Frances đã nghĩ ra một trò chơi mới: khám phá những điều bí ẩn của cô nàng thiếu nữ Kathleen. Không may là nó còn quá nhỏ nên không biết cách điều tra mà không để lại dấu vết.
“Đến đây xem nào, nhóc quậy!”
Frances len lén nhìn ra từ sau lưng Mercedes với một ánh nhìn biết lỗi trong đôi mắt, tay chắp lại ngoan ngoãn vô tội sau lưng và bước vào phòng Kathleen.
“Nếu em còn vào đây một lần nữa chị sẽ nói Pete bắt em đi đấy”, Kathleen nói, tôn thêm vẻ tự cao của mình ở nơi mà cô vừa tìm thấy cây lược và lẽ ra đó là chỗ của cái bàn chải. Cô còn tìm thấy cục kẹo dính trong một cái khăn tay ren của cô.
“Ai là Pete?”, Frances hỏi.
“Hắn là ông Kẹ và hắn sẽ bắt em xuống địa ngục!”
Frances cười phá lên. Đôi mắt Mercedes tròn xoe cà cô bé nói “Như vậy không hay đâu.”
“Không phải em đâu cưng.” Kathleen dang tay ra và Mercedes chạy đến, Kathleen nhấc cô bé lên ngồi trên đùi mình. “Hắn sẽ không bắt những cô bé ngoan đâu. Giờ chúng ta đọc gì nào?”
“Những em bé nước.” Mercedes chọn quyển sách yêu thích của Frances vì tình yêu cô dành cho em gái, cô bé không cố tình không ngoan.
Kathleen liếc nhìn nụ cười méo xẹo của Frances. “Đến đây nhóc con, em cũng có thể nghe đấy!”
Frances trèo lên đùi bên kia, hai cô bé nhìn nhau và loi nhoi, tay thì che miệng và má phồng lên vì kìm nén sự thích thú.
“Thôi ngoe nguẩy đi nào, nếu không chị sẽ gắn hai đứa vào cái ghim và làm mồi câu cá ở ngoài lạch đấy!”
Mercedes sửa tư thế lại ngay ngắn, Frances cười lớn và hỏi “Em nghịch tóc chị nhé?”
“Em phải nói sao?”
“Có thể không?”
“Gì nữa?”
“Với một đống kem và một quả sơ-ri và trái cây và kẹo!”
“Gì nữa?”
“Và một thanh kiếm và một con bọ và một con sâu. Và một cái mông nữa!”
Mercedes thay Frances nói với chính mình “Xin Chúa tha tội”, Kathleen cười còn Frances thì khúc khích đầy khoái trá, ngồi đàng hoàng lại và thọc cả hai tay vào biển tóc màu đỏ, nhưng Kathleen lại ngăn lại.
“Chị đang nghĩ đến từ gì nào?”
“Lồng đèn.”
“Không.”
“Gậy.”
“Không.”
“Hộp diêm.”
“Không.”
“Bình trà.”
“Đúng rồi!”
“Hoan hô!”
“Không được kéo nhé, nếu không chị sẽ lột da em đấy. Ngày xửa ngày xưa có một người quét dọn ống khói…”
Kathleen phải dành thời gian cho các cô em gái của mình. Lúc đầu cô làm vậy là vì cha, vì cô biết nếu cô không làm vậy thì bọn trẻ sẽ chẳng nhận được gì ngoài những lời rên rỉ man rợ của mẹ cô trong suốt thời gian cô ở trường - cô có thể cảm nhận được điều đó trong không khí ngay khi cô về tới nhà. Nhưng khi ngày học ở trường và chiến tranh kéo dài, Kathleen trở nên cô đơn hơn và cô trân trọng hơn những khoảng thời gian dành cho bọn trẻ. Những buổi sáng Chúa nhật, cô cho phép chúng ngồi trên hai chiếc ghế đẩu kê cạnh cửa phòng và ngắm cô trang điểm “Chị đang có tâm trạng tốt”. Chúng ngồi im hết mức có thể trong khi Kathleen hát những bài hát bất hủ của thế giới bằng giọng opera của mình và tròng vào mình chiếc áo trắng phủ ngoài áo lót thêu ren. Cô chỉnh cổ áo, thắt một cái nơ Windsor trên chiếc cà vạt kẻ sọc và kéo lại chiếc váy vải lanh, xòe ra ở gần mắt cá - “Bộ quần áo đạp xe của chị”, cô gọi nó vậy, mặc dù cô chẳng có chiếc xe đạp nào. Những buổi tối sau giờ học, cô đứng chống nạnh trước cửa căn phòng cấm và rên lên “Thôi được rồi, các em có thể vào. Nhưng không được làm ồn đấy, chị đang học.”
Các cô bé lúc nào cũng bước qua cửa với sự sợ sệt vì căn phòng của Kathleen là một đền thờ uy nghiêm và tinh tế. Những cái kệ được xếp đầy những cuốn sách dành cho con gái mà bạn có thể nghĩ đến, từ Cô gái nhỏ đến Anne và những giá đỡ màu xanh. Trên tường dán đầy hình của những nghệ sĩ lớn và những thứ xinh đẹp được cắt ra từ báo.
Có một bức hình của một người đàn ông với mái tóc xù và chiếc cà vạt bay bay đang say sưa bên cây đàn piano. Đó là Liszt. Kathleen đang yêu Liszt. Kathleen nói rằng chỉ cái tên của ông cũng như một tiếng thở dài đầy lãng mạn. Mercedes và Frances “thở” cái tên vào nhau như một tính từ để mô tả tất cả những thứ tuyệt diệu quanh chúng: kẹo dẻo, ga trải giường mới, bánh cam thảo mẹ làm, tất cả thật tuyệt vời, “Liszt!”
Có một bức tranh vẽ một người phụ nữ da đen xinh đẹp đội chiếc nón rộng vành và một chiếc váy cổ điển đang cầm một bông hoa trong lòng. Đó là Maria Malibran. “Ôi Malibran,” Kathleen thốt lên đầy cảm xúc, “ca sĩ tuyệt vời nhất trên đời”. Kathleen đã kể cho Frances và Mercedes về câu chuyện bi kịch của Malibran khi cô đi dạo trên con ngựa hoang dã nhất trong chuồng. Cô bị ngã, chân mắc kẹt vào bàn đạp và bị kéo lê trên đường đá suốt hàng dặm. Cô ngồi dậy, đánh phấn vào những chỗ trầy và thâm tím, sau đó cất tiếng hát vào đêm đó - vẫn hay như thường lệ. Sau đó cô ấy chết vì bị viêm não và “cô ấy chỉ mới hai mươi tám tuổi”. Mercedes vẫn luôn tự cầu nguyện cho Malibran trong khi Frances cố gắng liên kết hình ảnh người phụ nữ xinh đẹp trong bức tranh với hình ảnh cô ấy bị kéo lê và đầu đập xuống đất. Thật là kinh khủng.
Có một bức áp phích lớn của “Người phụ nữ muôn mặt” - mặc dù trong bức tranh cô ấy chỉ có một khuôn mặt. Tên cô là Eleonora Duse. Cô có một đôi mắt đen bừng sáng và tóc đen dày. Cha đã gởi nó đến cho Kathleen từ nước Anh trước khi anh ra chiến tuyến. Duse là “Diễn viên tuyệt vời nhất trên đời”. Trong bức áp phích, cô đứng trong sảnh của một ngôi nhà rất đẹp, cô mặc một chiếc áo khoác và tay đặt trên nắm cửa. Bức áp phích được làm cho một vở kịch tai tiếng mang tên “Ngôi nhà của búp bê”. Cha đã gởi nó kèm theo một bức thư, “để nhắc nhở chị không được kết hôn và phá hỏng sự nghiệp của mình”, Kathleen giải thích. Mercedes không thể hiểu nổi tại sao Kathleen lại không muốn kết hôn và có con cái như mẹ, nhưng Kathleen chỉ khịt mũi, “Hôn nhân là một cái bẫy, nhóc à. Một cái bẫy khổng lồ.”
Mỗi tối khi Kathleen mở cửa và miễn cưỡng chấp nhận chúng, Mercedes và Frances sẽ chờ một cách ngoan ngoãn và im lặng trong năm phút dài đằng đẵng, cho đến khi Kathleen tuyên bố rằng cô đã làm xong bài. Sau đó thì có vô số trò vui để chúng chọn.
Thường thì cả ba chị em sẽ nhảy lên nằm sấp trên giường của Kathleen, chống cằm và lướt qua một tờ Harper’s Bazaar quý giá và chọn ra những mẫu quần áo, phụ kiện “dành cho những người nổi tiếng”
“Đó là em đấy”, Mercedes nói, và Kathleen đọc lời chú thích “Mẫu quần áo hoạt bát làm từ lụa Trung Quốc màu xanh nhạt đính kèm với nơ hoa hồng làm từ lụa tinh tế.”
“Sang trọng”, Mercedes nói một cách khôn ngoan.
“Rất sang trọng”, Kathleen nói.
“Em là người đó”, Frances chỉ và Kathleen đóng góp”, Cô ấy say đắm mẫu áo ngực xinh đẹp và thoải mái của La Resista. Chiếc áo ngực ren có cái nhãn hiệu Paris không lẫn đi đâu được.”
Frances cười khúc khích và nhại lại “Áo ngực!”
Mặc dù chiến tranh đang xảy ra, vẫn có hàng tá quần áo thời trang đổ ra khỏi Paris - mặc dù theo báo chí thì những nhà thiết kế chỉ làm đủ để đáp ứng như cầu cho những người thợ may nghèo, nếu không thì họ sẽ mất việc.
Kathleen dạy các em cô bắt chước hiệu ứng của phấn hồng bằng cách tự véo má và của son môi bằng cách tự cắn môi mình không thương tiếc. “Sắc đẹp là một vũ khí đầy quyền lực”, cô đọc, vừa châm biếm vừa say sưa. “Để đến được ngôi vua của thời trang thì một cô gái phải tự nguyện làm vật hy sinh.”
Mấy chị em vẫn thường ăn tối ở cửa hàng Sherry ở đại lộ Fifth, nơi Kathleen chào đón chúng bằng giọng Pháp “Chào buổi tối, các quý cô, các cô muốn dùng gì? Chúng tôi có trứng cá Caviar nướng, bánh mì ngọt Vol au Vent, bánh nhân đào Brandied và súp rùa xanh. Hay các cô thích lưỡi rau câu?”
Tuy nhiên nó lại không tầm phào chút nào. Kathleen rất tôn sùng việc đọc loạt bài của bà Randolph Churchill trong chiến tranh: Bên ấm trà sôi sục. Mấy chị em nín thở trước bức tranh một sòng bài ở Pháp đã được chuyển thành một bệnh viện. Không… Cha không có ở đó.
Kathleen vẫn luôn đọc lớn những trích đoạn cuối cùng của câu chuyện hấp dẫn khi bọn trẻ đang lắng nghe một cách hoang mang và rướn qua vai cô để nhìn chằm chằm vào hình minh họa “Đi đi! Chúng mày là một lũ súc sinh không hơn không kém!”
Kathleen rất háo hức chờ đợi từng ấn phẩm của Haper’s Bazaar mà bà Foss của Hội đồng Orpheus đưa cho cô, và cô thưởng thức nó với sự thích thú và ghê tởm. Ví dụ như, có một bức tranh mà Kathleen cắt ra để tự nhắc nhở mình rằng những kẻ tầm thường ít học không phải chỉ có ở thị trấn của cô - họ cũng xuất hiện ở những tầng lớp cao hơn của xã hội: bức tranh được cho là của Geraldine Farrar vĩ đại đang hát bản “Người đánh xe” ở nhà hát Metropolitan Opera ở New York. Tuy nhiên ở phía trước lại là một nhóm người đang ngồi xúm xít khen ngợi nữ trang của nhau. Chưa bao giờ Kathleen nghĩ rằng người ta có thể đến nhà hát Opera vì một lí do khác ngoài đam mê nghe nhạc opera. “Cứ coi như đó là một bài học”, cô nghĩ và tự thề “khi mình hát, không ai được phép nhìn đi đâu khác trừ sân khấu!”
Lúc nào cũng đến cái cảnh Kathleen ném tờ Harper’s Bazaar ra góc phòng và tự nói rằng “mình đã chán những thứ sáo rỗng chưng diện và những đứa nhãi ranh nhét đầy đầu chúng bằng những thứ mục nát đó!”
“Rác rưởi!”, Mercedes hưởng ứng.
“Những tên ngốc bị đốt mông!”, Frances cũng hùa theo.
“Frances!”
Mercedes luôn bị kinh ngạc và Kathleen lúc nào cũng cười phá lên.
Sau đó họ lại háo hức quay trở lại với câu chuyện cổ tích “Anh em sinh đôi Bobbseys”.
Phụ nữ Canada nói “Đi đi!”
Tôi vẫn thường đi bộ trên vỉa hè ở thị trấn Nova Scotia.
Có một người đàn ông xuất hiện, khuôn mặt ông ấy màu nâu đồng.
Ông ấy kể về việc vua George kêu gọi chúng ta làm nhiệm vụ của mình.
Ông cho chúng ta áo khoác kaki để mặc.
Ông nói cho chúng ta biết lời kêu gọi đã vươn xa qua các vùng đất và biển rộng lớn.
Và khi tôi nghe những lời nói đó,
Tôi đã nói “Tại sao? Đó là tôi đúng không?”
Bài hát diễu hành của tiểu đoàn số 85, lực lượng viễn chinh Canada.
Thư của anh gởi về khá đều đặn, trong những phong bì quân đội.
Quý cô thân mến,
Tất cả đều ổn, đừng lo lắng, yêu tất cả các con.
James.
Không có thứ gì cần che đậy vì James không bao giờ viết nhiều đến mức làm lộ ra chuyện gì. Trái tim Materia nhảy nhót khi nhìn thấy thư vì lá thư cảm ơn và chia buồn của Đức vua cũng được in trên một cái phong bì giống vậy. Cô xé phong bì và mở ra, tìm kiếm một cái viền đen nhưng chưa bao giờ tìm thấy.
Mùa xuân năm 16, bà Luvovitz xuất hiện ở cửa nhà bếp của Materia với Ralph bé bỏng trong tay. Bàn ghế được xoay lại, bà Luvovitz đang khóc. Đây đây, vào đây, ngồi xuống và uống tách trà nào. Bà ngồi sụp xuống bên chiếc bàn bếp, Materia đuổi Ralph đi chỗ khác chơi - cậu bé đang lảng vảng trong bếp với Mercedes và Frances, chúng đang thắc mắc không biết có chuyện gì với bà Luvovitz. Bà Luvovitz chồm tới mà vẫn không nhìn lên và siết chặt tay Materia. Những đứa con trai của bà sắp lên đường, Abe và Rudy. Chúng nghĩ rằng bà sẽ tự hào vì chúng là những người Canada thực thụ.
“Đừng lo lắng quá, chúng sẽ trở về mà”, Materia nói.
Tất cả sách vở đều nói rằng đến ngày nào đó sẽ có một sự đột phá, bế tắc sẽ không thể kéo dài mãi.
Bà Luvovitz xì mũi và dùng khăn tay lau mặt. “Tôi biết, tôi biết, nhưng cô không hiểu đâu, chúng tôi có gia đình ở đó” - và bà lại gục xuống, giọng bắt đầu sụt sịt.
“Mẹ tôi đang ở đó…”
“Nhà bà ở Ba Lan mà, chúng đâu có chiến đấu ở Ba Lan.”
“Gia đình Benny ở Ba Lan, nhà tôi ở Đức.”
Materia ôm lấy bà trong khi bà khóc như một đứa trẻ. Những đứa con trai của bà sẽ chiến đấu chống lại chính máu thịt của mình. Nhà Luvovitz là những người Canada thực sự, còn nhà Feingolds là người Đức.
Mùa hè năm 1916, gần sông Somme đã có vài sự cải tiến: những người Canada đã có mũ bảo hiểm và súng ngắn nổ suốt ngày. Người Đức thì có súng máy. Kế hoạch ngày 1 tháng 7 của nước Anh là: một triệu viên đạn trái phá sẽ làm nổ tung hàng rào thép gai Boche. Vẫn vác trên vai ba mươi lăm kí hành lý như thường lệ. Đi trên mặt đất. Tiến về phía chiến tuyến của Đức, chắc chắn là chúng đã chết hết rồi, hãy cứ hành quân cho tới khi đến Berlin.
Trong vòng bốn tiếng rưỡi, năm mươi ngàn người Anh và Canada bị bắn. Chiều hôm đó, kế hoạch của nước Anh được sửa lại: làm y như lần trước, nhưng lần này phải chạy.
Abe bị bắn chết trong lúc hành quân. Rudy bị bắn chết trong lúc chạy.
Cả hai đều không giết một người Đức nào. Các con sẽ được yên nghỉ.
02/07/1916 Quý cô thân mến.
Tất cả đều ổn…
Bà Luvovitz không thể bình phục lại được. Bà vẫn làm việc, bà phải làm, vì bà vẫn còn con trai út và Benny. Và còn Materia nữa, cô vẫn thực sự là một đứa trẻ, ta vẫn nhớ lúc ta thấy cô ấy lần đầu bên bờ đá, cô bé sẽ làm được gì nếu không có mình chứ? Bà rất khó khăn khi chấp nhận sự thật về hai đứa con trai. Chồng của Materia cũng có thể đã chết, may mắn thay, xin Chúa tha tội, không biết tại sao nhưng anh ta vẫn luôn làm mình sợ. Benny nói đó là định kiến, nhưng không phải, đó là dị đoan. Có gì đó không đúng, mình có thể chứng minh được, mình cảm nhận được. Có thể khá điên khùng, nhưng có một điều mình biết chắc, mình sẽ làm cho Ralph bị tàn tật trước khi để nó tham gia vào chiến tranh, mình sẽ đóng chân nó xuống sàn nhà.
Chiến tranh lan rộng ở hai lục địa, những chàng trai trẻ tuổi hơn bắt đầu bị lôi đến trại tuyển quân trước khi chúng kịp nói “Tôi thực sự mười sáu tuổi, thưa ông”. Ở khắp nơi, đứa bé nhất bỗng nhiên trở thành đứa lớn nhất.
Những điều này không phải là những thứ Materia muốn.
Ở Y’pres: hơi ga - ít nhất chúng cũng giết chết lũ chuột. Ở Passchendaele: nếu bạn biết bơi thì sẽ không sao.
Quý cô thân mến.
Ta vẫn khỏe…
Mùa hè 1917, hầm mỏ số 12 nơi James từng làm việc phát nổ. Sáu mươi lăm người chết. Chiến tranh đã tạo ra sự bùng nổ các mỏ than ở Sydney. Đầy công nhân, lương thấp, biểu tình bị cấm, than trở thành yếu tố sống còn để hỗ trợ cho trận chiến. Năng suất được đẩy mạnh, hàng không bị bỏ hoang, xăng dầu phát triển. Mỏ số 12 lúc nào cũng tệ như vậy. Materia chơi nhạc ở nhiều đám tang và thắc mắc về vận may của James cũng như tội lỗi u mê của mình.
Cô có thể thú nhận với ai bây giờ? Không phải là bà Luvovitz, người bạn thân nhất của cô. Cô cố nói với Cha xứ “Xin Cha tha tội cho con vì con đã mang tội lỗi của niềm kiêu hãnh”, “Hãy đọc bài kinh 3 lần và hỏi xin Chúa sự khiêm nhường”. Vậy là Materia vẫn không được xá tội. Mỗi ngày cô vẫn đến bên bờ đá trong trí tưởng tượng của mình và mỗi ngày cô vẫn lặn ngụp dưới đó, thấy người mình nhẹ hẫng đi trong một khoảnh khắc, cảm nhận được sự thanh mảnh mình đã từng có và những cú đập mạnh đầy thỏa mãn của những tảng đá. Đó là nơi cô thuộc về, cô khẩn cầu sự vuốt ve âu yếm của bãi biển dậy sóng, để cô có thể sống lại một lần nữa trong sự xô đập của đá và sau đó chết đi. Bình yên. Nhưng cô còn những cô con gái của mình, và tự vẫn là một tội không bao giờ được tha thứ.
Vào mùa thu năm 1917, Đức mẹ xuất hiện trước ba đứa trẻ ở Fátima, Tây Ban
Nha, và nói với chúng ba bí mật, điều thứ ba cho tới nay vẫn là một bí mật của Vatican. Tuy nhiên, Materia biết điều bí mật thứ ba là gì, đó là “Các con thương mến, ta gởi chiến tranh đến để làm một cái khiên, để che chở cơ thể và tâm hồn của Kathleen Piper thêm một thời gian nữa.”