“Em ốm đi một chút rồi, điều đó tốt đấy”, James nói với Materia trong bữa ăn tối.
Cô nhún vai.
“Em đang mơ gì giữa ban ngày vậy?”, anh diễn đạt một cách dài dòng, cô lúc nào cũng nhìn trân trối vào một cái gì đó và cũng có thể là không gì cả.
“Houdini”, cô nói.
“Ai?”
“Houdini.”
Anh chẳng buồn theo đuổi câu chuyện nữa, chỉ là một câu hỏi ngu ngốc. Từ lâu anh đã chẳng còn tha thiết gì với việc nói chuyện với cô và giờ anh chỉ thầm cảm ơn Chúa vì sự ngu ngốc và đen đúa đã không bị truyền sang con gái anh, và vì vợ anh đã học nấu ăn. “Cái gì đây?”
“Kibbeh nayeh.”
“Đây là một món Do Thái sao?”
“Li Băng.”
Benny đã lén dạy cho cô các công thức nấu ăn.
Ai cũng có thể nấu kibbeh nayeh, ai cũng có thể làm bất cứ thứ gì nếu theo đúng hướng dẫn, nhưng để làm cho đúng thì cần phải có một chút năng khiếu. Một số người nói nó nằm ở chiều dài ngón tay của người đầu bếp, một số khác lại nói nó nằm ở mùi hương, độc nhất như dấu vân tay của mỗi người. Đó rõ ràng là một tài năng.
Kibbeh là một món ăn truyền thống của vùng Siri và Lebanon, nó phải được nấu từ loại thịt ngon nhất, do đó nhà Mahmoud chỉ mua từ cửa hiệu thịt ăn kiêng của nhà Luvovitz. Trong khi bà Luvovitz và mấy cậu con trai trông coi cửa tiệm, Benny đi giao hàng ở Sydney và lần nào điểm đến cuối cùng cũng là nhà Mahmoud trên đồi. Ở đó có một người phụ nữ tròn trịa da đen, vóc dáng nhỏ nhắn, mái tóc điểm bạc sẽ mở cửa cho ông. Benny không nói được tiếng Xen-tơ còn tiếng Anh của bà Mahmoud thì vẫn chưa trôi chảy, nhưng họ vẫn cố gắng nói chuyện với nhau. Benny vẫn thường giả vờ xem như sự quan tâm của bà Mahmoud đối với gia đình Piper hoàn toàn là một sự tình cờ.
“Dĩ nhiên là tôi biết nhà Piper chứ, cô Piper là một quý cô tốt bụng, người Li Băng luôn như vậy, tôi nghĩ là bà biết cô ấy chứ - không à? - À đúng rồi, họ có một cô con gái dễ thương lắm, Kathleen đấy, đang học ở trường Holy Angels, cô bé hát hay như một chú chim vậy.”
Sáng hôm đó khi Benny hỏi xin bà Mahmoud công thức nấu món kibbeh “cho vợ tôi”, bà không hể nhướn lông mày mà ngay lập tức đi đến bên tủ búp phê và chỉ ra các nguyên liệu. Benny ghi lại tất cả trong một tờ giấy gói hàng màu nâu trong lúc bà Mahmoud làm những điệu bộ để mô tả cách nấu, kể cả việc đóng một cái dấu chữ thập lên miếng thịt đã hoàn tất. Benny cười lớn và lắc đầu, sau đó ông thay nó bằng cách vẽ một ngôi sao David.
Bà Mahmoud nhún vai và nói “Ông thích gì cũng được”, và cho ông thử hương vị tuyệt vời của món kibbeh tưởng tượng mà bà mới làm.
“Ngon lắm”, ông nói.
Đêm hôm đó, bà Mahmoud nhìn chồng mình ăn và nghĩ tới cô con gái lưu lạc của mình, có lẽ lúc này nó cũng đang dọn chính món này cho chồng của nó. Chồng nó có biết trân trọng không? Chồng nó có còn thương yêu nó không?
Ở cách đó chín dặm, James găm một nĩa đầy thịt và cho vào miệng.
“Ngon lắm!”
“Ăn với bánh mì ấy!”
Anh làm theo Materia, rắc một ít dầu lên miếng thịt đã ướp hương vị và lúa mì mềm, xé một miếng bánh mì và cuộn tất cả lại cho vào miệng.
“Em học nấu món này ở đâu vậy?”
“Đó là thịt sống, không có nấu.” Anh ngừng lại.
“Thịt kiêng hả?”
Cô gật đầu, anh tiếp tục ăn. Materia cảm thấy đau nhói một cái, cô nghĩ “Chúng ta thật hạnh phúc khi không có con bé.”
Cô nhẹ nhàng chạm vào phía sau cổ anh.
“Em làm gì vậy?”, anh nói.
“Không có gì”, sau đó cô quay trở lại chỗ bồn rửa.
Cho tới giờ thì những diễn viên kịch vẫn da trắng và trong các buổi diễn của họ cũng có những đứa bé da đen trong lốt hóa trang, nhưng bây giờ nhờ có cuộc di cư của người da màu đến các vùng khai thác than ở Sydney nên các nghệ sĩ da màu thực thụ đã bắt đầu từ các vùng Liên bang đến đây. Materia không thể hiểu nổi tại sao họ lại cứ biểu diễn với những cái mặt nạ đen tô vẽ cái miệng khổng lồ, nhưng cô biết là cô thích như vậy. Cô đã có được một bộ sưu tập lớn nhạc ractim, nhạc 2 bước, nhạc cho điệu nhảy thảy bánh, nhạc trong đám rước, nhạc trữ tình, những bài hát ru ở đồn điền và nhạc phúc âm.
Cô phải chơi cho quán của nhóm nhảy Tap Blackville khi người chơi đàn của họ bị bắt ở vịnh Glace. Họ là một bộ ba anh em trực thuộc sự quản lý của chính mẹ họ. Người lớn tuổi nhất còn đặt tên cho hai chân của anh ta, anh ta gọi chân trái là Alpha và chân phải là Omega.
Những đôi giày đế gõ, những đôi chân sáng loáng đi lại ồn ào náo nhiệt, bay nhảy và lượn lờ khắp thế giới và chưa bao giờ bỏ sót một sân khấu trung tâm như Nhà hát Empire. Materia chỉ nhìn vào đôi chân của họ và để bàn tay mình dạo lên các bản nhạc Rigoletto hòa với “Coal Black Rose”, bản “Una Voce Poco Fa” bập bênh với “Jimmy Crack Corn”, tất cả hòa trộn vào nhau trong sự sáng tác ngẫu hứng của cô - về phần những bộ phim, sự trao đổi hai chiều chỉ dành cho các vũ công. Họ săn đuổi, nói chuyện, tâng bốc và xoay vòng - những người thợ da đen, ngà ngà hay màu kền cố tóm lấy cho tới khi không còn không còn giai điệu nào nữa, chỉ còn lại nhịp điệu và điệu bộ.
Materia trở thành người hơi nổi tiếng, đặc biệt là đối với các chàng trai nông thôn.
“Này Materia, khỏe không, cô gái?”
“Đối với cậu thì đó là bà Piper đấy, anh bạn”, James đáp trả.
Vào một ngày chủ nhật trong tháng ba, họ ra ngoài để làm vệ sinh tường nhà, anh quay sang Materia khi một tên đồ tể đi ngang qua. “Làm sao em quen hắn?”
“Buổi diễn.”
Nhóm nhảy Tap Twizzlers mời cô tham gia lưu diễn với họ với tự cách là người hợp tác lâu dài. Họ sẽ đi đến châu Âu, Materia từ chối. Cô đã khóc suốt đoạn đường về nhà khi nghĩ đến cảnh cô và James sẽ vui vẻ như thế nào lúc cùng nhau ngắm nhìn thế giới trong một chuyến lưu diễn. Nhưng cô biết tốt nhất là không nên hỏi anh.
Những người nghệ sĩ da màu sau đó không còn đến nữa bởi vì có tin đồn lan truyền rằng những người mới đến vùng mỏ than Sydney đến từ vùng Tây Ấn và họ không mấy thích thú đối với những trò giải trí của những người Mỹ da màu. Nhưng Materia vẫn còn những người nghệ sĩ, các buổi chiếu phim, và cô cảm thấy vui miễn là cô được chơi đàn. Dưới khu vực của dàn nhạc, cô tự giải khuây bằng cách thỉnh thoảng trang điểm một chút. Từ giờ trở đi đầu máy xe lửa sẽ lao vào khán giả trong bản “Anh thật lòng yêu em”, cán qua họ trong bản “Bản sonat ánh trăng”. Những kẻ côn đồ tấn công các cô gái trong bản “Khúc nhạc cưới” và giọng nam cao sẽ giúp ngày trôi qua trong bản “Chú gà trong đống rơm”. Các diễn viên than phiền nhưng khán giả vẫn nhìn say sưa vào các chú thỏ chui ra từ trong cái mũ chóp cao hay từ những tấm ván gập ghềnh , những người phụ nữ thì đong đưa theo bản “Chúa của anh đến gần bên em”. Materia luôn mỉm cười khi cô chơi đàn nhưng giờ cô bắt đầu cười khúc khích thành tiếng mặc dù cô không nhận ra điều đó. Điều này làm khán giả yêu mến cô hơn, họ thích cô một phần là do sự điên rồ đó.
Những ngày này James đi suốt đoạn đường dài đến Sydney để mua lương thực. Ngoại trừ Benny và MacIsaac, anh không làm phiền bất kì nhà nào có kinh doanh tại thị trấn. Tại sao lại phải vào đó để bị họ sỉ nhục trong khi anh trả một số tiền lớn? Cả thị trấn đang khổ sở do hậu quả của cuộc đình công, không chỉ riêng những người thợ mỏ, do đó mọi người đều ghét một kẻ phá hoại. Anh không bao giờ đi bộ, anh đánh chiếc xe của mình để không cho mọi người cái cơ hội thỏa mãn khi vội vàng băng qua đường vì nhìn thấy anh. “Và tất cả là vì mình có trách nhiệm chăm sóc gia đình”. Điều bực bội là vào một dịp tình cờ nào đó Materia đi chung với anh, thì anh lại nghe thấy hết lần này đến lần khác “Chào Materia, việc biểu diễn sao rồi cưng?”. Những người không dành tí thời gian nào cho anh lại sẵn sàng ngừng lại nói chuyện với cô vợ dốt nát của anh về sự nghiệp đánh đàn của cô. Những người này tự nhiên lại sùng bái một thể loại nhạc bình dân, và tại sao họ lại ra ngoài xài số tiền mà lẽ ra họ không có đủ để mua một cái vé vào cổng ở nhà hát Empire? Bây giờ thì đã có quá nhiều người Ailen ở trong thị trấn so với những gì mà James thích. Mỗi căn nhà là một quán rượu, người Công giáo nghiện rượu đầy rẫy. Nếu họ làm việc chăm chỉ hơn và bớt lãng phí đi thì giờ họ sẽ không gặp rắc rối như vậy. James nghĩ đến câu chuyện châu chấu và kiến của Aesop và tự làm một cái ghi chú trong đầu để nhắc mình nhớ gửi kèm câu chuyện cho Kathleen trong bức thư tiếp theo.
Chọn một gói bột ở cửa hàng MacIsaac, James lại phải chịu đựng “Cậu có một người vợ rất tài năng đấy cậu Piper.”
James trả tiền, ông MacIsaac tiếp tục “Thế còn cô gái nhỏ thì sao rồi?”
“Nó vẫn ổn.”
“Ừ, nó có tài lắm đấy, con bé đấy!”
James gật đầu, ông MacIsaac lại mỉm cười và nói thêm “Chắc chắn là giống mẹ nó rồi.”
James quay lưng và rời khỏi cửa tiệm, anh sẽ không bao giờ đưa Kathleen đến đó lần nữa, anh quyết định sẽ không tin những người đàn ông bị hói. Anh không thích cái cách ông ta nhìn bọn trẻ với đôi mắt màu xanh nước biển và khuôn mặt đỏ to bè. Nếu MacIsaac thích trẻ con như vậy tại sao ông ta lại không có con?
Khi James đi rồi, bà MacIsaac quay sang nói với chồng “Đừng để nó bước chân vào đây nữa”. Ông MacIsaac mỉm cười dịu dàng với vợ rồi quay trở lại nhà kính của ông. “Đến khi nào cần thiết rồi hãy làm những việc mình không thích.”
Mọi người đều thích MacIsaac nhưng không ai hiểu nổi làm sao ông có thể chịu được một người như Piper, nhưng MacIsaac lại thấy không có lí do gì để hành hạ gia đình của một người vì những lỗi lầm của người đó và đó chính là những gì bạn làm khi bạn ruồng bỏ một người. Mọi người chỉ nhún vai và đoán rằng do ông MacIsaac quá sùng đạo. Và theo một cách nào đó thì đúng là vậy, ông dùng hầu hết thời gian để tìm ra các phương thuốc trong các cánh đồng, nơi mà người khác chỉ nhìn thấy cát sỏi và bụi rậm. Ông chăm chút cho cây cối trong nhà kính của mình, không bao giờ gây ra nợ nần, chỉ tiếc nuối về những thức uống.
Cuối tuần đó, James ngồi xuống bên những chiếc bánh cà chua mật và nói “Anh muốn em nghỉ làm, quý cô à, công việc của anh ở mỏ kiếm đủ tiền rồi.”
Không trả lời. Anh nhìn lên, đôi khi thật khó để biết cô ấy có nghe thấy anh nói gì hay không.
“Em có nghe anh nói không?”
“Được thôi…”
“Cũng đừng có đi vòng vòng một mình trong thị trấn nữa.”
Thật là buồn cho họ khi có một tài năng nhưng lại bị bỏ lu mờ đi trong bóng tối, những cái cây héo hon sẽ đâm ra những cái rễ vô hình và sống ngày càng nhợt nhạt đi, chẳng còn sinh khí.
Tuần đầu tiên nghỉ làm ở nhà hát Empire là lúc khó khăn nhất. Ngôi nhà trống vắng, James thì chỉ tối mới về nhà và chỉ cần được cho ăn chứ không đòi hỏi gì khác. Cô tìm kiếm chìa khóa của cây đàn và cuối cùng thì cạy nó ra bằng một con dao. Nhưng chỉ sau một vài nốt nhạc thì cô lại cảm thấy tĩnh lặng, cô cần một sân khấu chứ không phải một cái gác xép. Không có khán giả, không có buổi biểu diễn, Materia lấy âm nhạc của mình và cất vào cái rương chứa đồ.
Cô dọn dẹp nhà cửa và nấu rất nhiều, rồi lại ăn, cô không có tâm trí để dành thời gian bên cạnh bà Luvovitz vì những cậu con trai của bà, Abe và Rudy là một sự sỉ nhục trong lòng cô. Làm sao cô có thể yêu thương con cái của người khác hơn là con ruột của mình? Những khúc nhạc ở Empire xa dần và trở nên không còn thực nữa, giờ Materia lại chỉ có một mình, với quá nhiều thời gian để suy nghĩ, tất cả những điều tội lỗi của cô quay trở lại và vây lấy cô: rời bỏ ngôi nhà của cha mình, phản bội và làm tổn thương cha mẹ mình, tất cả đều trái với những điều răn của Chúa.
Mình phải đi xưng tội, cô nghĩ, nhưng sau đó… để được tha tội thì mình phải thành tâm hối lỗi, nhưng hối lỗi vì đã trốn chạy theo một người khác nghĩa là hối lỗi cho tất cả mọi thứ bắt nguồn từ đó, và cô không thể. Cô vẫn muốn chồng của mình và đó chính là tội lớn nhất: ham muốn một người đàn ông, nhưng lại không muốn đứa trẻ sinh ra từ cuộc hôn nhân đó, và cô quay trở lại với tội lỗi ban đầu của mình.
Cô lại cầu nguyện với Đức mẹ Đồng trinh, nó làm tim cô đau buốt, và cứ như có một làn sương mờ ảo bay lên từ vết thương khi cô chợt nhớ ra mình không hề có một ý nghĩ nào về con gái mình trong suốt khoảng thời gian này. Cô không hề gửi đi một lá thư hay những món đồ từ nhà, cô thậm chí không bao giờ hỏi James “Con bé thế nào rồi?”, cuối cùng Materia thấy mình trong một tấm gương trong vắt, và hình ảnh đó thật tàn ác.
Cô có thể nói với ai bây giờ? Không ai cả, nhưng cô phải nói ra, nếu không cô sẽ chết mất.
Vào tuần thứ hai, cô ra khỏi nhà và đi đến bờ đá nhưng không nán lại ở đó như thường lệ, cô trèo xuống bãi biển đầy đá và đi bộ ở đó. Cô không hát, cô cứ nói chuyện với những hòn đá bằng chính thứ tiếng mẹ đẻ của mình cho tới khi cô cảm thấy chóng mặt, ngày đã chuyển sang màu xám và cô bị lạc, không biết mình đang ở đâu. Và cuối cùng, như đôi khi vẫn xảy ra ở đâu đó trên thế giới, những đám mây tan đi, bầu trời sáng rực thắp sáng cả bãi biển trong những gợn lăn tăn màu đỏ và vàng. Materia cảm thấy tĩnh lặng, cô đối mặt với chân trời và lắng nghe cho tới khi cô nghe thấy biển đang nói gì với cô “Con gái của ta, hãy đưa nó cho ta. Rồi ta sẽ lấy, sẽ rửa sạch nó và sẽ mang nó đi đến một nơi xa xôi cho tới khi nó không còn là tội lỗi của con nữa, nhưng chỉ có sự tò mò bị cuốn đi, nhấn chìm xuống biển và được rửa tội.”
Và cứ như vậy, ngày lại ngày, Materia để cho đầu óc của mình từ từ được cuốn đi cho tới khi cô có thể chia tay với nó một lần và mãi mãi.