua tan ý nghĩ đó. “Có thể anh đã cho sơn lại.”
“Tôi không có thời gian đùa bỡn đâu, Anthony,” vị bác sĩ nói, chậm rãi đứng dậy. “Tôi không thể giúp nếu anh không chịu nghe tôi giải thích.”
Ở đầu kia căn phòng, một cơn gió mở tung cánh cửa màu trắng.
Lark đứng lên và rút khẩu súng giấu dưới áo ra. “Tôi không cần anh giúp.”
Hắn giật cuốn sổ trong tay Kenneally và đút nó lại vào túi.
Kenneally dang hai tay. “Anh muốn giết tôi? Anh đã giết bao nhiêu người rồi, Anthony? Làm như vậy thì ích lợi gì?”
Khẩu súng bỗng nặng trịch trong tay Lark. “Anh muốn chúng phải chết.”
“Anh có nghe thấy mình đang nói gì không? Anh không thể trốn tránh trách nhiệm được. Dám làm dám chịu.”
Lark lùi lại một bước và giương súng lên. “Tôi thấy mệt mỏi vì phải nghe lời anh lắm rồi.”
Hắn chạm tay lên cò súng, nhưng nó cứng và nặng như chì, tưởng như các bộ phận kim loại đã dính chặt vào nhau.
Đâu đó trong nhà, tiếng chuông cửa vang lên.
Kenneally xoè tay ra. “Thấy chưa? Anh đâu có muốn giết tôi.”
“Có đấy,” Lark nói, dùng ngón cái bật chốt an toàn.
Elizabeth vẫn nhớ chuyện đã xảy ra thế này. Ánh nắng ấm áp sau gáy cô. Shan cầm phù hiệu đứng ngay bên cạnh. Anh với tay định bấm chuông lần thứ hai, nhưng cửa đã bật mở vào bên trong trước khi anh kịp chạm vào nút bấm.
Có mùi đồ ăn. Bánh hamburger đang kêu xèo xèo trong chảo. Một người phụ nữ với mái tóc nâu lượn sóng đang chùi tay vào tấm giẻ. Shan giới thiệu hai người rồi hỏi đây có phải nhà của Matthew Kenneally không.
“Matt đang tiếp bệnh nhân,” người phụ nữ đáp.
Có tiếng súng nổ. Người ta có thể lầm tưởng đó là tiếng dầu sôi trong chảo. Người phụ nữ bối rối ngoái lại nhìn qua vai. Rồi cô ta chạy đi trong khi Elizabeth kêu cô ta hãy chờ đã. Cô ta không dừng lại. Elizabeth rút khẩu súng 9 li ra. Shan thì đã cầm sẵn vũ khí trong tay, anh đang theo sát gót người phụ nữ kia.
Trên TV mở phim hoạt hình về mấy chú chim cánh cụt. Một cô bé đứng dậy khỏi ghế sofa. Elizabeth ra lệnh cho cô bé nằm xuống sàn. Người phụ nữ tóc lượn sóng vẫn chạy trong hành lang, lao vai vào cánh cửa đóng kín. Shan cùng cô ta huých cánh cửa bật mở. Tiếng thét của cô ta không thua gì tiếng súng thứ hai.
Elizabeth dừng lại trong hành lang, nhìn một lượt hiện trường. Hai chiếc ghế đặt giữa phòng, một ghế có người ngồi, máu đầm đìa trên ngực áo, cặp kính bị bẻ cong.
Shan đứng một bên anh ta, trong khi người phụ nữ có mái tóc lượn sóng đứng bên kia. Cô ta với lấy bàn tay của chồng, ngón trỏ bị bẻ cong một góc kinh khủng. Shan xé áo sơ mi người đó ra. Lồng ngực và bụng nhợt nhạt. Không thấy vết thương nào.
“Hắn định bắn tôi,” Kenneally thều thào nói.
Bước ngang qua phòng, Elizabeth thấy một khẩu súng nằm trên sàn. Cô thấy cánh cửa trắng khép hờ. Trên tay nắm cửa vẫn còn dấu máu.
“Tôi đã bắn hắn,” Kenneally nói.
Mình đang để lại dấu vết, Lark nghĩ.
Hắn chạy vòng qua con thuyền của cha, giơ một tay ra bám để giữ thăng bằng. Dưới bóng râm của tán cây, vẫn có thể thấy rõ dấu tay vấy máu in lên mạn thuyền màu trắng.
Máu cũng nhỏ giọt trên lối đi. Tuy không dừng lại nhìn, hắn biết chúng nằm đó - những vòng tròn nhỏ xíu trên mặt đất.
Thật kỳ lạ là hắn cảm thấy mình tràn trề sức sống, không khí choán đầy hai lá phổi, tim đập liên hồi. Chân hắn bước đều trên vỉa hè. Trên người hắn không đau đớn chỗ nào cả.
Kenneally đã khiến hắn ngạc nhiên khi túm lấy khẩu súng - hành động quyết đoán nhất mà hắn từng nhìn thấy ở gã bác sĩ. Anh đâu có muốn giết tôi. Trong khi hai người vật lộn, Lark tự hỏi rằng đó có phải sự thật hay không.
Cũng có thể. Trong một khoảnh khắc, sau khi súng nổ, Lark buộc phải lựa chọn. Kenneally đánh rơi khẩu súng và nhìn vào ngón tay bị bẻ cong của mình - bằng cách nào đó, nó đã mắc vào vành sắt ở cò súng và bị bẻ gãy. Y ngã xuống ghế. Lark vẫn đứng vững, đáng ra hắn có thể nhặt khẩu súng lên. Nhưng hắn lại bỏ chạy. Có lẽ hắn muốn sống sót nhiều hơn là giết Matthew Kenneally.
Lark loạng choạng một chút khi rẽ ngoặt ở góc phố. Hắn thấy chiếc Chevy đỗ dưới bóng cây bên kia đường. Còn cách gần 20 mét. Hắn có thể chạy được 20 mét mà.
Hắn vấp ngã từ trên vỉa hè xuống đường rồi lảo đảo đứng lên. Tiếng chân vang lên sau lưng hắn. Giờ chỉ còn gần 15 mét. Phía trước, một cô gái dắt con chó collie[1] băng qua đường. Còn chưa đầy 10 mét. Lark rút chìa khóa ra tay. Khoảng 5 mét nữa. Cô gái đã nhìn thấy hắn và túm chặt dây buộc ở cổ con chó. Phía sau, một giọng nói rành mạch gọi tên hắn, yêu cầu hắn dừng lại.
Chỉ cần ấn nút là cửa chiếc Chevy bật mở. Vặn chìa khóa, động cơ rền vang. Con chó sủa hùa theo tiếng động. Lark lao xe ra đường. Qua gương chiếu hậu, hắn có thể thấy cô cảnh sát đang giương súng lên. Mũi súng hạ xuống một chút, dấu hiệu của sự do dự. Cô ta không muốn bắn phải cô gái kia hay cặp đôi đang vòng xe lên phía bắc ở làn đối diện. Lark thấy bóng cô ta nhỏ dần trong gương, khẩu súng lại giương lên, ngắm thẳng, rồi cuối cùng hạ xuống bên hông.
❀ ❀ ❀
[1] Giống chó chăn cừu có nguồn gốc Scotland.