Dù đó chỉ là một cái xe ngựa cũ nhưng anh vẫn sơn cho nó màu đỏ và vàng xen kẽ, gọn gàng, như vậy con bé sẽ có một thứ xinh đẹp để đi đến trường mỗi ngày. Anh sơn chữ cái đầu tên cô bé bằng kiểu chữ mạ vàng lạ mắt ở phía bên sườn xe và họ vẫn thường đùa giỡn “Xe của cô đang chờ đây, thưa quý cô”. Điều này có nghĩa là phải bỏ bớt vài học sinh, nhưng anh vẫn đánh xe đưa cô bé đi học ở trường Holy Angels mỗi buổi sáng và chờ sẵn vào mỗi buổi chiều khi những cánh cửa lớn mở ra và cô bé chạy nhanh xuống các bậc thang để gặp anh. Vào những buổi chiều thứ sáu họ sẽ la cà ở Sydney, đi dạo xuống những cầu tàu để ngắm nhìn những con tàu ở cảng.
“Một ngày nào đó con sẽ lên một trong những chiếc tàu này và ra đi, con yêu à.”
Cô bé muốn anh đi cùng, dĩ nhiên là vậy, nhưng anh không thể bảo hộ cô. “Con sẽ phải hát cho mọi người trên khắp thế giới, ta không thể lúc nào cũng ở bên cạnh con được, nhưng ta sẽ luôn là cha của con.”
Vào lúc đó cô bé sẽ khóc và anh sẽ đưa cô đi mua kem tại tiệm Crown Bakery, đôi mi cô bé vẫn còn ướt nhưng cặp mắt đã lại mỉm cười, cô không bao giờ buồn quá lâu. Họ đi đến bất kì đâu mọi người cũng nhìn chằm chằm vì cô quá xinh đẹp và hai người họ cứ y như những người bạn tốt nhất của nhau.
James biết rằng một ngày nào đó anh sẽ phải giao cô bé cho các chuyên gia, đưa cô bé đi thật xa, nhưng bây giờ… có Chúa. James đã dành trọn cả đời mình để bảo vệ món quà của Chúa, nhờ vậy mà anh chịu đựng được việc dạy dỗ con cái của những người tư sản nhỏ nhen cách phá hoại một bản “Fur Elise”. Mình sẽ làm mọi thứ, anh thề với Chúa và tự nói với chính mình. Mình sẽ cắt bỏ đi một cánh tay, mình sẽ bán răng, mình sẽ đi vào hầm mỏ, mình sẽ để cho vợ đi tìm một công việc.
“Được thôi”, Materia nói.
Anh đã tự chuẩn bị tâm lý cho mình rằng cô có thể tìm được việc lau dọn hoặc nấu ăn ở nhà ai đó hoặc ở một khách sạn, anh bảo cô sử dụng tên thời con gái của mình. “Nếu người ta nghĩ em đã có gia đình, người ta sẽ trả em ít hơn”, anh giải thích. Không nên để người ta biết được rằng mẹ của Kathleen Piper lại là một người hầu gái.
Hãy thử tưởng tượng anh ngạc nhiên như thế nào khi thấy sau đó vài ngày, Materia mặc một cái váy đẹp và rời khỏi nhà, mái tóc được chải bới cẩn thận, che dưới mũ.
“Em đi đâu vậy?”
“Làm việc.”
Ở đại lộ Plummer - con phố chính của thị trấn, bên trong nhà hát Empire Theatre, màn hình xanh đang sáng lung linh, bên dưới chỗ dàn nhạc, cây đàn piano cũng đang tỏa sáng tương tự. Những nốt rung, những quãng ba cứ như là đang hòa một cách tự nhiên với điệu nhảy điên cuồng của ánh sáng và bóng tối phía trên.
Khán giả nghiêng chầm chậm về phía sau khi đầu tàu xuất hiện ở phía chân trời, đầu tiên là những tiếng kêu leng keng hướng về phía họ, rồi tiếng chim hót - vào một ngày khác ở đất nước này - và sau đó là dấu hiệu đầu tiên của cái chết khi con tàu lù lù hiện ra ngày càng to hơn; một màn chuyển cảnh từ cái lớn đến cái nhỏ, xình xịch xình xịch, nó đã đến, ầm ầm lăn bánh, tiếng còi tàu rít lên, kết thúc bằng tiếng “hú hú” và lao qua những cảnh vật tuyệt đẹp trong giai điệu điên cuồng, phóng đi trên đường ray đến khi tất cả sụp đổ trong sự hoảng loạn, giấy tờ, chim chóc bay tán loạn đi khắp nơi và con ngựa sắt lao ngay trên đầu rồi vượt qua chúng ta.
Khán giả nín thở chờ xem cảnh kinh hoàng tiếp theo, tất cả những gì bạn có thể có được với một đồng năm xu. Materia cũng không thể tin nổi là cô lại được trả tiền cho việc này.
Cảnh tiếp theo còn đáng sợ hơn. Một người đàn ông trong bộ đồ ngủ săn đuổi một người phụ nữ mặc bộ đồ ngủ quyến rũ ở lưng chừng một ngọn tháp đồng hồ. Không cần phải có lời thuyết minh, mọi thứ đều rõ ràng, những cái bóng lẩn trốn, ngọn tháp nghiêng ngả, âm nhạc trườn theo các bậc thang, kẻ côn đồ rượt đuổi theo tà áo lụa duyên dáng trong đoạn nhạc sáu tám đến nơi mà nữ anh hùng của chúng ta đang bám vào một giai điệu nữ tính, bập bềnh trên nốt Rê cao và nhìn xuống những con đường của các quãng tám phía dưới. Tên khốn vật lộn với cô gái trẻ trong một điệu van rùng rợn, từ Strauss chuyển sang Faust, cho đến khi cô gái có vẻ lảo đảo, lao vào nốt trầm khóa và chết, mắc kẹt trên lưới của khuôn nhạc thấp hơn, khung cảnh được đệm bởi một điệu tenor mạnh dần và phần còn lại của ngày chìm trong các bản hòa âm.
Trước đó rất lâu, Materia đã chơi cho các buổi họp mặt khiêu vũ của địa phương và các gánh hát rong.
Tháng 12 năm 1909, James cho Kathleen học nội trú tại trường vì trẻ em ở thị trấn bùng nổ giờ đang chết dần chết mòn. Sốt phát ban, bạch hầu, dịch tả, thương hàn, đậu mùa, lao. Bỏ lại sau lưng những chiếc quan tài trắng bé bỏng. Sự bùng phát bệnh thực sự còn hơn cả mức bất thường nhưng vấn đề ở chỗ, đây là bệnh dịch do cuộc biểu tình của những người thợ mỏ gây ra. Hàng loạt các ngôi nhà của thợ mỏ bị bỏ trống, những người thuê nhà nổi dậy đình công, họ bị đuổi khỏi các ngôi nhà, bỏ chúng hoang tàn, giật sập nhà xí và các giàn giáo, tín dụng ở cửa hiệu của công ty bị cắt giảm. Lực lượng bảo vệ của Pinkerton và cảnh sát đặc biệt của công ty đi từ nhà này đến nhà khác cho tới khi đồ nội thất nằm ngoài đường còn nhiều hơn là trong nhà. Thậm chí những người thợ mỏ đã mua được nhà riêng cũng bị đuổi đi, công ty than đã đặt một nỗi sợ của Chúa vào công ty trả góp. Các gia đình ngồi xổm trong các khu lều rách nát trên đồng, không có nước sạch, thức ăn ít ỏi, chỗ ở hiếm hoi trong những cơn gió mùa đông của biển Đại Tây Dương. Nhọt đỏ bắt đầu nổi lên dưới cằm của các em bé, rồi chúng sẽ chết ngộp vì mủ hoặc là sẽ chết dần mòn đi vì ho.
Không gì có thể thuyết phục những người thợ mỏ quay trở lại với công việc, thậm chí cả những khẩu súng máy của Hoàng gia Canada trang bị trên bậc thang nhà thờ Đức bà Mary phía bên kia con suối Cadegan hay mặc dù cha Charlie MacDonald đã tuyên bố rằng tạm thời ông sẽ vắng mặt, nhà thờ Thiên Chúa giáo vẫn giữ sự kiên nhẫn như mọi khi nhằm kết thúc sự đau khổ không cần thiết của cuộc đình công, giám mục gởi một đặc phái viên đến thị trấn để đuổi hết người trong các tu viện, trường học, nhà mục sư và nhà thờ của các gia đình thợ mỏ, nơi mà Cha xứ của xứ đạo - cha Jim Frazer - đang sống. Sau đó giám mục đã đưa cha Frazer rời khỏi đảo.
James đã hành động nhanh chóng, không đủ tiền cho Kathleen vào học nội trú tại trường Holy Angels nhưng tiền thì có thể kiếm được. Cô bé không thể ở lại trong cái thị trấn này để rồi lây bệnh từ những đứa trẻ con nhà thợ mỏ và chết, hoặc là bị què, bị sẹo trên mặt, xin Chúa, không thể như vậy được. Chính họ những tên khốn cứng đầu, gây ra những chuyện đó, và đó là lí do mình phải gửi con gái mình vào ngôi trường mà thực sự mình không lo liệu nổi, ai sẽ giúp mình làm việc đó bây giờ? Hội đồng giáo viên piano? Hội những người chỉnh đàn piano toàn thế giới? Chúa Giêsu trên thập tự giá? Không, mình phải tự lo lấy.
“Con cưng, con sẽ ở tạm trong trường một thời gian nhé?” Cô bé không muốn vậy.
“Không, ta không có ở đó, và phải một thời gian sau ta mới đến thăm con được”. Anh sẽ thực hiện việc cách ly nghiêm ngặt. “Sẽ vui lắm, rồi con xem, con sẽ có nhiều bạn nữa”.
Cô bé khóc. Anh nói, giọng bỗng trở nên nghiêm khắc “Giulietta Pasta bị tật, nhưng khi được hỏi làm sao cô có thể hát hay như vậy, cư xử lịch thiệp như vậy hằng đêm mà không hề thể hiện chút đau đớn nào, cô ấy nói sao?”
“Đau lắm.”
Anh vỗ nhẹ lên đầu cô bé, “Phải vậy chứ!”
Phải nhiều tháng nữa anh mới gặp lại cô bé, anh tự nghĩ, đó sẽ là một thời gian huấn luyện tốt cho cả hai.
Anh chuyển cái vận rủi mà cuộc đình công mang lại thành những mục đích riêng của mình. Một buổi sáng mùa đông, trước khi bình minh lên, anh vác theo ba cái cuốc chim mới và sáng bóng, một cái xẻng mới toanh không sứt mẻ và một cuộn dây thừng. Anh đổ đầy mỡ cá voi vào cái đèn kiểu ấm trà, gắn nó lên cái nón chóp nhọn, móc hộp đựng bữa trưa vào thắt lưng và đi cùng ba người bảo vệ nhà Perkinton đến cổng mỏ số 12, nơi mà Tommies mặc bộ áo ka ki đứng canh mỏ than với những cái lưỡi lê trên tay.
Những người lính dắt anh vào cũng không thân thiện hơn những cái bao tay sắt của những người thợ mỏ đang biểu tình bên ngoài, dù những người lính này không nhổ nước bọt hay nổi giận và gọi anh là “đồ phá hoại”, hoặc kết tội anh vì đã giết chết con cái của họ. Nhưng họ cũng không hứa là họ sẽ không ném anh cho lũ heo.
Anh đi vào cửa hầm, theo ánh sáng chập choạng của ánh đèn trước trán và cái bóng của những người phía trước, theo dốc xuống hầm dọc theo đường ray, với tay lên để nắm lấy những cuộn dây thép. Mùi ngột ngạt như mùi của ngựa, gỗ ẩm và đất, băng qua những cánh cửa sập có vẻ như tự động bật lên một cách bí ẩn cho đến khi nghe thấy giọng con nít cất lên “Này anh bạn, mấy giờ rồi?”, Quẹo trái, quẹo phải, lại phải, rồi lại trái, đi xuống, đi xuống, xuyên qua một mê cung các ngả đường vắng dẫn vào một căn phòng tối tăm. Anh nghe thấy tiếng chim hót líu lo.
Mỏ số 12 cực kì ẩm ướt và hôi hám nhưng James không biết phải so nó với cái gì. Anh xúc than vào xe trong một căn phòng nước nhỏ giọt và anh cũng không biết mình đang ở bên dưới đáy biển. May sao anh làm việc chung với một người đàn ông có rất nhiều kinh nghiệm, công việc của ông là đục các vách tường, khoan lỗ và lắp đặt thuốc nổ mà không làm nổ tung cả cái hầm mỏ. James không thể xác định được giọng nói của người đàn ông và cũng không biết ông là người da đen, đến từ Barbados, anh chỉ biết là Albert chưa bao giờ có sai sót ảnh hưởng đến mạng sống của họ. Barbados, Ý, Bỉ, Tây Âu, Quebec…Công ty than Dominion đã vươn xa và rộng khắp để dẹp bỏ cuộc đình công. Có rất ít giọng Anh trong bóng tối và hầu hết đó đều là các giọng nặng. James uống trà lạnh và nhai thuốc lá để cản bụi, và lúc đầu thì anh còn giấu giếm, nhưng sau đó cũng đã chia sẻ những cái bánh mì kẹp thịt của mình. Cái xe chỉ chở được khoảng một tấn, khi nó đầy, anh và Albert sẽ đẩy nó từ trong lò than lên lối đi chính và đẩy mạnh để nó được chuyển đi. Sau khi kết thúc mười tiếng thì họ đến một nơi còn tối tăm hơn.
Những người đàn ông nước ngoài được hộ tống đến khu trại công nhân có đóng cọc xung quanh ở gần đó, được gọi là Sân 14, để hát hò, ngủ hoặc cờ bạc trong khi Trung đoàn Hoàng gia Canada đứng gác. James đi bộ về nhà với những thằng khốn nhà Pinkerton, len lỏi giữa những hàng người bẩn thỉu sẵn sàng chặt tay chặt chân của mình chỉ mong có được một nửa cơ hội - cho là họ nhìn thấy thì James cũng không cần bào chữa, anh không chết đói và anh không phải người nước ngoài - và băng ngang qua những người phụ nữ đang đứng trước cổng nhà và ném cho anh cái nhìn đáng sợ cùng những lời lẩm bẩm “Mong Chúa tha tội cho mày”. Một người sau khi nói lời cầu nguyện cho anh đã ném một cây chặn cửa bằng sắt vào anh, nó sượt ngang qua, chỉ cách anh có một sợi tóc.
James đã làm được những gì mà anh từng làm được khi dạy piano. Trong vài tuần đầu anh đã lặng lẽ khóc mỗi lúc bắt đầu một ca làm việc cho tới khi cơ thể anh hòa vào công việc. Mỗi đêm ở nhà, sau khi anh đã trắng trẻo trở lại, anh quỳ gối, tay khoanh lại và cầu xin sự tha thứ của mẹ mình vì đã đi làm cái công việc dưới lòng đất đó.