James đang lách Luật cấm dùng rượu mạnh của Nova Scotia một cách rất tốt và anh thậm chí còn làm tốt hơn đối với Luật điều chỉnh số 18 trong Hiến pháp Mỹ, hay còn gọi là Luật cấm. Frances không biết chắc chắn nhưng cô bé nghi ngờ như vậy. Trong sân trường Đức mẹ núi Carmel, hai anh em cùng tên Cornelius để phòng trường hợp có một đứa chết đang phao ầm cái tin này lên. “Ông già mày chỉ là một người buôn rượu lậu thôi!”, Frances trả đũa “Vậy sao? Vậy thì ông già mày là đồ chó!”. Chúng đuổi theo nhưng Frances đã chạy mất và không ai có thể đuổi kịp khi cô bé chạy.
Frances đã học được rằng con trai và những người đánh cá có vốn từ vựng phong phú hơn là con gái và các nữ tu - mặc dù không phải lúc nào cô cũng chắc chắn về nghĩa của những từ đáng sợ mà cô hay dùng. Cô biết rằng cô sẽ không tìm thấy từ “người làm rượu lậu” trong từ điển, cũng như cô không thể thỏa mãn với việc tìm mãi không ra nghĩa của từ “Chó chết!”, do đó Frances tìm đến hỏi ông MacIsaac. Khuôn mặt đỏ của ông nặn ra một nụ cười, ông cười khò khè như một cây đàn bị hỏng và nói cho cô bé biết nghĩa của từ đó là gì rồi nhanh chóng thêm vào “Nhưng mà cha con không phải một người làm rượu lậu đâu con gái à, con lấy cái ý tưởng đó ở đâu ra vậy?”
Frances nghĩ rằng ông MacIsaac chỉ nói tốt vậy thôi, còn không thì có lẽ là do ông ấy ngốc. Nếu không thì sao ông ấy lại không đế ý rằng cứ mỗi khi đi ngang qua hũ kẹo quế và kẹo dẻo thì mấy ngón tay của Frances lại bị dính. Frances cho Mercedes tham gia vào cái lý thuyết về công việc của cha nhưng Mercedes chỉ nói “Vớ vẩn!”
James là một người làm rượu lậu. Mỗi khi anh làm việc, anh làm vào buổi tối. Anh rời khỏi nhà vào khoảng mười một giờ và khóa cửa nhốt mấy cô bé trong nhà. Anh thắp một ngọn đèn trong lán, nơi mà những cái máy cắt và dập của anh đang nằm phủ bụi và cũng rời khỏi lán, khóa cửa lại và lái xe đi, mặc kệ ngọn đèn cứ cháy cả đêm để người ta có thể nhìn thấy từ ngoài cửa sổ.
Anh đi thẳng đến cửa của một dòng suối và thấy những đàn cá dây gương đang tụ tập dưới những con tàu đang thả neo ở “Khu vực ngoài vùng cấm rượu”. Những con tàu này đang trên đường đi từ Đế quốc Anh của vùng đất mới - nơi mà rượu được coi là hợp pháp, đến những nơi ở các bờ biển xa như thành phố New York. Anh khiêng hết thùng này đến thùng khác, hết hộp này đến hộp khác ngược lên trung lưu của con suối và giấu vào một nơi bí mật. Đêm hôm sau anh quay trở lại, chất đầy xe của mình và mang chúng từ nơi che giấu đến những cơ sở bí mật của anh ở trong rừng. Tuy nhiên anh đã bắt đầu cảm thấy quá già cho những công việc khuân vác và đi vận chuyển này và đang nghĩ đến việc thuê vài chàng trai trẻ và nhà nghèo. Những ngày này thì cả hai loại người trên đang đầy rẫy.
Các cuộc đình công liên tục diễn ra hết lần này đến lần khác, 1922, 1923, và chỉ vừa mới tháng 3 năm 1925 vừa rồi những người thợ mỏ lại nổi dậy một lần nữa. Điều này gợi cho James nhớ đến những ngày tồi tệ khi xưa của New Waterford trước chiến tranh. Bên ngoài Cape Breton, những người tuổi đôi mươi đang gào thét, nhưng các cuộc bùng nổ nổi tiếng thời hậu chiến sẽ không bao giờ đến được đây, ít nhất là đối với người bình thường. Mọi thứ còn đi từ tệ đến tồi tệ hơn. Các chính trị gia và những người đứng đầu các ngành công nghiệp đổ tội cho các cơ chế bí ẩn mang tên “Nền kinh tế thế giới”. Nhưng ngay đến James cũng nhận ra rằng đây chỉ là một từ ẩn dụ cho “Những thằng khốn nạn đã vét sạch mọi thứ ra khỏi đây và không trả lại bất kì thứ gì”. Rất nhiều con cái của những người thợ mỏ phải đi bộ chân trần đến trường và ăn bánh mì nướng với mỡ lợn để có chất dinh dưỡng - chuyện này xảy ra trong lúc tuyển dụng đang dư thừa. Vẫn chưa ai biết nhưng những chuyện xảy ra ở Cape Breton chính là một buổi diễn thử của “Đại suy thoái”.
Không có gì bất ngờ khi việc làm rượu lậu xảy ra. Ai có thể đổ tội cho một người chỉ vì người đó muốn kiếm thêm một ít thu nhập? Hay vì người đó đang ấp ủ một ít niềm an ủi để chia sẻ với bạn bè và gia đình quanh cây đàn violon? Và đó chính là những việc mà hầu hết mọi người đều làm. Việc người dân địa phương bán những thứ ở nhà làm với giá cao hơn chi phí là một điều bất thường. Và nó cũng bất thường nếu người ta không có một cái két sắt ở đâu đó trong nhà, nếu đến mức không có nổi một cái bình trên bếp. Chuyện kể rằng cha Nicholson mở cửa nhà mục sư núi Carmel và gặp một người lạ hỏi rằng “Tôi có thể uống một chút ở đâu thưa Cha?”. Và Cha xứ đáp lại “Con trai à, con đã đến nơi duy nhất trong thị trấn mà con không thể tìm được rượu, mặc dù ta không chắc lắm nhưng có thể Cha phó cũng đang bán đấy”. Một số người làm rượu nghiêm túc lại là những chàng trai tốt - man rợ nhưng không xấu, và dĩ nhiên là không keo kiệt hay thù vặt. Ngay cả lực lượng cảnh sát hoàng gia cũng thích thú với cuộc chơi này, mặc kệ họ bị lừa bao nhiêu lần, và sự tôn trọng lẫn nhau nảy sinh. Một vài lần thắng, một vài lần thua.
Một cách tự nhiên, “Hội phụ nữ Thiên Chúa giáo không bán rượu” được hình thành nhưng họ lại là một nhóm người theo đạo Tin lành và New Waterford lại là một thị trấn theo Thiên Chúa giáo. Ngay cả ở Sydney, nơi có nhiều người Tin lành bài rượu hơn nữa thì các khách sạn vẫn phục vụ rượu mạnh với một lời đe dọa ở hiện tại và sau đó sẽ bị phạt tượng trưng vì vi phạm lần đầu. Lần vi phạm thứ hai thì sẽ bị hạn chế, tuy nhiên những người chủ luôn biết cách làm cho mình ít nổi tiếng đến mức lần vi phạm thứ hai mươi của họ cũng chỉ được ghi nhận là “vi phạm lần hai”.
Làm rượu lậu không có gì là xấu hổ, cả cái cách người ta đang làm cũng vậy. Còn James lại là một chuyên gia. Ở lều của mình giữa một chỗ trống trải bí mật trong rừng, anh nếm thử rượu ê-cốt và gin thật, rượu rum thật và nấu tất cả chúng theo công thức pha chế lên men của riêng anh, chúng sôi sùng sục cả ngày lẫn đêm.
Sau đó anh dán những cái nhãn của rượu thật lên và kiếm được khá là bộn tiền. Cũng may là anh không có bạn bè gì nên không ba hoa với ai. Nếu không thì người này đồn cho người khác và chẳng mấy chốc bọn cảnh sát hoàng gia sẽ đổ xô đến và hống hách hỏi mua rượu cho dịp Giáng sinh và năm mới, ăn mừng cũng là một nghĩa vụ và sau đó là thiêu trụi tất cả mà không hề có chút cảm giác khổ sở nào.
Đúng như cái kiểu chuyên nghiệp của mình, James chỉ bán cho những người có khả năng trả tiền cao nhất: vài người giàu có uống rượu ở nhà và có thể sắp xếp giảm bớt chi tiêu cho những thứ thường ngày như cam thảo, men rượu và nước.
Anh cũng bán cho các khách sạn và những người bán lẻ rượu lậu, vào tay họ thì rượu sẽ bị pha loãng thêm một lần nữa. Anh không bán cho những người thợ mỏ nữa vì anh đã quá mệt mỏi với việc đi đòi nợ. James đọc thấy trên báo có nói đến vài vụ bạo lực đáng chú ý xảy ra ở Liên bang, nơi những băng đảng đánh nhau giành quyền kiểm soát lãnh thổ và có rất nhiều người bị bắn chết vì không trả được nợ. Nhưng theo kinh nghiệm của James thì tất cả những gì cần làm là hù dọa nói cho vợ của lũ khốn đó biết, James đã phát ốm với việc nghe bọn họ kể khổ. Nếu bọn trẻ nhà họ khổ sở như vậy thì lẽ ra họ không nên chi tiền cho cái thứ “thuốc độc” của anh, và họ cũng chẳng cần tìm kiếm đâu xa mà chỉ cần nhìn vào ví dụ điển hình là James: anh không bao giờ đụng đến một giọt rượu. Điều này giúp James khỏe mạnh nhưng nó cũng làm anh bị ghét. Vì sao? Vì anh không chết dần mòn đi vì những ngụm rượu như họ, bởi vì anh có quyết tâm và ý chí chăm sóc gia đình mình.
Công việc của James không chỉ giúp bữa cơm trong nhà có thịt trong khi những người khác may mắn lắm mới có được bữa cháo yến mạch, giúp các con anh có quần áo đàng hoàng để mặc trong khi những người khác có thể phải cắt may quần áo từ những cái túi đựng bột mà còn cho anh thời gian ở bên cạnh thứ mà anh quan tâm nhất Lily.
James đã không còn đếm sách nữa, chúng đã quá nhiều. Mercedes và Frances say mê đắm chìm trong mấy thùng sách và anh rất khuyến khích chúng, nhưng về phần mình thì anh chỉ còn đủ thời gian để lướt qua tờ báo trước bữa ăn và toàn bộ thời gian trong ngày được dùng để dạy dỗ Lily.
Cứ mỗi hai tiếng đồng hồ thì họ sẽ học một từ mới trong quyển Bách khoa toàn thư nước Anh, James chỉ định những đoạn văn cho Lily học thuộc và đặt câu hỏi để kiểm tra mức độ hiểu của cô bé. Cô bé viết những đoạn văn ngắn về bướm, toa xe, Bungari và súng trường. Lily yêu thích học hỏi, nhưng hơn hết là cô bé rất yêu cha. Sau những giờ học trong sách, James sẽ lái xe đưa Lily đi chơi. Đôi khi họ đi chơi cả đêm, ví dụ như lần họ đến St Ann’s và đi xem nhà của Angus McAskill, người khổng lồ vùng Cape Breton. Lily thấy bức tranh một người đàn ông to lớn đang đặt Tom tí hon trong lòng bàn tay mình. Cô bé rất thích thú khi thấy những mối thâm tình giữa người khổng lồ và người tí hon - thật may là họ có nhau.
James đã có giấy phép để không cho Lily đi học, vì cô bé bị tật. Và dĩ nhiên là cô rất mỏng manh, mọi người đều cho là vậy, trừ Frances. James hoàn toàn không ủng hộ sự thân thiết giữa Frances và Lily nhưng anh không thể từ chối Lily bất cứ điều gì. Anh chỉ cố gắng theo sát chúng. Trong đầu anh lúc nào cũng còn những hình ảnh con lạch vào cái đêm Lily được sinh ra và anh bắt gặp Frances đang cố dìm chết con bé. Chỉ có James mới biết Lily phải biết ơn ai vì cái chân bị tật của mình bởi vì Frances còn quá nhỏ nên không thể nhớ được. Cũng như nó còn quá nhỏ để nhớ đứa bé thứ hai…
Vào mỗi khi bình minh, James vẫn thường xuyên ghé vào nghĩa trang để thăm Kathleen trên đường trở về từ chỗ làm việc. Anh không để lại hoa, để làm gì chứ? Anh có thể nhổ những đám cỏ đang che khuất tên cô. Phiến đá khắc tên được tôn cao lên và không vướng bận những thứ tình cảm vớ vẩn, nó chỉ ghi đơn giản là “Con gái yêu thương”. James không chăm sóc cho phần mộ của Materia vì có ai đó đã làm thay. “Những tiếng gọi của yêu thương từ thế giới này”. Ai đó lúc nào cũng để hoa lại mà anh không biết là ai. James đứng im như tượng, nhìn ra biển và thấy thế giới đã trở nên thật là nhỏ bé. Châu Âu đang ở ngay trước mặt anh, nhà ở ngay phía sau anh, còn ở dưới chân…
Vào giờ này lúc nào cũng có sương mù kéo dài khoảng một dặm. James là một người theo Thiên Chúa giáo nhưng anh không tin vào kiếp sau, dù sao thì cũng không phải là dành cho anh. Dù vậy, đôi khi nhìn màn sương trên mặt nước, anh lại cảm thấy dễ chịu.