Khi cánh cửa căn gác xép cuối cùng cũng hé ra, James nhìn thấy một bức họa tĩnh lặng: Cái Chết và Người Mẹ Trẻ. Một bức vẽ cường điệu, thiếu mỹ thuật. Một bức họa dân dã xuất phát từ một nền văn hóa nóng. Mộc mạc. Mơ hồ. Chân thực.
Đây không phải cái chết nhẹ tựa lông hồng thời nữ hoàng Victoria. Không có nét xanh xao yểu điệu đáng kính, không những tia sáng chiếu xuống từ thiên đường, và cũng không có người chồng quẫn trí lịch thiệp. Bức tranh này sống động hơn nhiều. Treo phía trên thanh sắt đầu giường là tượng Đức Chúa bị đóng đinh trên thập giá. Mỗi bên thập giá treo một bức ảnh nhỏ: một bức là Đức mẹ Đồng trinh với trái tim linh thiêng đang cháy rực trên ngực trái, còn bức kia là của Đức chúa Giê-su con trai Người với trái tim cũng lộ ra ngoài và rỉ máu vì bị dây gai chọc vào. Trông họ dễ chịu vô cùng, mẹ và con trai. Họ đã cùng tìm đến được một chốn bình yên khi đang phải gánh chịu sự đau đớn vô cùng.
Người Mẹ Trẻ đang nằm trên giường, hai mắt nhắm nghiền. Mái tóc đỏ hoe đẫm mồ hôi và bết dính vào gối. Máu thấm ướt cả tấm trải giường. Phần giữa cơ thể cô đã rách nát. Một phụ nữ da màu mập mạp khoảng hơn ba mươi tuổi đang đứng cạnh cô. Người đó là Bà Ngoại. Bà bồng trên hai tay hai đứa trẻ sơ sinh dính đầy máu bị buộc dính vào nhau ở mắt cá chân, hệt như một bà nội trợ đảm đang ước tính cân nặng một cặp gà. Bà ngoại đứng trong tranh, mặt hướng thẳng vào người xem.
Nếu thật sự đây là một bức họa, thì sẽ có một con quỷ núp dưới nắp rương phía chân giường, đang lén nhìn ra chờ bắt linh hồn của Người Mẹ Trẻ. Thế nhưng Vị thần Bảo hộ của người mẹ trẻ ấy đã không để hắn thực hiện được điều đó, Người dang đôi cánh chờ đợi để dẫn linh hồn đã lìa khỏi xác của cô về với Chúa. Linh hồn Người Mẹ Trẻ, lúc này đang nửa dính nửa rời với xác của cô, đang rất thoải mái với mái tóc được chải gọn gàng, chiếc đầm ngủ trắng tinh khôi, và gương mặt không gợn cảm xúc - cuộc hóa thân thần thánh đầu tiên đã diễn ra, cô đã rũ bỏ tính cách cũ của cô như lột bỏ lớp da cũ. Cô sẽ không cần dùng đến nó ở nơi mà cô sắp đến. Bức tường phía trên trên cây thánh giá đã không còn mang tính vật chất tầm thường nữa. Trên đó, những áng mây lững lờ trôi. Và đâu đó trong những đám mây ấy, Chúa đang chờ đợi.
Tuy nhiên, vì đây không phải là một bức tranh mà chỉ là một khoảnh khắc bất động trước mắt James, nên dẫu có có đi chăng nữa thì mắt thường của ta cũng không tài nào thấy được những yếu tố siêu nhiên đó. Mà chỉ thấy một Người Mẹ Trẻ đã chết, Bà Ngoại, hai Đứa Trẻ sinh đôi, những Biểu Tượng, và chiếc rương. Bạn có thể làm gì với một bức tranh như thế? Bạn không bao giờ muốn thấy nó lần nữa, nhưng lại không thể tự tay đốt hoặc xé nó thành từng mảnh. Bạn phải giữ nó mãi mãi.
Cất nó trong rương đi James. Đúng rồi. Đó là nơi thích hợp để cất nó. Chẳng có ai lục lọi trong đó cả. Điều này hẳn là rất điên rồ. Bạn không thể nhét hình ảnh của một khoảnh khắc vào một cái rương hiện hữu như đem cất một món đồ gia truyền được. Nhưng trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, James thấy như anh đang thực sự nhìn vào nó, một bức vẽ mà anh đã giấu trong rương nhiều năm về trước và nay bỗng tình cờ thấy lại. Sự bối rối tạm thời này là một điềm báo; nó báo trước cho anh biết là không bao giờ anh thoát khỏi cảnh này. Rằng cảnh này sẽ mãi sống động, cho đến tận mười bốn năm sau những sắc màu của nó cũng vẫn mãi tươi mới như ngày hôm nay.
James bước ra khỏi căn phòng, nhưng không đi được xa. Chân anh dẫn lối và anh ngã xuống ngay bên ngoài cánh cửa đã bị đấm sập, bất tỉnh. Anh không nghe tiếng khóc chào đời của hai đứa trẻ vọng ra từ bên trong. Nhưng tiềm thức của anh đã nghe thấy. Tiềm thức đó không chỉ chuyển tải thông điệp mà còn lưu lại thông điệp ấy vào một mảnh giấy vụn dính trên tường hang. Nó đang tạm ngưng hoạt động để chiêm ngưỡng bức họa trong hang dưới ánh sáng của bóng đêm.
Vài giây sau, ngay khi Materia vừa bước ra khỏi phòng, James giơ tay ra nắm chặt lấy mắt cá chân cô lại, suýt nữa làm cô ngã nhào xuống cầu thang chật hẹp. Anh hé miệng hỏi “Cô đang đi đâu đó?”.
“Tôi đi gọi linh mục.”
“Không, cô không được đi đâu hết.” Giờ James đã thực sự tỉnh táo.
“Chúng sẽ được rửa tội.”
“Không.”
“Chúng phải được rửa tội.”
“Không.” James gầm lên
“Anh sẽ giết chúng mất, anh sẽ hủy hoại linh hồn bọn trẻ mất, anh là tên ác quỷ…”
Rồi cô tặng anh thật nhiều cú thụi mạnh vào mặt. Giả như có kéo trong tay thì chắc cô cũng sẽ chẳng ngần ngại chọc thủng mắt anh ngay tức khắc - “Ebn sharmoota, kes emmak! Ya khereb bEytak, ya Hara’ deenak!” Cô sẽ làm điều đó ngay lập tức nếu có một cái lưỡi lê trong tầm với. Và Chúa sẽ hiểu cho cô. Tại sao trước đây cô không nghĩ đến điều này chứ? Giờ Materia cũng đã thức tỉnh, sau mười chín năm ngủ vùi. Và cô sẽ giết anh ấy nếu có thể.
Một tay James giữ chặt cổ tay Materia, tay kia anh bịt chặt miệng cô. Mắt cô trợn ngược. Anh nói, “Ai là kẻ giết người hả? Ai giết người? Chúa nguyền rủa cô, Chúa sẽ nguyền rủa cô, đồ khốn kiếp -” Anh nhấn mạnh những lời nguyền rủa của mình bằng cách chầm chậm đập đầu cô vào tường. Mắt cô láo liên, cố tranh luận với anh, nhưng không có cách nào thốt ra lời nên mắt cô trông như mắt một con ngựa, câm lặng, đầy hãi hùng. Nước mắt anh bỗng tuôn trào. Môi anh mấp máy bên dưới làn nước mắt và nước mũi, máu chảy ra từ mũi anh, anh đang òa vỡ những tiếng nức nở thương tâm, với nỗi đau đớn vô cùng, và bức tường lúc này đã trở nên dễ chịu hơn với cái đầu của Materia. Lần này anh đã nghe được tiếng
khóc từ bên trong. Như tiếng mèo kêu. Anh xốc Materia lên và bồng cô đi qua ba dãy cầu thang xuống hầm than rồi nhốt cô lại. Sau đó anh bỏ ra ngoài đi dạo, và đương nhiên là nốc thật nhiều rượu nữa. Vài người trong chúng ta không được trang bị cho việc tự tử. Và khi chúng ta ở tận dưới đáy thì tự tử lại càng là một điều vượt quá khả năng sáng tạo.
Chỉ còn lại một mình Frances bé nhỏ, đứng dưới chân cầu thang dẫn lên căn gác xép. Dựa vào những điều đã được dạy cùng với những điều Frances đã nghe và thấy tối nay, cô bé có thể chắc chắn một chuyện: những đứa trẻ trên gác cần phải được rửa tội. Nhưng cô phải hành động thật cẩn thận và nhanh chóng. Không thể để bị bắt quả tang được. Cô đứng dưới chân cầu thang nhìn lên.
Căn phòng trên gác xép nhiều tháng nay vẫn là một nơi bình yên và tĩnh lặng tuyệt đối. Cho đến đêm nay. Chị lớn của cô đang nằm trên đó tuyệt đối yên lặng. Frances và Mercedes được cho phép vào phòng để đọc sách và mang thức ăn cho chị lớn. Chúng đã đọc Vẻ đẹp đen, Đảo giấu vàng, Căn nhà hoang, Jane Eyre, Katy đã làm gì, Những phụ nữ nhỏ bé và những mẩu truyện nhỏ trong cuốn Kho tàng truyện về những vị Thánh và những người anh hùng dành cho trẻ em. Cả hai quyết định sẽ để dành những từ khó lại để lần sau tra để khỏi cắt ngang mạch đọc truyện. Chúng còn nhờ mẹ tìm giùm công thức nấu những món ăn kì lạ chúng tìm thấy trong Katy đã làm gì và Những phụ nữ nhỏ bé. “Bánh Pút-đinh” có vẻ là món khoái khẩu của những cô gái gầy nhom. Chúng chẳng bao giờ hiểu được nó là gì. “Ăn trắng”. Món ấy có vị thế nào nhỉ?
Frances biết là chị Kathleen của cô rất mệt mỏi với khối u trong bụng. Mercedes bảo với cô đó là u ác tính. “Bọn mình phải cầu nguyện cho chị ấy”. Và chúng cùng nhau cầu nguyện cho Kathleen. Chúng thôi không ăn kẹo nữa mà làm một cái hòm nhỏ và bỏ những viên kẹo vào đó và chờ đến khi chị gái khỏe lại sẽ ăn.
Và đây là Frances, sáu tuổi, đang đứng ở chân cầu thang chật hẹp dẫn lên gác mái. Cô bé không sợ bóng đêm, hơn nữa, vẫn có chút ánh sáng leo lắt hắt xuống từ căn phòng bên trên. Cô bé đâu có một mình, còn có chị lớn và hai đứa trẻ đang o oe như mèo đang nằm trong phòng ấy nữa. Mà Frances thì rất yêu mèo. Frances đi chân không, cô đang mặc chiếc đầm ngủ trắng và tóc thì được thắt thành hai bím dài. Cô bước đến chân cầu thang. Con bé quá thấp nên không đứng được ngang tầm mắt với chỗ lõm mới xuất hiện trên tường; cũng phải thôi. Nhưng vậy thì có vấn đề gì đâu chứ, cô đã thấy cách vết lõm đó xuất hiện ở đó, và giờ cô đang đi vào phòng và sắp sửa thấy tất cả mọi thứ. Đôi chân trần bé nhỏ đưa cô bé đi qua những mảnh vỡ của cánh cửa đã bị đập nát.
Điều khác biệt giữa Frances và James là, dù cô thấy một phiên bản của cùng một bức ảnh ghê rợn mà James đã thấy, nhưng cô còn khá non nớt nên không chịu ảnh hưởng quá mạnh từ ký ức hang động. Dù não con bé sẽ không bao giờ quên, nhưng hình ảnh đó sẽ bị đánh cắp ra khỏi tiềm thức của cô - một nghệ thuật trộm cắp vĩ đại - và xếp gọn vào với mặt sơn dầu quay vào tường hang. Cô đã quyết định rồi, “Để chúng ta có thể tiếp tục hoạt động thì bức tranh này không để ở đâu đó quanh đây.” Thế nên, khi Frances nhìn thấy chị cô, khác với cha mình, cô sẽ quên điều vừa thấy gần như ngay lập tức, nhưng cũng y như cha mình, cô sẽ không thể vượt qua được điều này.
Điều Frances nhìn thấy là máu. Là những bức ảnh treo trên tường. Là cây kéo. Và là những đứa trẻ đang cọ quậy nhè nhẹ giữa hai chân Kathleen, nơi chúng vừa được xếp vào để tránh bị rơi khỏi giường trong khi chờ linh mục đến. Vậy là bí mật liên quan đến khối u ác tính của Kathleen giờ đã bật mí; và nó được xếp vào loại “Bình thường” trong đầu Frances.
Frances nghĩ ra một cách để mang cả hai đứa trẻ đi cùng lúc: cô trải thân trước chiếc váy ngủ trắng của mình lên giường rồi đặt hai đứa trẻ trơn nhẵn vào đó. Cô xếp chúng lại ngay ngắn, cái váy biến thành một cái bọc thật thoải mái. Con bé ôm cái bọc đựng em bé của mình lên, hành động này khiến cho chiếc quần nhỏ của cô lộ ra, cô bước thật cẩn thận xuống hai dãy cầu thang, đi qua nhà bếp, ra cửa sau, băng qua những ụ than đen ngòm trong sân sau cho đến khi ra đến bờ lạch. Có một thứ rất đáng sợ: tên bù nhìn đứng ở giữa khu vườn phía bên kia sông. Nếu đồ chơi sống dậy vào buổi tối, thì điều gì xảy ra với bù nhìn nhỉ? Frances tránh không nhìn vào hắn. “Hắn chỉ là đồ vật mà thôi.” Nhưng cô cũng không muốn làm hắn bực mình đâu. Con bé âu yếm đặt hai đứa trẻ xuống bãi cỏ. Trời đêm nay thật ấm áp và dễ chịu.
Frances tiếc vì đã không nhớ lục cái rương để tìm cái đầm trắng có dây buộc và cái mũ em bé - bộ đồ mà cô, Mercedes và Kathleen đều mặc khi được rửa tội. Quá muộn rồi, không có thời gian đâu, mình phải làm xong trước khi cha về mới được.
Frances đã yêu thương cháu trai và cháu gái mình rồi. Cô sẽ làm bất cứ điều gì có thể để bảo vệ cho linh hồn chúng. Con bé biết rằng nếu không làm thế thì những đứa cháu bé bỏng của cô sẽ phải mang Tội Nguyên Thủy khi lìa đời, và phải đi đến vùng-đất-không-tồn-tại, Vùng quên lãng, và mãi mãi không được biết đến.
Frances chưa bao giờ nhìn cận cảnh một buổi lễ rửa tội, nhưng cô đã nghe tiếng linh mục lầm rầm nói với hai môi gần như dính chặt, và cũng đã thấy linh mục nhúng đầu đứa trẻ vào nước. Linh mục đang cầu nguyện, hẳn rồi, nên Frances cũng phải cầu nguyện. Nhanh lên nào Frances. Con bé làm dấu thánh giá, In nomine padre… Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Cô đưa mắt nhìn hai đứa trẻ nhỏ bé đang nằm đó dưới ánh trăng mờ nhạt; “Ưu tiên phụ nữ.” Cô bồng bé gái lên và trượt theo triền sông xuống nước. Cô lội ra giữa dòng, nước sâu ngang hông. Đối với Frances bé nhỏ thì đúng là như vậy. Chiếc đầm ngủ của con bé phồng lên và nổi lềnh bềnh trên mặt nước trước khi thấm nước và chìm xuống quanh chân nó. Con bé dùng ngón tay cái làm dấu thánh giá trên trán cháu gái mình.
Bây giờ đến phần cầu nguyện. Frances thử nói: “Chúa ơi, xin hãy rửa tội cho đứa bé này.” Tiếp đó cô đọc bài kinh cầu nguyện trước khi đi ngủ yêu thích của mình, “Hỡi vị Thiên thần của Thiên Chúa, vị thần hộ mệnh đáng kính của con, qua Ngài mà tình yêu của Chúa đến với con nơi đây, xin ở lại bên con hôm nay, để soi sáng và bảo vệ con, để cai quản và dẫn dắt con. Amen.” Và giờ là phần nhúng đầu đứa trẻ xuống nước. Frances cẩn trọng đưa đứa bé về phía mặt nước. Đứa trẻ vẫn còn rất trơn, nó tuột khỏi tay Frances và chìm xuống nước. Ôi không. Nhanh lên! Gà mái, gà trống, con gà, con vịt! Frances thụp xuống nước, chộp ngay đứa bé trước khi nó rơi xuống đáy, rồi trồi khỏi mặt nước và ôm chặt nó vào lòng. Không sao rồi. Trái tim bé nhỏ của Frances đập mạnh như một con chim nhỏ đang nằm gọn trong miệng mèo đói, nó thở dốc, đứa bé oe lên khe khẽ và ho nhẹ vài tiếng, tiếng ho nghe mới ngọt ngào làm sao. Không vấn đề gì cả, con bé chỉ uống một ít nước thôi, không sao. Ổn rồi. Frances đung đưa nó nhẹ nhàng và hát một bài cô vừa sáng tác tức thì, “Bé yêu, bé yêu… bé yêu, bé yêu… bé yêu, bé yêu”. Xong. Ít nhất thì bây giờ đứa bé đã sạch sẽ và tươm tất.
Frances bò trở lên bờ, đặt bé gái xuống cỏ, hôn đôi tay bé tí của nó rồi quay sang ẵm đứa bé trai. Con bé biết mình phải đặc biệt cẩn thận với trẻ sơ sinh bởi đầu của chúng chưa “khép chặt”. Như có một cái rãnh hay gì đó chạy dọc trên đỉnh đầu của chúng. Nó được gọi là “điểm mềm”, dù nó giống một đường thẳng hơn.
Có thể thấy rõ nó trải dài bên dưới lớp da xanh xao đang bao bọc nó. Frances không nhìn thấy nó trên đầu đứa bé gái bởi tóc nó dày đến kì lạ, nhưng trên cái đầu lưa thưa tóc của bé trai thì nó hiện ra rất rõ: là một đường rãnh không sâu lắm chia đôi đầu đứa bé. Frances xuống nước thêm lần nữa, con bé nhè nhẹ lần tìm đường rãnh màu xanh nhạt trên đầu đứa trẻ sơ sinh. Lỡ có ai đó đến và thọc ngón tay của họ vào đó thì sao đây? Thằng bé sẽ chết mất. Frances rùng mình trước ý nghĩ sẽ có ai đó xuất hiện và làm điều đó. Nếu chính tay cô lần ra phía trước và làm vậy thì chuyện gì xảy ra chứ? Ôi không, nhanh nào, mày phải rửa tội cho em bé trước khi quá trễ. Trước khi cha về, hay trước khi ai đó nhấn tay vào đầu đứa bé.
Frances đã lại đánh rơi đứa trẻ thứ hai. Ôi không. Nhanh lên! Gà mái, gà trống, con gà…
“Con đang làm cái quái gì vậy?”
Frances ngóc đầu lên, thôi lặn ngụp. Là cha. Ông đang đứng đó, trên con đê, chân dang rộng tạo thành chữ V ngược thật to. Một tay ông đang ẵm đứa bé gái.
“Biến ra khỏi đó ngay, mau lên!”
Cha say rồi, nếu không thì ông đã chẳng chửi rủa trước mặt một đứa trẻ. Ông lần xuống và túm lấy Frances bằng một tay, nhấc bổng cô bé ra khỏi mặt nước với chiếc váy ngủ ướt nhẹp rủ xuống phủ cả ngón chân. Cô giống hệt nàng tiên cá bé nhỏ cuối cùng cũng được mời lên con tàu xinh đẹp Homo Sapiens, đã sẵn sàng mang thử đôi chân mới. Giống hệt, chỉ có những vết máu là khác.
Mặt nước tối đen như mực. James không hề thấy đứa trẻ dưới sông. “Không!” Frances hét lên khi ông đặt cô xuống cỏ. Cô không thể tìm được lời nào để nói. Cô không thể kể với ông, lúc này kể chuyện không phải là một lựa chọn, chuyện này giống như trong mơ vậy, cô quên cả cách nói bằng thứ tiếng Anh phù hợp, “Đứa kia còn ở dưới đó, nó chết đuối mất thôi. Chúng ta phải vớt nó lên!” James tung cô bé về phía trước, rồi giật nó lùi ra sau, cứ theo cách đó mà đi về phía căn nhà. Frances vùng ra rồi quay đầu chạy. Ông lảo đảo rượt theo sau. Cô chạy đến bên sông rồi nhảy lên. Qua đỉnh đê. Nhào xuống nước và ngụp lặn. Cô quờ quạng dưới đáy nước để tìm đứa trẻ, phổi cô đau nhức, ở dưới này cô cũng mù tịt như đứa trẻ mà cô không thể tìm thấy, rồi cô tìm thấy thằng bé. Cô trồi lên, phá vỡ mặt nước lần thứ hai, ngay lúc James lảo đảo chạy đến bờ sông. Cô ôm đứa bé vào ngực; thằng bé ngọ nguậy một cái rồi im hẳn. Cô ngước lên nhìn cha, rồi nhìn đứa bé gái. Cô bắt đầu run lẩy bẩy.
James thốt lên, hoặc chỉ nghĩ trong đầu, “Lạy Chúa Giê-su, Lạy Chúa Giê-su, Lạy Chúa Giê-su.” Ông trượt xuống triền sông, ôm lấy đứa bé và làm hô hấp nhân tạo cho nó. Nhưng vô ích thôi. Thằng bé đã ở dưới nước quá lâu, ít nhất là hai mươi giây. Răng Frances bắt đầu va vào nhau lách cách, và cô bé tự hỏi liệu cây kẹo trắng đen của nó có còn nằm yên dưới đáy nước hay đã bị cuốn trôi ra biển.