“Vài tên bợm nhậu đã tấn công anh ở ngoài quán Jameel.” Nói dối lần ba.
“Ui, Addy, nhẹ thôi!”
Adelaide lấy ra thêm một mảnh gỗ vụn và xịt thêm axít các-bô-lích vào cái trán dập nát của Ginger. Thật may vì đó là phần cứng nhất hộp sọ. Và cũng thật may là khi đầu anh đập xuống thanh tà vẹt đường ray thì mũi và răng anh chỉ sượt trên sỏi. Và điều may mắn nhất là nhờ có tiếng rì rầm ấm áp của những thanh ray bên dưới mà anh đã tỉnh dậy vừa kịp lúc để lăn vào lề, để đoàn tàu chở than lúc giữa trưa chạy qua. Ai là thiên thần hộ mệnh của anh nhỉ?
“Em muốn biết nó là ai và đừng nói những điều vớ vẩn nữa.”
“Sao chứ?” Nhưng có giả vờ cũng vô ích. Làm sao mà đã có lúc anh nghĩ rằng cô có thể tin lời nói dối của anh chứ? “Nó là một trong những đứa con nhà Piper ở New Waterford.”
Adelaide thấy ớn lạnh, nhưng cô gật đầu nói, “Frances.” Cô biết đứa bé hư nhà đó có tên là Frances.
“Anh không biết nó muốn gì. Tối qua anh đi theo nó nhưng anh bị tấn công bất thình lình trước khi kịp nói lời nào, anh không biết ai và bao nhiêu người đã đánh anh.”
Adelaide nhìn anh. Đợi phần sau câu chuyện.
“Anh xin lỗi, Addy. Anh đã cho nó đi nhờ một lần, anh không biết tại sao trước đây anh lại nói dối em nữa.” Bỗng dưng anh thấy thật mệt mỏi. “Nó là cô bé nhỏ ở nhà chứa và anh muốn giúp đỡ nó. Anh nghĩ mình có thể giúp.”
Adelaide xếp một lớp băng trắng mềm trên chân mày anh. “Nhà đó rắc rối lắm,
Leo. Đầu óc con bé đó không ổn lắm. Nó sẽ hại anh phải vào tù vì tội cưỡng hiếp.”
Ginger bị sốc, “Anh sẽ không bao giờ, không bao giờ -”
“Nhà Piper có tiền. Anh là một gã da màu, và con bé đó đang đeo theo anh.”
Với băng quấn đầy đầu và mặt đang đóng mài sắp lành khá nhanh, anh gõ gõ cánh cửa thép.
“Mày muốn được lên lương, phải không nhóc?”
“Không, thưa ông Jameel, tôi muốn nghỉ việc, nhắn giùm với ông Piper là tôi cũng nghỉ làm chỗ ông ta.”
“Mày tự nói đi.”
Ginger quay đi và nói, “Vậy chắc ông ấy sẽ tự biết khi không thấy tôi đến lấy rượu mà ông đặt.” Ginger muốn tạo một khoảng cách giữa ông với mọi thứ liên quan đến nhà Piper.
“Tên da đen khốn kiếp, biến ngay ra khỏi chỗ của tao - Boutros!”
Ginger đã bỏ đi nhưng sẽ không chạy. Liếc ra sau, anh thấy đứa con trai to xác đã đến ngay cửa. Ginger không sợ Boutros, dù vết thương trên cổ anh có được khi túm lấy Jameel hôm nọ vẫn chưa lành - thằng nhóc chỉ đang bảo vệ cha mình. Ginger biết những người như thế sẽ trở thành những người tử tế hơn là những kẻ hiếu chiến.
“Tên da đen chết tiệt,” Jameel lầm bầm chửi. “Lấy xe đi, nhóc,” ông bảo Boutros mà không màng nhìn cậu.
“Bố, con sẽ lấy vợ.”
Jameel quay lại đập mạnh vào mặt Boutros, “Đem cái xe chết tiệt đến đây.”
Lúc đó tầm năm giờ chiều.
“Vấn đề gì?” Ginger hỏi.
Ginger biết những điều cơ bản về nhà Piper - những điều mọi người đều biết và những điều anh biết được từ nhiều năm lái xe đưa đón cho nhà họ. Giờ thì anh chở rượu cho Piper, nhưng việc đó cũng chỉ đưa anh đến lò rượu ở trong rừng và tất cả những gì Piper nói là “Cảm ơn, Leo, lái xe cẩn thận.”
Nhưng Adelaide lại biết những điều Teresa đã kể. Teresa không bao giờ nghĩ đến việc kể cho em trai mình nghe những chuyện như vậy. Ginger là một đứa trẻ đáng yêu, và giữ anh khỏi những điều không hay là bản năng thứ hai của cô. Bên cạnh đó, có những điều sẽ là đúng đắn khi kể cho một người bạn gái nghe, nhưng sẽ thành mất lịch sự nếu lặp lại. Có vài chuyện nếu kể cho người chồng yêu quý hay em trai sẽ trở thành thuốc độc. Những người phụ nữ tốt thảo luận với nhau nhiều việc theo cách những nhà nghiên cứu bệnh dịch xác định và lần ra bệnh mà không báo cho dân chúng biết. Đây là việc của phụ nữ với nhau.
Đàn ông sinh ra đã không thích hợp với việc này và nên được bảo vệ khỏi những chuyện này, cũng như là phụ nữ thì không cần phải xuống mỏ. Đàn ông quá ngây thơ để tiếp cận với những chuyện như vậy.
“Nói anh nghe đi, Addy.”
Đã đến lúc tiêm chủng. Adelaide hít một hơi thật sâu.
“Người mẹ đã tự tử. Đó chính là con gái ông Mahmoud, người đã bỏ nhà đi theo
Piper. Mahmoud đã từ bà ta. Con gái của họ, đứa có giọng hát hay mà anh chở.”
“Kathleen…”
“Cô ta có con ngoài giá thú, một cô bé bị tật ở chân. Piper giết con gái của mình bằng cách không gọi bác sĩ khi con ông ta đang hấp hối trên giường sinh. Pearleen Campbell ở dịch vụ tang lễ đã tắm cho thi thể, có một vết tự cắt ở ngay bụng, Pearleen và Teresa cùng là chị em bạn gái với nhau nên Teresa đã được biết chuyện. Nhiều năm trước, Teresa giúp ông già Mahmoud đưa cho Piper một tờ chi phiếu nhiều tiền. Tiếp theo thì anh biết đó, cô ca sĩ đi đến New York, trong khi mẹ cô ta ở nhà thì ăn mặc rách rưới tả tơi. Cô ca sĩ đó là một ả lẳng lơ. Người mẹ chết ngay sau hôm cô ta được an táng, không có vết tích gì trên người bà ta nhưng mùi gas vẫn còn nồng nặc tỏa ra từ tóc bà ta khi bà ấy được mang đến chỗ Ferguson. Teresa đi dự đám tang người mẹ và thấy Frances cười ở đó. Đó là những gì em biết, nên chỉ có Chúa mới biết còn chuyện gì nữa hay không, hay con bé Frances đó đã lớn lên cùng những chuyện gì. Có lý do khiến cho nó bị điên, anh bạn ạ, nhưng không phải vì vậy mà nó thành vô tội.”
Lúc đó đã qua bữa tối. Khi ăn Ginger đã thay chiếc áo sơmi hình mặt trời, mặt trăng và sao để đánh dấu việc anh rũ bỏ mọi điều không hay. Bánh bắp dẹt và mật đường, đậu và bít tết Cape Breton - lấy bảy lạng rưỡi xúc xích hun khói; xắt mỏng; giờ thì chiên vàng lên. Một bữa tiệc mừng, dù việc ngừng chở rượu lậu cũng đồng nghĩa với việc thu nhập lại ít đi. Ginger chỉ nhận ra tầm quan trọng của nhà Mahmoud đối với gia đình anh khi Teresa mất việc, Adelaide mất khách, còn anh thì gần như mất hết phần hợp pháp trong công việc lái xe tải của mình. Và giờ đến phần bất hợp pháp của cô bé đó. Mọi chuyện gần đây tệ hơn bình thường đối với tất cả mọi người; nhưng so ra thì nhà Taylor có phần khá hơn. Ít nhất họ có một khoản riêng để dành cho con cái đi học sau này. Họ có thể bắt đầu sống bằng tiền đó.
Bọn trẻ đang ngủ. Teresa vừa đến cùng Hector, người đưa cho Adelaide một ổ bánh mì chà là với nụ cười nhểu nhão nước miếng.
“Cảm ơn, cưng!”
“Chồng em đâu, Addy?” Teresa hỏi.
“Đi New Waterford để nói với Piper chuyện thôi việc.”
“Nó nghỉ việc để làm gì?”
“Ngồi đi đã, em sẽ rót trà cho chị.”
Tạ ơn Chúa đã cho trà, và cho Teresa để con có người cùng trò chuyện. Hector ngồi trên xe lăn gật gù khi Adelaide kể Teresa nghe toàn bộ câu chuyện về Frances và kết thúc với câu: “Em đã nói anh ấy đừng đến đó, nhưng anh ấy nói thật chẳng ‘đáng mặt đàn ông’ nếu không dám nhìn thẳng vào mắt người ta thông báo mình nghỉ việc sau chừng đó năm.” Cô hớp một ngụm trà. “Ít nhất thì bây giờ mọi chuyện đã qua và đã kết thúc.”
Teresa không nói một lời.
“Trese?”
“Đúng đó em, con bé đó điên quá, tất cả họ đều dở hơi.” Nhưng Teresa hơi xao lãng và cô đứng dậy. “Chị muốn ngắm Carvery một tí trước khi về.”
Teresa thích ngắm nhìn Carvery ngủ. Thằng bé giống hệt Ginger lúc nhỏ và khi đó Teresa đã chăm sóc anh. Khi cưới Hector, cô đã mong muốn sinh một đứa con đáng yêu như Ginger. Carvery cũng đã thừa hưởng những nét của bố nó. Say ngủ trong chiếc áo sơmi mặt trời, mặt trăng và sao bé xíu của nó. Cậu nhóc đáng yêu, đáng yêu quá.
“Cô Teresa?” Evan thì thầm.
“Sao nào cháu yêu?”
“Thằng Leary khó ưa lẻn vào phòng giữ đồ và lấy mất cơm trưa của cháu, nó gọi đó là thức ăn da đen.”
“Rồi nó làm gì với thức ăn?”
“Nó nói nó quăng đi rồi, nhưng cháu thấy nó ăn hết.”
“Nó đói bụng đó.”
“Mẹ nói cháu nên lấy cái thùng đập cho nó một trận. Cô nghĩ cháu làm vậy được không?”
“Cô nghĩ nó không có đủ thức ăn để ăn.”
“Vậy tại sao nó không xin cháu mà lại gọi cháu bằng những từ bậy bạ chứ?”
“Nó xấu hổ nên nó cố làm cháu xấu hổ.”
“Cháu chẳng có gì phải xấu hổ hết. Hay cháu đập cho nó một trận te tua nhé cô?”
“Nếu cháu muốn làm một tín đồ Cơ Đốc thực thụ, thì mỗi ngày hãy bí mật để nửa phần cơm trưa của cháu vào túi nó. Những lúc khác cháu hãy quên nó và tập trung vào việc của mình. Cháu to lớn và khỏe mạnh. Cháu có thể đánh bất kỳ đứa con trai cùng tuổi nào cháu muốn, nhưng khi cháu làm vậy thì trò chơi trong trường sẽ là ‘Ai đánh thắng được Evan’? Rồi những đứa lớn hơn sẽ tìm đến cháu và khi thầy cô đến thì cháu sẽ là người bị phạt. Lớn lên cháu có muốn làm một võ sĩ quyền Anh không?”
“Không ạ, cháu muốn làm bác sĩ thú y cơ.”
“Vậy thì hãy quên việc đấm đá và tập trung học hành đi. Cháu sẽ thắng nhiều đứa trong bọn chúng, bởi vì, cháu yêu à, hầu hết bọn chúng sẽ không đi được đâu ngoài lòng đất đâu.”
“Hoặc vào nhà máy thép.”
“Đúng vậy.”
Teresa quay xuống lầu. “Chị đã bảo Evan đừng đánh nhau, nó hỏi chị.”
“Tốt lắm, em kêu nó hỏi chị đó.” Adelaide tin rằng mọi trẻ em nên có đủ những người lớn yêu thương chúng xung quanh để một người có thể khuyên chúng nên đánh nhau, một người can ngăn chúng và một người khuyên chúng đừng quá lo.
Teresa cùng Hector ra về. Vẫn còn sớm, họ còn chưa chơi bài nữa. Adelaide đứng ngay cánh cửa đang mở và nhìn họ đi về. Nói đến bất cứ chuyện gì dù là một nhánh nhỏ của nhà Mahmoud cũng làm cho Teresa đau khổ. Mình phải làm gì đó thú vị cho Trese mới được. Mình sẽ đan cho chị ấy một cái khăn choàng. Tuy nhiên việc đó hơi khó một chút vì Teresa chỉ luôn muốn cho đi. Chị ấy thấy ngại khi nhận lấy bất cứ thứ gì về mình.
Teresa đẩy Hector xuống con hẻm về nhà để được hoàn toàn yên tĩnh một mình.
Cô bị sốc vì đó là Frances Piper. Đứa cháu gái không được công nhận của Mahmoud. Một nữ quái có nét mặt thanh tú cùng những lọn tóc rối bù và những chiếc nhẫn của bà Mahmoud. Bằng cách nào đó nó đã chui vào nhà - nó đủ nhỏ con để làm vậy - và ăn trộm giữa thanh thiên bạch nhật để trả thù. Nó đã lấy đi công việc của mình. Danh dự của mình. Danh dự của em trai mình. Nó lấy đi miếng ăn của gia đình em mình. Và giờ nó đang cố lấy cả em mình.
Giờ Teresa chưa thể nói cho Adelaide nghe chuyện về những món nữ trang được.
Nói ra chuyện đó cô bạn gái thân nhất của cô khi chuyện về Ginger đang khiến cô ấy đau đầu ư? Không. Làm vậy sẽ giống như đổ tất cả mọi vị đắng vào một chiếc cốc để bạn thấy mình phải uống nhiều bao nhiêu. Teresa thấy chóng mặt khi nghĩ về chuyện đó, tức giận sẽ làm cô mất lí trí mất - Ôi Chúa ơi, Chúa kính yêu, làm ơn đừng bắt con phải căm thù. Xin Người cai trị những kẻ độc ác và điên rồ để con có thể an tâm chăm sóc gia đình con, amen.
Ngay khi đang cầu nguyện, Teresa cũng nhận ra một điều thật ghê tởm. Đêm hôm nọ cùng với Adelaide trong hẻm, Frances đã nhận ra cô. Vậy nghĩa là nó đang theo dõi mình. Trong suốt thời gian ở nhà Mahmoud mà mình nghĩ chỉ có mình mình. Đứa con gái đã cười trong đám tang của chính mẹ nó. Teresa rùng mình. Và nó cũng theo dõi mình khi mình nhảy và hát bài hát của mẹ.
Tên trộm đáng sợ nhất không phải là tên lấy cắp những thứ tầm thường.
Ginger vẫn chưa về. Đã mười một giờ đêm. Adelaide cứ cố dối lòng mình. “Anh ấy ghé quán Beel để đánh một ván bài, anh ấy thua nhẵn túi nên quyết định chạy một chuyến cuối cho Piper với giá gấp đôi, anh sẽ gọi về ngay thôi.” Dẫu vậy cô vẫn rất lo sợ vì cô biết thực sự là “Nó đã có được anh ấy.” Sau giai đoạn dối lòng là đến giai đoạn bực tức, “Mình ngu quá, mình là đồ ngốc chẳng biết gì cả, anh ta có thể sắp xếp và qua đêm với con nhỏ da trắng dâm đãng chết tiệt đó,” khi cô biết rằng “Nó bệnh hoạn, nó nguy hiểm, giờ nó đang ở cùng anh ấy.”
Lúc sáu giờ tối hôm đó, Jameel và Boutros chạy đến chỗ Piper làm rượu lậu trong rừng.
“Tên khốn da đen đến và bảo nghỉ việc rồi,” Jameel nói khi đang bước ra bên cửa khách của xe.
James khinh thường những kẻ dùng từ “da đen”. Một người văn minh không nên dùng đến những tiếng lóng của nhà chứa khi muốn nhấn mạnh việc gì.
Tất cả những gì James nói trong suốt quá trình chuyền rượu cho Jameel hết thùng lớn đến thùng nhỏ và Jameel lại chuyền tiếp cho Boutros. Boutros lại ném chúng vào sau chiếc Kissel Brougham tám xilanh mới cứng đã bỏ hết ghế và kéo hết màn lên chỉ vỏn vẹn mấy từ, “ở chỗ nó có nhiều lắm.”
James nhìn Jameel càng ít càng tốt. Anh tiếc rằng công việc làm ăn của anh lại cần phải liên lạc với loại người này. Chòm râu đen ngắn ngủn tương phản với nước da vàng nhợt nhạt, mái tóc đen bóng loáng và mùi mốc của bánh mì chiên. James khinh bỉ Jameel cứ hết “da đen này” đến “da đen nọ” vì anh thừa biết tên Jameel sợ phát khiếp việc bị coi là người da màu. Đàn ông mà để nỗi sợ hiện rõ ra ngoài là một kẻ ngốc. Hơn nữa, James nghĩ, dù Jameel không đen, nhưng chắc chắn hắn là người da màu, vì rõ ràng là hắn không trắng. James biết ơn vì mấy đứa con gái của anh đều rất đẹp. Nhưng rõ ràng chúng đã thừa hưởng một xu hướng bệnh tật từ mẹ chúng, Materia, cho nên Kathleen mới giống người da màu hơn. James vừa nhận được thêm một thùng sách nữa. Anh đang miệt mài đọc sách của Tiến Sĩ Freud để cố tìm ra nguyên nhân của sự trái khoáy ở trường hợp của Kathleen. Freud gọi phụ nữ là “châu lục đen”. James hoàn toàn đồng ý với cách gọi đó. Anh không ghét những người da đen, anh chỉ không muốn họ ở gần dòng dõi huyết thống của anh.
“Ông sẽ phải đi ba đến bốn chuyến đó,” James nói khi đang đếm tiền.
“Này Jimmy, ta nên mua một chiếc xe tải riêng và để một trong mấy thằng con trai tôi lái.” James để Jameel gọi anh “Jimmy” vì thà như vậy còn hơn nghe tên “James” thốt ra từ cái miệng đầy mỡ của hắn. Ngoài ra, khi để ai đó gọi bạn không-phải-bằng-tên-thật thì mỗi khi hắn ta gọi bạn lại nhớ đến hắn khốn kiếp ra sao.
“Tôi không cần có đối tác, Jameel, anh mua đi, tôi sẽ thuê.”
Rượu đã chất đầy hết phía sau xe và Boutros đóng cửa thùng xe lại. James nhìn thấy hình bóng Materia ở thằng nhóc đó. Cùng một sự trống rỗng - đứng đó nhìn mình chằm chằm như thể có gì muốn nói, rồi lại thôi. Bởi vì không có gì để nói, đầu nó không hề có một ý nghĩ nào. Chứng ngu dần của gia đình đó, đó lại là chuyện khác.
Boutros nổ máy xe. James leo vào bên cạnh. “Hẹn gặp anh vài tuần nữa nhé, Jimmy.”
“Tốt hơn là nên gặp nhau sau một giờ nữa.”
“Để làm gì?”
James cúi xuống cửa sổ đang mở bên phía hành khách. “Tôi đã thuê Leo Taylor vì tôi biết tôi có thể tin tưởng được anh ta trong việc mua bán, và trước khi tìm được một người khác đáng tin cậy tôi muốn cá nhân ông phải chịu trách nhiệm.”
“Anh nói gì vậy anh bạn? Boutros sẽ làm việc đó.”
“Ông sẽ phải đi cùng cậu ta.”
“Anh tin một thằng da đen hơn tin con trai tôi, phải vậy không?”
“Đây là chuyện làm ăn, Jameel. Tôi mong sẽ gặp lại ông ở đây sau một tiếng nữa hoặc chấm hết.” James đứng thẳng lên khỏi khung cửa sổ.
Jameel thò đầu ra, “Mẹ kiếp mày Piper, đồ khốn tự cao tự đại chết tiệt, mày có biết mày đang cung cấp gái điếm họ Piper cho quán tao không? Và cả chuyện nó đang ăn nằm với cái đuôi quý báu của mày, Leo Taylor nữa?”
James liếc qua tấm kính chắn gió nhìn Boutros nãy giờ cứ nhìn anh. Jameel cười khẩy. James không thể nào đụng đến hắn khi một tên to lớn đang ngồi ở đó.
“Anh đang nói về ai vậy, Jameel?” anh điềm tĩnh hỏi.
“Frances con gái mày đó,” hắn đáp với một nụ cười bạn tốt.
“Tôi không có đứa con gái nào tên như vậy hết.” Trời ạ, hắn bình tĩnh thật.
“Nếu một giờ nữa anh không quay lại đây, Jameel, tôi sẽ coi như chuyện buôn bán của chúng ta đã kết thúc.”
Anh quay người và bước thật điềm tĩnh về phía cái lều.
Jameel tức giận, hắn nhô cả đầu lẫn vai ra khỏi cửa sổ, “Ai cũng đều chơi nó hết rồi, anh bạn ạ! Theo tao đoán thì chỉ còn mỗi mày là chưa chơi nó thôi, hay có khi mày chơi nó rồi cũng nên?”
Boutros rồ ga làm đầu của Jameel đập mạnh vào thành xe sơn vàng bên ngoài. “Mẹ kiếp!” Boutros lãnh đủ một loạt cú nhéo đau điếng vào tai nhưng cậu dường như không để ý, cậu đang bận quan sát James đang khuất dần vào trong cái lều qua kính hậu.
Bên trong lều, James uống rượu trở lại sau mười ba năm. Chuyện làm ăn giữa anh và tên Jameel này sẽ kết thúc sau vài giờ tới. Sau đó anh sẽ cầm một khẩu súng trường và đi đến chỗ Leo Taylor để nói chuyện.
“Chậm thôi, mày sẽ khiến cho mấy tay cảnh sát cưỡi ngựa rượt theo cho xem.” Boutros không thèm phản ứng.
“Tao nói chạy chậm lại.”
Nhưng Boutros vẫn cứ chạy đều đều bảy mươi cây số trên giờ trên Low Point.
Boutros không nói một lời trong ba chuyến chở hàng tiếp theo, việc này khiến Jameel không vui chút nào vì đã quen được nghe “Dạ cha, đúng vậy thưa cha” mỗi khi hắn ngừng nói. Jameel giận dỗi nên ngồi lại trong xe để mình Boutros đi lấy rượu từ Piper, người lúc nào cũng say và câm như hến. Đó là cách một kẻ enklese có được mày, Jameel nghĩ, bằng sự im lặng. Họ dùng sự lạnh lùng như băng, họ thông minh nhưng không giống con người cho lắm. Không có cảm xúc. Nhưng khi chuyện tương tự xảy đến cho Boutros con trai hắn, hắn lại không nghĩ đến “im lặng” mà là “đần độn”.
Boutros bình tĩnh được là vì cậu đã quyết định tối nay sẽ hành động. Cậu sẽ lấy tiền mà cậu đáng được nhận từ két sắt của ba cậu, và cậu sẽ đi đón Frances và hai đứa sẽ lái xe đi. Đến bất cứ nơi nào con bé muốn đến. Quên cái nông trại đi, quên mẹ cậu đi, đó chỉ là mơ ước trẻ con, người trưởng thành trong cậu cho biết rằng cậu cần phải nhanh chóng đưa Frances ra khỏi nơi này. Ở đây có rất nhiều gã cần phải bị giết, và kẻ đầu tiên trong số đó là cha ruột của cô ấy. Thứ đàn ông gì lại ruồng bỏ chính con gái mình kia chứ? Frances là một viên kim cương, dù đã trao qua nhiều bàn tay dơ dáy, bẩn thỉu nhưng vẫn không bao giờ bị lu mờ. Những kẻ đã có cô không thể nào để lại tì vết gì bởi giá trị của cô cao hơn bọn chúng rất nhiều. Cứng rắn, vô vọng, bị lãng quên. Những điều này hiện rõ trong giọng nói và trong đôi mắt của cô, cô đang chờ đợi một người thợ mỏ mạnh mẽ và ngoan cường tìm xuống bên dưới đó và kéo cô lên mặt đất nơi mọi giá trị của cô có thể được tỏa sáng.
Ngay trong tối nay Boutros phải đón được cô, trước khi có chuyện gì xảy ra, chuyện gì thì anh vẫn chưa biết. Cậu thấy khó chịu kinh khủng khi nghe cha cậu nói lời cay độc với Piper về chuyện đã ngủ với con gái của ông ta. Boutros biết rằng chuyện đó có thể có thật. Bởi vì Frances dám làm mọi thứ cô ấy muốn ngay dưới mũi cha cô, nên chắc Piper biết cô đã bị hại, và ông ta biết được là vì chính ông ta đã hại cô ấy. Nhưng Boutros biết rằng thứ mà Chúa đã âu yếm tạo ra thì không dễ gì có ai có khả năng hủy hoại. Job đã chứng minh được điều đó. Ác quỷ có thể thử, nhưng hắn sẽ chẳng thành công.
Tại sao Adelaide lại tin Ginger khi anh nói anh phải đi nói chuyện rõ ràng giữa đàn ông với nhau với Piper? Bởi vì cô đã quá mệt mỏi việc không tin anh. Khi đã mệt mỏi thì con người ta thỉnh thoảng làm điều mà bình thường họ không làm. Materia chợp mắt ngủ với cái đầu đút vào trong lò nấu. Đó không phải kiểu của Adelaide. Khi đã mệt, cô thôi không gặm nhấm sự thật nữa mà thầm ước chưa bao giờ làm gì đúng đắn. Đây là chuyện xảy ra khi Adelaide ngừng khó khăn trong một giây.
Nếu không quá vội như vậy thì có lẽ cô sẽ chạy ra ngoài và đổ hết bữa tối vào nhà vệ sinh, nhưng cô không có thời gian, nên cô run rẩy bước đến tiệm tạp hóa Beel ở góc đường. “Tối giờ bà có nhìn thấy chồng tôi đâu không ạ?” là một câu hỏi tu từ. Bà Beel đi ngay đến nhà Adelaide để trông chừng lũ trẻ trong lúc cô đi lo giải quyết vấn đề. Wilfried Beel ở đó với mái đầu bạc trắng rất triết học. Ông đề nghị chở cô đi bất cứ đâu cô cần đi.
“Tôi sẽ báo ông biết sau, Wilf.”
Cô đi ra và cuốc bộ đến nhà Teresa.
Đầu đêm hôm đó, Ginger nhìn thấy có ánh sáng dưới gara sau khi đặt Carvery vào trong cũi. Anh ra ngoài và mở hai cánh cửa lên trên cặp đèn pha xe tải sáng rực. Anh đứng yên một lúc, nhất thời không nhìn thấy gì, và rồi nghe thấy tiếng khóc thút thít.
“Xin chào?” anh nói.
Lại tiếng thút thít khe khẽ.
Tiếng đó phát ra từ cabin. Ginger mở cửa tài xế và nhìn thấy một bóng đen ngồi rúc vào cánh cửa còn lại. Một giọng nói khẽ cất lên, “Đừng nói với ai em ở đây.” Cổ họng anh giật lên vì sợ hãi. Là cô. Theo bản năng anh tắt đèn và chúng chậm rãi mất dần ánh sáng.
“Em sợ lắm,” cô nói, giọng nghẹn lại sau hai bàn tay ôm lấy mặt.
“Anh sẽ không làm hại em đâu.”
Cô nói gì đó anh không hiểu, chỉ vừa đủ nghe và biến âm bởi nỗi buồn.
“Em không ở lại đây được, Frances.”
Tiếng khóc lại vang lên - yên lặng, đều đều theo nhịp, không còn đam mê gì nữa. Như tiếng một đứa trẻ thường xuyên khóc cho đến khi ngủ thiếp đi, và tỉnh giấc và giờ không còn khóc thành tiếng nữa vì không còn sức lực gì.
“Chuyện gì vậy?”
Tiếng nấc nhẹ, giọng nói nhão nhẹt và yếu ớt, “…đánh em.”
“Cái gì?” anh nói, chân bước lên bậc thang. Cô sợ hãi lùi lại khỏi anh.
“Suỵt suỵt, Anh không đánh em đâu, có chuyện gì vậy?”
“Em bị đánh rồi.”
“Chuyện gì xảy ra vậy?”
“Em không kể được.”
“Em kể được. Nhưng Frances, em không ở đây được, đi vào nhà nào.”
“Không-g-g” Nỗi kinh hoàng mới, những giọt nước mắt mới.
“Làm sao anh giúp em được nếu em không chịu vào nhà?”
“Hãy đưa em đến một nơi an toàn.”
“Nơi nào.”
“Một nơi mà ông ấy không bắt được em.”
“Ai?”
“Cha em.”
“Frances. Cha em đánh em hả?”
Không có câu trả lời. Chỉ có tiếng bàn tay lau nước mũi.
“Ông ta đã làm gì?”
Giờ cô nói hơi chín chắn hơn một tí. Dũng cảm. “Em đã khiến ông phát điên lên.”
“Nói anh nghe ông ta đã làm gì em.”
Giọng cô đanh lại. “Là lỗi của em.” - khịt mũi - “Em không ngoan, cha nói đúng. Sao mọi người, sao anh lại phải quan tâm đến em, em là đứa hư đốn trong mắt mọi người.”
Ginger tìm được một que diêm trong túi áo. Khi anh đốt diêm lên, cô lùi lại và lấy tay che mặt, “Không!”
Anh nhìn cô, co rúc trong góc, thật quá mong manh. Anh đưa tay ra, nhẹ nhàng kéo một tay ra khỏi mặt cô và, ngay trước khi que diêm tắt ngấm, “Ôi Chúa Ơi.” Anh kinh hoàng. Ai có thể làm được một chuyện như vậy chứ?
“Đừng nhìn, em xấu lắm.”
“Em không xấu.”
“Em xấu, anh đi đi.”
“Em bị đánh. Anh sẽ giúp em, để anh đi gọi vợ anh.”
“Đừng!” Nó rít lên.
Cuộc đời cô phụ thuộc vào chuyện này. “Không ai được biết. Em đến đây tối nay là vì em chỉ có thể tin mỗi anh. Nếu có ai khác biết, nếu ông ấy biết em ở đâu, ông ấy sẽ tìm đến và giết em.” Nó hít thở thật sâu. “Nếu anh không muốn giúp em cũng không sao đâu, em hiểu mà, anh đã có đủ rắc rối rồi, dù sao cũng cảm ơn anh.” Cửa hành khách lộc cộc mở trong bóng tối.
“Đợi đã, đợi đã -”
Cô ngừng lại, hai chân buông thõng.
“- em cần đi đâu?”
“Cách New Waterford khoảng năm dặm. Không ai biết nơi đó hết, nó là một cái mỏ than cũ. Em đã có tiền và thức ăn rồi. Nếu em có thể ở lại đó vài ngày, ông ấy sẽ nghĩ em đã rời khỏi hòn đảo này. Sau đó em có thể đi nhờ đến bến phà và ra đi một cách an toàn.”
“Đi đâu?”
“Chỉ đi thôi.”
Anh lưỡng lự.
“Quên chuyện đó đi,” cô nói. “Xin lỗi đã quấy rầy, ông Taylor.”
“Anh sẽ đưa em đi.” Im lặng.
“Anh nói anh sẽ đưa em đến đó, Frances.”
“…Chúa phù hộ cho anh.”
“Đợi anh một chút thôi.”
Boutros bình thản ngồi sau tay lái. Họ đang đi về hướng Sydney, đó là chuyến cuối cùng của đêm hôm đó, mặt trời đã lặn từ rất lâu rồi, một ngày nóng không chịu được. Nếu Frances đồng ý, hai đứa sẽ đi đến tận British Columbia. Anh muốn trồng cây. Cây anh đào. Và nho, để làm rượu. Ý nghĩ về vườn cây ăn quả của riêng cậu, và Frances tự do đi tung tăng giữa những hàng cây có nhiều cành đang cho hoa, cho trái, những giàn nho trĩu nặng - cậu tưởng tượng cảnh nhét gạo và thịt cừu vào lá nho trong vườn của chúng, cậu thích được nấu ăn, nấu bất cứ món gì có thứ này bọc trong thứ kia. Lái xe là một nơi tuyệt vời cho việc mơ tưởng.
Boutros không thích bạo lực. Những việc cậu vẫn làm cho cha cậu chỉ là vì công việc. Hầu hết bao gồm việc đi vào đám nhốn nháo bạo lực của những gã khác và dập tắt chúng, giống như lần tìm cái công tắc trong một cái hầm lộn xộn và tối tăm. Thường cậu phải đánh họ thì mới làm được việc đó. Rất hiếm khi cậu nổi giận. Dù mới hôm qua cậu vừa nổi giận với Taylor trên đường xe lửa xong. Boutros tha cho hắn là vì nghĩ cho bà Taylor. Bà ta là người chăm chỉ và không đáng trở thành một góa phụ. Và Taylor có vẻ đã học được một bài học và đã rút lui.
“Chúa ơi, chạy chậm lại đi, cái thằng ngu!” Jameel đã mất hết dũng khí.
Phía trước họ xuất hiện chiếc xe tải của Leo Taylor. Nó phóng vèo qua họ bên phía gần đất liền của đường Shore. Cú nhá sáng dài một giây của đèn pha đã chụp cho Boutros một hình ảnh mà giờ đang chuyển thành hình trắng đen qua lớp phim trên mắt cậu: Frances đang ngồi trong cabin nhìn thẳng vào cậu, mặt đầy những vết bị đánh đập. Taylor ngồi sau tay lái, cười với cô.
“Mày đang làm cái quái gì thế hả!” Jameel chụp lấy bảng đồng hồ và bị dội lại vào ghế hành khách đau điếng như bị kính đập vào lưng - “Mẹ kiếp!” - và chiếc Kissel lạng ra khỏi cú vòng ngược và đuổi theo chiếc xe tải khiến cho những thùng rượu phía sau xe chao mạnh.
“Leo Taylor bắt được Frances rồi.”
Jameel hét to, “Vậy thì mắc quái gì chứ?” và bắt đầu tát Boutros.
Boutros giơ một tay lên để giữ được tầm nhìn, họ đang gần đuổi kịp chiếc xe tải.
“Cô ấy là chị họ của con.”
“Nó là một con điếm!”
“Đừng nói về cô ấy như vậy.”
Jameel phá lên cười. Boutros run lên.
“Mày kết nó hả nhóc con? Hử? Mày kết con điếm đó? Mày chết mê chết mệt nó à? Ha ha.”
Boutros chớp mạnh mắt.
“Giờ mày sắp khóc đúng không, hả đồ khóc nhè?” Nước mắt đã đọng trên mi Boutros. “Ê thằng nhóc yếu ớt, đồ nhóc con hèn nhát, ê, bé trai của mẹ sẽ khóc bây giờ sao, hử? Khóc đi nào, khóc đi -”
Đầu Jameel làm bể tung tấm kính chắn gió, che mất tầm nhìn của Boutros. Cậu ngó ra cửa sổ để nhìn đường vừa đúng lúc để lách ra khỏi đường đi của một chiếc xe chở các nữ tu đang đi đến. Một tay cậu vẫn đang nắm phía sau cổ của cha mình khi chiếc Kissel lao ra khỏi đường, lao qua những con đường mòn và chạy dọc vách đá ở tốc độ tám mươi cây số trên giờ cho đến khi địa hình đột ngột chuyển sang không khí yên lặng. Jameel đã chết trước khi họ va xuống đá bên dưới.
Các nữ tu quay đầu và rồi chạy ngược lại, để ba người ở lại để kiểm tra tình hình trong khi ba người còn lại chạy về New Waterford để gọi xe cấp cứu. Khi vị nữ tu chơi bóng bầu dục vừa đặt chân xuống mép nước, chỉ thấy có một người đàn ông, cổ ông ta còn nguyên tuy nhiên tình trạng vết thương của ông rất nghiêm trọng. Xác người đàn ông còn lại được tìm thấy vào ngày kế tiếp. Máy trưởng đã không xoay xở để kịp thời dừng đoàn tàu lại, tuy nhiên gã đàn ông to con nằm chắn ngang trên đường ray đã chết từ trước đó rồi.
“Anh vừa mới nói chuyện với Piper xong và đã vòng sang phải về nhà” Ginger nói với Adeline vào khoảng hơn chín giờ.
“Em yêu anh…”
Anh cảm thấy không thoải mái khi nghe cô gọi tên riêng của mình như thế, tuy nhiên anh không nói dối vì mục đích của cá nhân anh, và lúc này đây anh có lý do của riêng mình - để bảo vệ cô gái bị đánh đập đang đợi anh trong xe tải. Mấy ngày nay, cô ấy đang dự định đi khỏi vùng núi đá này, anh lờ mờ cảm thấy mình như đang nói dối vậy.
Đó là một đêm đầy sương mù bao phủ, tuy nhiên Ginger lại nhìn thấy rất rõ Frances trong khi họ cố gắng vượt qua các đống lửa tại nhà máy thép. Máu trào ra từ mũi cô gái, tràn xuống nhân trung và môi trên của cô. Môi cô rách toạc và vẹo sang phía bên trái. Mắt trái của cô sưng húp và bầm đen. Lão Piper đó còn tồi tệ hơn cả một ông bố khắc nghiệt. Điều này đã giải thích cho mọi chuyện. “Có chuyện gì với anh vậy?” cô hỏi, và trong một vài giây kế tiếp anh không thể bắt kịp câu chuyện cô đang nói đến vì mải tập trung xem các vết thương của cô.
“Tối hôm qua” anh ngập ngừng, “anh không biết phải nói sao nữa”. Anh bỗng cảm thấy đỏ bừng mặt. “Anh đã đi theo em về nhà, dọc theo con đường mòn. Vì anh có vài điều muốn hỏi em.”
“Điều gì vậy anh?”
“Ừ bây giờ thì anh biết câu trả lời rồi, anh chỉ muốn biết em tại sao em lại cứ quanh quẩn bên anh suốt ngày như thế thôi.”
“Bởi vì anh là người đàn ông tử tế duy nhất mà em từng quen biết.”
Ginger cảm thấy xấu hổ. Hiện giờ Sydney đang ở sát ngay đằng sau họ. Anh nhấn ga tăng tốc trên con đường Shore.
“Em xin lỗi vì đã phớt lờ anh trong phòng tranh”, cô nói. Sẽ tốt hơn cho Lily nếu nó không biết gì về chuyện này”.
“Đó là em gái của em à?”
Anh quay đi. Trời tối, đủ để nuốt chửng đi những vết thương và rọi sáng đôi mắt cô. Cô nhìn anh bằng cái nhìn bình tĩnh và tinh khôn. Đó giống như một lời đề nghị yên bình - anh đừng tiếp tục cố gắng và cũng đừng tiếp tục chiến đấu nữa. Em biết. Em hiểu có một điều gì đó sâu sắc ở phía sau anh. Nhưng dường như cũng không phải. Nó ẩn sâu bên trong con người anh. Hãy để cho em chạm vào nó.
“Lily”, anh lẩm bẩm. “Cái tên thật đẹp”, anh tự nói với chính mình một cách ngu ngốc. Bao tử anh cồn cào cứ như vừa uống cạn một ly rượu nồng và giờ này đang nó lan tỏa ra khắp cơ thể anh. Anh lắc đầu. “Chúng ta cùng một phe mà, phải vậy không?”, anh cười tủm tỉm.
“Anh đang nghĩ gì vậy?”
Giọng cô lớn đến nỗi anh cảm thấy thẹn tuy nhiên anh vẫn giữ được vẻ bình thản. “Ý của anh là hai đứa mình với hai khuôn mặt bầm dập như vầy, thật là một cảnh tượng.” Anh quay đầu lại, cười với cô, và cô cũng mỉm cười, khi đó anh nhìn thấy tín hiệu một chiếc xe khác đang muốn vượt qua. Frances để ý ngoài đường hiện lên một luồng sáng do đèn pha của một chiếc xe tải xoáy vào chiếc Kissel.
“Thứ này có thể đi nhanh hơn nữa có được không?” Cô tò mò muốn biết.
Tại nhà của Teresa, Hetor khẽ lắc lư người theo nhịp nhạc rock bên cạnh lò sưởi ở gian bếp và lặng lẽ quan sát cuộc trò chuyện. Adelaide đang lo lắng điên cuồng.
“Em phải đến đó thôi, Teresa, con bé đó đã chiếm được anh ấy mất rồi, ôi Chúa ơi!” Cô khom người xuống và ôm lấy bụng.
“Bình tĩnh nào, bây giờ hãy nghe anh nói những việc chúng ta phải làm, Addy. Đầu tiên chúng ta phải tìm hiểu xem cô ta có ở nhà hay không bởi vì nếu ả vẫn ở nhà thì chúng ta không có gì phải lo lắng cả - Chúng ta sẽ nhờ Wilf Beel chở đi, và bây giờ là những việc chúng ta sẽ phải làm tiếp theo, nghe nhé: Anh sẽ đi đến cửa và nói rằng lão Madmoud đang hấp hối và rất muốn gặp các cháu gái của mình trước khi nhắm mắt, và nếu Piper bảo hãy quên chuyện đó đi, anh sẽ nói với hắn là có thể sẽ có liên quan đến một số của cải trong bản di chúc. Rồi anh sẽ lại bảo rằng Madmoud muốn hết thảy mọi người cùng đến hoặc không ai cả, nhờ đó chúng ta sẽ biết được nếu Frances không có ở nhà - và bây giờ, việc các em phải làm, các cô gái, là ngồi xuống đây.
“Khẩu súng của Hector đâu rồi?”
“Em định làm gì với nó?”
“Đừng có đặt những hỏi ngớ ngẩn nữa và bỏ những ý nghĩ ngu ngốc của em ngay lập tức.”
Hector trừng mắt với Adelaide rồi chỉ tay về hướng đầu tủ. Adelaide trèo lên đầu tủ, Teresa đưa tay giữ chặt gối cô lại.
“Chị cảnh cáo em, Trese.”
“Addy, đi nhanh lên nào “
Ái da, một chân đạp ngược lại đúng ngay bụng cô. “Ôi trời, em xin lỗi”. Adelaide kéo khẩu súng trường trên đầu tủ xuống. “Cảm ơn, anh Hector.”
“Khẩu súng đó không còn sử dụng được nữa đâu” Teresa kêu lên, trong lúc vẫn đứng yên trên sàn nhà.
Adelaide bắn thử lên trần nhà, Teresa thét lên.
“Vẫn còn tốt” Adelaide nhảy xuống khỏi tủ, cũng bình tĩnh như mọi người trong tình thế khó khăn này.
Teresa nói nhanh. “Được rồi, Addy, chúng ta sẽ gọi Wilf và nhờ anh ấy lái xe chở tụi mình đi tìm cho đến khi nào tìm được họ mới thôi, không cần phải đến nhà họ đâu, anh nói đúng, ả không có ở đó, ả đang ở cùng với anh ấy, cho nên bây giờ hãy bình tĩnh và lên xe nào.
Trong lúc Jameels dỡ lô hàng cuối cùng đi khỏi, Jame đang uống stone - cold. Anh trèo vào chiếc Buick mui trần close-coupled 1932 không một chút tì vết và cho nổ máy xe. Chiếc xe màu nâu vàng. Những tên găng-xtơ thường hay đi xe màu đen. Anh chạy xe với tốc độ trung bình về New Waterford. Anh đã quyết định không tìm một khẩu súng trường. Cách giết người xáp lá cà tốt nhất là dùng lưỡi lê. Súng trường chẳng qua chỉ là dụng cụ hỗ trợ mà thôi, nó chỉ hữu dụng khi nào lưỡi dao bị mắc kẹt vào nòng súng và trong trường hợp đó anh sẽ phải nổ súng tự do. Tuy nhiên một thời gian sau khi bạn đã quen dùng nó, bạn sẽ phải tự biết cách để không gây ra tiếng động. Cả phía dưới lẫn bên trên.
“Dừng lại.”
Một cành thông cong sà xuống chắn ngang và cạ sát vào xe tải của Ginger. Đây thậm chí còn không thể gọi là đường nữa. Anh tắt máy xe.
“Chúng ta phải đi bộ từ đoạn này rồi.” Frances nói. “Nắm tay em với.”
Anh làm theo. Phải vậy thôi, xét cho cùng thì chỉ có cô biết đường đi còn anh thì không và đó là một đêm tối mịt mù. Quả là một bàn tay gầy guộc và mềm mại.
Mercedes đang lau dọn cây piano. Cô vừa lấy hết các bức tượng nhỏ, khăn lót xuống và đang chuẩn bị tra dầu chanh thì cha cô bước vào, “Đưa cho ta chìa khóa của cái rương nào, Mercedes”.
Ông nồng nặc mùi rượu. Mercedes cảm thấy bất an.
“Có chuyện gì vậy cha?” Mặc dù hỏi như vậy nhưng cô biết cô chỉ cần đưa cho ông chìa khóa là đủ rồi.
“Đừng lo con yêu, sẽ không lâu đâu.”
Ông bước một lúc hai bậc thang một cách từ tốn. Mercedes đóng nắp chai dầu chanh lại, chùi tay và theo ông leo lên căn gác xép phía trên. Ông đang quỳ cạnh những món đựng trong rương bị rơi tung tóe trên sàn.
“Cô-Gái-Nhà-Quê này bị làm sao vậy?” Ông nhẹ nhàng hỏi, trong lúc cầm nó lên tay.
“Con lỡ tay làm hỏng nó trong lúc lau dọn, cha à, con không cố ý làm như vậy đâu ạ.”
“Ta sẽ cho con một con búp bê khác, Mercedes.” Ông tiếp tục tìm kiếm. “Ta xin lỗi đã làm mọi thứ lộn xộn.”
Trixie nhảy xuống từ mép cửa sổ và đụng phải bức tường khi đến bên ngoài. Mercedes cảm thấy lạnh cả người. Giọng của ông rất lạ, chỉ khác với con người bình thường của ông khoảng chừng hai inch, bằng cách nào mà nó lại tăng lên khi ông uống say? Mùi hương này lại làm cô nhớ đến những đau khổ luôn luôn hiện hữu trong mình, trong cả những khoảng thời gian được xem như là tốt đẹp nhất của cô.
Ông tìm thấy thứ mà ông muốn tìm ở sâu dưới đáy rương, “Á”. Ông đã chuẩn bị để tìm thấy nó khi cần thiết một cách nhanh chóng, nhưng nó sắc như dao cạo, tuy vậy ông nhớ đã đặt nó bên trong rương vào thời kỳ chiến tranh. Được lắm, ông nghĩ thầm trong lúc mút mấy giọt máu ở đầu ngón tay.
“Cha định đi đâu vậy?”
Ông ấn mạnh đầu cô xuống, trước đây ông chưa bao giờ từng chạm đến cô. “Con phải ở nhà và coi chừng em.”
“Mọi người làm gì trên đó vậy?” Lily ở ngay dưới chân cầu thang gác xép.
“Quay trở về giường ngay” Mercedes ra lệnh.
James chạy nước kiệu xuống cầu thang gác xép, với lên gọi Mercedes, “Cha phải đi tìm Frances”.
“Không!” Mercedes thét lên.
Lily ngạc nhiên - âm thanh vừa nghe thấy còn quái lạ hơn cả việc cha hôn lên đầu nó với con dao dài đang cầm trong tay. Mercedes nhảy vào ống thông hơi của cầu thang gác xép, dùng lòng bàn tay của mình bám vào thành tường đẩy người tới trước. James tóm lấy cổ tay cô khi cô vừa xuống đến hành lang, ông suýt nữa để rơi lưỡi lê, và bây giờ nó đang nằm ở một góc. Lily không thể rời mắt khỏi nó.
“Cha sẽ không làm gì Frances đâu. Ta chỉ theo dõi cái thằng đang đi cùng với nó, chỉ có vậy thôi.” Ông bắt đầu cảm thấy hơi men bốc lên. “Ôi, đứa con gái bé bỏng của tôi…”
Ông ngước nhìn lên phía đầu cầu thang dẫn ở sảnh trước và ông đặt lưỡi lê của mình trên tay vịn. “Ta sẽ quay lại ngay.”
Mercedes dùng một cánh tay che mắt Lily lại. Sau đó cô đẩy cha mình xuống dưới cầu thang.
Mặt đất dốc đứng. Họ vừa leo lên đỉnh đồi nơi có hầm mỏ cắt vào bên trong ngọn đồi.
“Cần phải trèo lên thôi,” Frances nói.
“Anh sẽ đi phía trước,” hắn rẽ về phía ngọn đồi và bọn họ bắt đầu.
Cô thở hổn hển và tay cô tuột khỏi tay anh, anh đưa tay tóm lấy ống tay áo đồng phục của cô, “Em có sao không?”
“Không sao.”. Cô tăng tốc. “…Ôi”
“Đợi đã.” Anh dùng tay nhấc bổng cô lên. Nhẹ tênh như một sợi lông vũ. Cô quàng tay qua cổ anh, và nói với vẻ trịnh trọng: “Cám ơn anh.” Anh bế cô lên đồi.
“Kia rồi.” Anh nhẹ nhàng đặt cô lên mặt đất trước một khung cửa tối mù mịt.
“Giờ thì ông có thể đi được rồi, thưa ông Taylor.”
Anh do dự. Anh không thể bỏ mặc cô gái này tại đây một mình trong đêm tối, anh có nỡ nào làm như vậy hay không?
“Chờ đã, Frances, em không có một cái đèn pin nào à, hay là em có mang theo một cái chăn hoặc thứ gì khác vào đó không?
“Anh đừng lo cho em, em sẽ ổn thôi. Tạm biệt anh nhé.”
Cô quay đi, hình bóng cô nhạt dần rồi bị nuốt chửng ở cửa khu hầm mỏ.
“Frances?”
Nhưng cô không đáp lời anh. Anh thu người lại, chồm người xuống dưới chỗ tối đen: “Frances!”
Ngập ngừng. Anh nhảy xuống cái hố.
Anh dùng một bàn tay lần dọc theo bức tường ẩm ướt, tay còn lại duỗi thẳng, anh đi chầm chậm, chầm chậm, lắng nghe từng bước chân của cô, “Frances?” Tại sao anh kêu thật khẽ, và tại sao cô không trả lời? Từng bước, từng bước, từng bước một trên sàn gập ghềnh. Anh rời tay khỏi bức tường và đốt một que diêm lên không có gì khác ngoài một bên đang được bóng tối bao trùm và phía bên dưới, đôi giày bụi bặm của anh đang nhìn lên một cách đầy tin cậy. Ánh sáng vụt tắt. Từng bước. Từng bước. Bây giờ thì anh dang rộng cả hai tay, tiếp tục bước đi trong chừng hai phút dài dằng dặc. Chân anh vấp phải một hòn đá làm cho nó lăn đi một đoạn, sau đó là ba khoảnh khắc im lặng trước khi có một tiếng đánh sầm chát chúa xuống mặt nước. Âm thanh nghe như ai đó vừa cắt cổ họng Quỷ Sứ không chỉ là một rãnh nước nhỏ, mà là nước sâu. Tim anh đập mạnh, anh vội chộp lấy vách tường nhưng nó xa hơn anh nghĩ, và bị ném mạnh về phía khoảng trống trước mặt - anh bị trượt chân, và cảm thấy đau rát ở vai. Mặt sàn gần hơn anh tưởng tượng. Anh nằm cuộn lại một lúc cho cơn đau dịu lại. Chỉ có Chúa mới biết được một cái hồ nước nằm trong căn hầm tối tăm này sâu thăm thẳm như thế nào - đầu tiên là chìm sâu xuống dưới nước, kế đó là sự hoảng loạn cùng cực, lịm dần từ dưới lên, đó là những gì bạn phải trải qua khi bị chết chìm cho dù bạn có là một tay bơi cự phách đi chăng nữa.
Anh hít một hơi sâu và hoàn hồn trở lại ngay, vẫn còn tốt hơn là “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu cô ấy cũng rơi vào đây?” Anh không nghe tiếng quẫy nước, nhưng lúc đó cô rơi xuống quá nhanh, việc này có thể xảy ra trước khi anh bước vào khu mỏ, có nhiều khả năng là như vậy lắm hoặc cũng có thể là - anh đốt que diêm cuối cùng lên, đúng là có một cái hồ lớn, mặt nước đen ngòm. Có thể cô ấy đã nhảy xuống hồ với ý định trầm mình tự sát tối nay. Que diêm tắt. Anh cẩn thận hạ thấp người xuống sàn, duỗi người ra và cho một cánh tay sâu xuống bên dưới mặt nước, trong đầu anh thầm cầu nguyện, tim anh tràn ngập nỗi sợ hãi, cố gắng cảm nhận xung quanh. Lạnh buốt. Chẳng có gì. Có vật gì đó mềm mại. Ôi lạy Chúa Giêsu! Anh lần lượt thét lên như đứng trên xỉ than, giật phắt lên cùng với một vật gì đó thình lình tóm chặt lấy cổ tay anh, dưới mặt nước, đầu và vai ngập sâu, eo, đầu gối bám chặt mép hồ trong lúc anh giữ chặt một cánh tay vô hình bằng cả hai cánh tay mình, kéo cô gái trồi lên cùng với anh và xé toạc bề mặt hồ với một âm thanh mạnh mẽ và đau đớn.
Cô gái không mảnh vải trên người. Anh tìm nách cô và cho cô nằm trên nền đất gồ ghề, cô không trả lời, mắt nhắm nghiền, anh cảm thấy điều đó, anh tìm miệng cô, bóp mạnh miệng, hít một hơi dài - những người chết đuối vẫn thường kéo theo vị cứu tinh của họ cùng chết chìm với mình - luồn một tay đỡ dưới đầu cô và ấn mạnh miệng anh lên miệng cô, mở vết thương ở miệng cô, anh nếm được mùi máu và chính điều này làm anh cảm nhận được sự sống, vẫn còn âm ấm, anh hà hơi vào cô, cô phun nước ra và bắt đầu nức nở.
“Em có sao không, Frances, anh không cố ý làm em đau đâu, bé cưng, đây rồi.” Anh muốn cởi áo khoác của mình đắp lên người cô nhưng quần áo của anh ướt sũng nên thay vào đó anh ôm cô trong vòng tay.
“Em xin lỗi,” cô khóc nấc lên, “Em xin lỗi,” và dựa vào người anh.
“Không sao đâu, không sao mà,” Anh vỗ nhẹ lên vai cô.
Một lúc sau cơn run rẩy dịu lại, cô mân mê gáy anh, hôn đôi má anh rồi phớt nhẹ qua tai anh, “Cảm ơn anh”, cô tựa đùi mình giữa hai cẳng chân anh rồi bất giác đưa lưỡi lướt qua miệng anh, “em xin lỗi.”
“Đã ổn cả rồi em”.
“Xin anh đừng bỏ lại em, xin anh đó, em rất sợ bóng đêm”, cô tựa sát hơn.
“Không phải anh bỏ rơi em, chỉ là __” anh cảm thấy xấu hổ khi nhận ra điều này thật khó khăn, cho đến giờ anh vẫn chưa biết rằng anh khao khát cô, vẫn không hay biết, “xin lỗi,” và anh buông cô ra.
“Rồi sẽ ổn thôi mà,” cô thì thầm, hôn lên môi anh, di chuyển sát bên người anh “Ôi…”, cô rên lên và đưa mấy ngón tay bấu thật chặt vào vai anh. Anh kéo cô vào sát người thêm nữa tuy không có ý định gì khác, cô lại thở dài và cúi xuống, “sẽ ổn cả thôi mà Bánh Gừng bé nhỏ”, giọng cô thật êm ái, cô nhẹ nhàng kéo quần anh xuống. Anh rên lên. Đau khổ và khao khát, bởi vì như vậy cô đang ở trên anh và anh chỉ có thể cựa quậy ở phía bên trong cô mà thôi.
Không được phép nhắc đến tên riêng của Ginger ở đây. Frances biết được tên anh đã là một điều tồi tệ lắm rồi.
Khi Mercedes rời tay ra khỏi mắt Lily, Lily nhìn thấy cha đang nằm sóng sượt dưới chân cầu thang. Lưỡi lê cũng đáp xuống một cách an toàn phía trên cách ông sáu nấc thang. Nghĩ lại, Mercedes dự tính khả năng ông không rơi xuống ngay bất kỳ vị trí nào cạnh lưỡi dao là rất cao, xét về vị trí tay ông trên thanh vịn cầu thang và cả khả năng ông có thể trượt lên món vũ khí lúc đang rơi xuống. Hơn nữa, ông đã chỉ ngà say nên cú ngã có vẻ không nguy hiểm. Tuy nhiên Mercedes phải đối mặt với sự thật là chính cô đã chỉ đẩy ông xuống. Rồi sau đó mới tính toán. Cô đã không đọc quyển Dr. Freud. Cô không tìm sự an ủi trong tiềm thức. Cô dám nhận lãnh trách nhiệm. Trong phút chốc cô quyết định chấm dứt sự ăn năn của mình trong mỏ than. Nó đột ngột xuất hiện trong cô khi cô gào khóc. Đúng rồi, cô sẽ thú nhận tội lỗi đã đẩy cha mình. Nhưng bây giờ cô đã hiểu được rằng trên thế gian này chưa từng có việc làm tốt đẹp nào mà không được đồng hành bởi tội ác. Đó là căn nguyên tội lỗi đã giáng xuống chúng ta. Chính vì vậy mà chúng ta mới được gọi là con người. Bản thân hoàn cảnh gây nên lỗi lầm chính là nỗi thống khổ mà con người chúng ta phải gánh chịu.
Chúa Trời không đưa cô đến thế gian này để làm ngơ trong khi đứa em gái Frances của cô sẽ bị giết. Nản chí là một chuyện. Nhận thức sai lầm là một chuyện. Và bị đâm bằng lưỡi lê lại là một chuyện khác. Dám vượt qua. Đủ mạnh mẽ để gánh lấy tội lỗi mình gây ra khi ta phải làm việc cần thiết phải làm. Đó chính là vị thánh trong gia đình này nhưng mình lại không phải là người như thế.
Chúa trời đã tạo ra Mercedes để trở thành một vị quan tòa. Không ai yêu mến bạn vì lẽ đó. Không giống như đứa trẻ tật nguyền vẫn hằng ảo tưởng. Người mà Mercedes yêu thương. Không giống như người phụ nữ vẫn tận tụy giúp vui cho mọi người. Người mà Mercedes quý trọng.
Mercedes đang đứng như trời trồng, nhìn chằm chằm vào James. Những người có đôi mắt nâu thường mang lại sự ôn hòa đến khắp mọi nơi. Và ấm áp. Hãy ngẫm lại mà xem.
Lily cẩn thận đi xuống cầu thang bằng chân trần, cả hai tay vịn lấy thanh tay cầm. Nó cúi người xuống chỗ James. Một hàng nước bọt trào ra từ khóe miệng ông. Nó vuốt tóc ông và hôn lên má ông. Hai hàng mi ông khẽ run lên. Cô ngước lên nhìn Mercedes và nói: “Cha vẫn chưa chết.”
“Tốt rồi. Bây giờ thì đi ngủ đi.”
Nằm cuộn tròn trong cái rương vừa được James mở ra, Trixie nghe tiếng Frances gọi tên mình và trườn ra ngoài, bước se sẽ xuống cầu thang, băng qua hành lang và đi vào căn phòng của Frances dùng chung với Lily. Nhưng Frances không có trong đó. Chỉ có mình Lily đang quỳ ngay cạnh cửa sổ, tay chống vào khung cửa nhìn ra ngoài. Trong khi Trixie vừa chạm vào lòng bàn chân của Lily thì Mercedes đi vùn vụt băng qua phòng ngủ, lưỡi lê lóe sáng lên trong tay cô. Phía bên trên ngay trong bóng tối của căn gác mái, Mercedes vội vã dồn mọi thứ vào bên trong rương rồi đậy nắp rương lại để tránh cho chúng bị ẩm ướt và tránh bướm đêm.
Frances mở choàng mắt ra. Cô vừa có một giấc mơ về Trixie. Frances gọi mãi gọi mãi nhưng Trixie đã bị nhốt trong một cái rương và ngạt thở dần. Nó chỉ là một giấc mơ. Không được cử động. Không được đánh thức anh chàng đang mê mệt này của mình.
Frances không muốn đứng dậy và đánh mất đi cảm giác tuyệt diệu phía bên dưới chân mình. Và cô sẽ phải đứng lên khi anh tỉnh dậy bởi vì anh sẽ làm ầm lên để rời khỏi nơi này, tự hỏi không biết anh đã làm điều quái quỷ gì, và nếu anh bỏ đi, cô sẽ phải bám theo anh, vì cơn đau của cô không có ý định đi bộ năm dặm để trở về nhà. Những gì cô hy vọng không phải là tình trạng nhạy cảm của chính mình.
Cô sẽ nằm yên như thế thêm một vài giờ đồng hồ nữa.
“Ngọ ngoạy ngón chân nào.”
James lầm bầm và đưa đầu ra. Mercedes đổ thêm nhiều nước đá nữa lên mặt ông và ông giật ngược trở lại theo phản xạ.
“Tốt rồi,” cô nói. Cô vòng ra phía sau ông, quàng hai tay qua nách ông, kéo ông lên ngồi trên ghế.
“Giúp chị với”, cô ra lệnh. Ông khuỵu gối xuống. Cô đỡ ông đứng dậy, sau đó lôi mạnh ông như kéo một khúc cây vào tiền sảnh, rồi ông ngả xuống tràng kỷ và tiếp tục mê man. Cô khoanh tay nhìn ông một lát, sau đó cô chạy ra ngoài và quay lại với một cái mền. Cô trải nó lên người ông.
Đều đều hiện về trong tâm trí cô là những mảnh ký ức mà cô và Frances không thể chứng kiến cùng một lúc. Cô đã lưu giữ ký ức này ở phía trên hàng tá những sự kiện còn đọng lại trong tâm trí của mình. Không thể chôn vùi. Ngay chỗ kia là nơi mà cô sẽ lại phải nhìn thấy nó mỗi khi đi ngang qua cánh cửa đang mở. Nhưng khi cất nó vào căn phòng phía sau nhà, cô vẫn có thể tin rằng nó thuộc về một trong những thứ lặt vặt cũ kỹ. Miễn là cô đừng nhắc đến nó, nó cũng sẽ không bị chú ý đến bởi những tay nghiệp dư và cả những chuyên gia theo cùng một cách thức tương tự theo kiểu: một cái khung sơn son thiếp vàng phủ đầy bụi, một bức họa bị quên lãng - ai mà có thể nghĩ ra nổi tại đây ẩn giấu cả một kiệt tác bên trong.
Nhưng nó vừa chuyển mình. Nó đang tự giằng co để thoát ra khỏi cái khung ảnh, và giờ đây nó đang đến gần hơn, gần hơn nữa - dừng lại đi. Quá xa như vậy đã đủ lắm rồi.
Mercedes mở nắp chai dầu chanh và nhặt miếng giẻ lau bụi lên. Nếu cô cứ phải nhìn thấy những thứ đã hiện ra trước mắt cô, cô cần phải cầm một thứ gì đó trong tay.
Nó ở đây ngay trong phòng khách này. Bức tranh được nhặt ra từ đống lặt vặt mang tên “Cha và Frances trên Chiếc-ghế-bập-bênh”. Nhưng ở đây chưa từng hiện hữu chiếc ghế bập bênh nào cả, cả phòng này hay những phòng khác cũng vậy. Chỉ có mỗi chiếc ghế tựa màu xanh nhạt. Mercedes dùng miếng giẻ trắng lau đi lau lại, mang đến một vẻ sáng bóng cho cây đàn piano bằng gỗ dụ.
Đó là vào cái đêm Kathleen mất. Tôi bị đánh thức khi Frances bước ra khỏi giường. Bạn có thể nhìn thấy dấu chân của con bé in trên tấm trải giường và cái gối trắng như tuyết. Tôi nhìn ra ngoài con sông nhưng con bé cũng không có ở đó. Tốt. Có thể nó đã xuống dưới nhà tìm thức ăn. Đến giờ có lẽ con bé đã đói lắm rồi, đến bây giờ nó vẫn chưa có gì bỏ bụng, chỉ ăn trong tưởng tượng suốt hai ngày nay. Mình cũng sẽ đi xuống đó, và làm món bánh mì quế. Tôi hình dung ra cảnh mình và Frances cùng ăn bánh mì quế và uống Coca ở bàn ăn trong nhà bếp, nhưng tôi chưa mặc áo khoác hoặc mang dép, đó là nguyên cớ vì sao tôi biết tôi không chắc chắn lắm về món bánh mì quế. Có chuyện gì đó tồi tệ đang xảy ra khi Frances rời khỏi giường. Tôi không sợ bóng tối. Tôi có hai bím tóc dài tết theo kiểu Pháp. Trong khi đang đi xuống cầu thang, tôi nghe một âm thanh giống hệt như tiếng kêu của một chú chó con. Tôi bước xuống cầu thang, đi theo hướng có đèn đến hành lang bên phải trước nhà. Phía bên trái là gian bếp tối om và một cái mùi nghe cứ như mùi nội tạng của một ai đó. Trong phòng khách có một cái đèn đọc sách đang được bật sáng, ánh đèn màu vàng, chụp đèn có nếp gấp đứng đằng sau chiếc ghế tựa. Tôi bước đến lối đi. Tôi đã đúng, chính là cái đèn đọc sách. Frances ở đó và đang nhìn tôi. Tôi tự hỏi không biết nó đã chờ tôi ở đó bao lâu rồi. Khi đó mái tóc vàng của nó xoăn tít và không có nếp nhăn. Nó đang ngồi trên đùi cha, nghiêng nghiêng, đối diện với tôi. Đong đưa. Cha đang đong đưa dỗ dành cho nó ngủ. Nhưng vô ích, nó vẫn còn thức. Cha không nhìn thấy tôi vì ông vẫn đang nhìn mái tóc của nó. Miệng cha khẽ hé ra, có dạng trăng khuyết ngược. Gương mặt cha trông cứ như ông đang bị sóng biển kéo giật lùi về sau, đầu rướn về phía trước để tránh bị nhận chìm. Tay phải cha thả lỏng, hầu như không chạm đến mái tóc vàng tơ của Frances lúc nó trở mình trên cái gối, và tay trái xoa lên xoa xuống áo ngủ của nó cứ như một con rối. Cha nói gì đó tôi không nghe rõ, sau đó thở dài, rồi lại “con gái bé bỏng của tôi”, và nhai đi nhai lại từ “xinh đẹp”, rồi ông lại đẩy nó xuống kẹp vào giữa hai chân và dùng một tay chặn trên ngực nó, tay còn lại vẫn còn ở dưới, hai cha con lúc này cùng hướng về một phía nhưng Frances quay mặt lại cố giữ liên lạc với tôi bằng mắt. Đầu cha giật ngược lại và ông lại dùng hai chân kẹp nó lại lần nữa, một lần nữa, ba lần và một nửa, cho đến khi cha run lên dữ dội. Đó là khi nỗi sợ hãi rời bỏ ông và ông làu nhàu gì đó với nó rồi nức nở trên mái tóc của nó. Frances và tôi nhìn nhau cho đến khi cha thiếp đi như thế, rồi sau đó nó trườn ra khỏi tay cha và đi đến chỗ tôi. “Không đau chút nào đâu,” nó nói. Rồi tôi chợt nhìn thấy một phần da thịt của cha xuyên qua lỗ thủng nhỏ trên chiếc quần của ông. Tôi lấy chiếc khăn quàng cổ được móc bằng tay trên tràng kỷ và tôi đặt nó lên người ông mà không dám quay nhìn lại, thật khiếm nhã khi nhìn chằm chằm như vậy. Có tiếng kêu xèo xèo từ gian bếp. Tôi không thích mùi nấu bầu dục. “Em cũng không thích” Frances nói. Chúng tôi quay trở lên trên lầu và tôi cất giọng hát ru đến khi tôi cũng ngủ thiếp đi. Ngày kế tiếp, Frances mút bột rồi đến mẹ qua đời trong gian nhà bếp.
Đàn piano bóng loáng như một cái gương nhưng Mercedes không nhìn vào hình bóng mình trong gương, cô đang nhìn trân trân vào cha đang mê man dưới cái chăn.
“Mercedes?”
“Em đang làm gì vậy Lily?”
“Frances có ở nhà không?”
“Không có.”
“Dạo này chị có gì lo lắng à?”
“Ừ.”
“Em biết chị ấy ở đâu rồi. Ambrose đã kể cho em nghe.”
Lily không thể cho Mercedes biết bằng cách nào mà nó biết được nơi mà Frances đã đến những lúc không về nhà. Bởi vì như vậy nghĩa là nó đang ba hoa chuyện của nó với Frances về việc nó sợ đến tè ra quần vào cái ngày chúng đến khu mỏ cũ kiểu Pháp khi mà hai đứa vẫn còn là Chim Non và Thanh Nữ. Đó cũng có nghĩa là nó sẽ để lộ ra chính Frances là người đã kể cho Lily về Ambrose tại nơi chốn đầu tiên, cả nơi ở của thằng bé hiện giờ, và cả việc thằng bé đã làm những gì vào ban đêm. Nếu Mercedes khám phá ra chuyện đó, nó sẽ bắt đầu đối xử với Frances như thể một nhân vật vô cùng đặc biệt đối với Chúa trời. Frances không phải như vậy. Nó có thể chạy trốn. Hay tồi tệ hơn, nếu Mercedes biết được Ambrose chính là món quà từ Frances, cô có thể nghĩ rằng Ambrose chính là tội lỗi.
Mercedes biết Frances hư hỏng, nhưng cô vẫn yêu quý Frances, bởi vì thật khó để mà trở thành một đứa con ngoan trong gia đình, và lại càng khó hơn nữa khi vẫn cứ mãi là một đứa con hư hỏng. Lily hiểu điều đó. Còn có ai trên thế giới này mà Lily yêu quý hơn Frances? Thậm chí không phải là cha. Còn có ai trên cõi đời này mà nó sợ hơn Mercedes, người mà ly ca cao của chị ấy đã được rót đầy gấp hai mươi lần ly ca cao dành cho Lily trong buổi sinh mười bốn tuổi của nó, khi mà chuyến đi của họ đến Lourdes cùng với một đám người đặc biệt khác đến để tắm tại con sông của chị em chúng ta và để lại mọi thứ đặc biệt của họ tại dòng sông này mãi mãi? Lily tự hứa với lòng mình, với cái chân nhỏ bé của nó, rằng - điều thứ nhất - nó sẽ không bao giờ để cho nó bị cắt bỏ. Và - điều thứ hai - nó sẽ không bao giờ để nó biến mất ngay cả với bất kỳ phép màu nào. Cái suy nghĩ phản bội lại một phần thân thể kiên cường của mình, phần thân thể lúc nào cũng gắn kết và đồng hành cùng sải bước ngay cả khi nó bị tàn phế. Có thể nói rằng, đây chính là phần thưởng của bạn: không ngừng trở thành - trở thành, thay vì, một cặp song sinh giả tạo cho một cái chân lành lặn. Cái chân hỏng của nó trở nên đặc biệt bởi vì nó quá mạnh mẽ. Tuy nhiên, Lily cũng hiểu rằng đối với những người khác thì nó đặc biệt chỉ vì nó yếu. Không một ai, kể cả các chị em trong gia đình này, lại để mặc cho họ vẩy nước thánh lên đôi chân nhỏ bé của nó.
Mình không thể cho Mercedes biết sự thật về Ambrose, Lily nghĩ thầm. Mercedes yêu quý mình vì mình đặc biệt với Đức Chúa Trời. Nếu chị ấy nghĩ mình rất gần với Quỷ sứ, mình có lẽ sẽ bỏ chạy mất thôi. Mình có thể nhìn thấy điều đó từ cái móng tay bị gãy của Mercedes cách mà cha đã bị thương ở ngay dưới chân cầu thang.
“Ở đâu?” gương mặt Mercedes không biểu hiện chút gì cảm xúc.
Lily ngước nhìn Mercedes và nhìn thấy vết sưng trên thấp thoáng hiện ra trên trán của cô. “Ambrose bảo là đừng có lo lắng. Chị ấy đang đi với một gã không tệ chút nào đâu.”
Công bằng mà nói Lily chắc chắn rằng ít ra phần sau đúng với sự thật. Hôm nay cha đang đi làm, Mercedes đã xin nghỉ phép để lau dọn phòng cầu nguyện ở nhà thờ Mount Carmel và Lily đang viết nhật ký trong phòng riêng của nó - “Nhật ký thân yêu, cho phép chị tự giới thiệu nhé” - khi Frances chạy xuống khỏi gác xép và băng ngang qua cánh cửa phòng ngủ, Lily thoáng thấy cô và gào lên, “Frances!” Nhưng Frances vẫn lọc cọc chạy xuống cầu thang tiền sảnh, năm bước cuối cùng nó phóng nhanh, nhảy mạnh xuống sàn và phóng cái vèo qua cửa. Lily chạy xuống cầu thang một cách nhanh nhất mà nó dám chạy, “Frances, có chuyện gì vậy?”, nó suýt trượt ngã và phải bám lấy thành cầu thang. “Frances!”, Lily thét lên.
“Frances!”, cô chế giễu, kéo mạnh cửa và ngẩng lên cười toe toét với Lily, nửa gương mặt bên trái đẫm máu, chiếc khăn quàng cổ cũng ướt sũng. Nước mắt Lily rơi lã chã nhưng Frances đã cho Lily biết sự thật, “Đừng có lo, Lily, không phải máu thật đâu.” Và cô bỏ đi.
Lily quay trở lên gác xép nhưng ở đó chỉ có một cái thùng than đá rỗng. Nó chạm vào mép thùng và trên ngón tay bỗng xuất hiện màu đỏ. Nó nếm thử. Muối và sắt. Cô rửa thùng than trong phòng tắm và mang trả nó về hầm rượu.
Lily không thể kể với Mercedes là Frances đã tự đánh mình. Mercedes có thể sẽ nghĩ rằng Frances đang mất trí. Đó có thể là nguyên cớ của sự đặc biệt của nó với Đức Chúa Trời.
“Mặc áo vào đi, Lily.”
Trước đây Mercedes chưa từng cầm lái. James luôn đỗ xe ở thì thứ hai nên luôn phải giữ thì thứ hai trên suốt cả đoạn đường, Mercedes ghìm chặt tay lái và chạy băng băng vào trong bóng đêm.
“Gương mặt chị ấy vừa bị đánh, nhưng không phải do người đàn ông kia làm”
“Chị biết, Lily.”
Lily liếc ngang qua Mercedes và nói một cách thận trọng: “Em đã nhìn thấy nó xảy ra như thế nào nè”
Mercedes nhìn lại: “Vậy hắn có thấy em chứng kiến chuyện đó không?”
“Em không nghĩ vậy đâu”
“Đừng có lo, Lily, hắn sẽ không bao giờ đụng đến con bé nữa đâu” - Lily suýt nữa buộc miệng nói, “Không phải cha làm đâu”, nhưng nó đã kịp thời dừng lại. Sương mù ngưng đọng và họ đang ở giữa một khoảng trống êm ái - có vẻ như là họ đã không hề di chuyển về phía trước, và cái xe giống như đang lắc lư qua lại tại chỗ. Mercedes lại nhìn bâng quơ về hướng kính chắn gió. “Mình sẽ không để cho hắn ta…”
Họ lặng lẽ di chuyển trong bóng tối một lúc. Bạn có thể chỉ ra mép đường ở đâu bằng cách nhìn ra cửa sổ cho đến khi bạn thấy một rặng thông chạy qua. Lily không thể hoàn thành nhiệm vụ này cho đến khi có một vật gì đó lạnh lẽo đặt xuống bàn tay kia của cô.
“Hãy cùng chị cầu nguyện cho cha nào, Lily.” Và Mercedes nắm chặt tay Lily.
“Hãy cầu xin Chúa tha thứ cho cha.”
“Bởi vì cha không biết ông đã làm những gì…” Lily nói.
“Hãy cầu nguyện một thập kỷ cho chuỗi tràng hạt nào.”
“Chị có mang chuỗi tràng hạt theo không?”
“Chúng ta không có chuỗi tràng hạt, chúng ta có niềm tin.”
Nhưng Mercedes cần phải có gì đó để đếm, vì thế cô đếm những nấc nhỏ trên cái vô lăng gỗ, mỗi nấc là một lời khấn nguyện, cho phép chúng lần giữa các ngón tay cô. Một nấc. Từng nấc. Từng nấc một.
Khi mà tay trái của Mercedes lần ba vòng trên cái vô lăng, tay phải của cô cảm thấy hơi ấm từ tay của Lily, cả hai đều lạnh lẽo.
Lưng của họ càng lúc càng đè nặng lên ghế tựa phía sau cho thấy con đường đang dốc lên. Từng gợn sương mù vuốt ve chiếc xe, và bỏ mặc nó cùng với thời gian, không gian và bóng đêm.
“Vẻ vang thay cho người cha, và Con Trai, và cho những Linh Hồn, vì chỉ mới bắt đầu, bây giờ và cũng có thể sẽ là__”
“Quẹo ở đây.”
“Đó đâu phải là đường, Lily.”
“Em biết.”
Họ lảo đảo và gầm thét vượt qua những nhánh cây đang gào thét cho đến khi đuôi của một chiếc xe tải xuất hiện trong ánh đèn pha của họ. Mercedes cảm thấy mắt và bụng của cô ướt đẫm. Cô đọc dòng chữ in trên đó “Vận tải Leo Taylor”.
“Anh ta không phải là người xấu đâu Mercedes.”
Ánh sáng chiếu trên chiếc xe tải mờ dần. Họ ra khỏi xe. Mercedes đã mang theo một cái đèn dùng trong hầm mỏ của cha. Cô bật nó lên.
Lily cảm thấy thật tội lỗi khi để cho Mercedes nghĩ rằng cha đã đánh Frances. Nhưng ngày xưa ông đã từng làm như vậy. Những sự thật không nghi ngờ trong quá khứ vẫn có thể được nhắc lại và không hề tàn lụi theo thời gian. Đó là vòng đời, có thể nói như vậy. Mặc dù Lily biết rằng người đàn ông ở cùng với Frances trong hầm mỏ đã không hành hạ chị nó, nó không mảy may lo lắng về điều đó. Trong các bộ phim, khi một cô gái để ý đến một anh chàng nào đó cô nàng sẽ trang điểm cẩn thận, nhấn lại phần mũi và tô điểm thêm một tí son. Nhưng anh ta là loại đàn ông nào mà đến mức độ một cô gái để làm cho mình quyến rũ hơn phải tự đấm mạnh vào mặt mình chứ?
Lily và Mercedes đi từ từ, dọn dẹp đường băng qua những thân cây, ghìm chặt lại cho người sau đi qua. Lily căng thẳng khi phải chỉ ra dấu vết của Mercedes đã đánh dấu vào một ngày tháng Mười Một khoảng ba năm về trước. Cô không chỉ những dấu vết đó ra cho Mercedes thấy. Vì suy cho cùng, bạn không thể để ý thấy những dấu vết đó trừ khi bạn đã được biết trước là chúng hiện diện ở đó. Frances khắc lên mỗi thân cây bằng cái kéo làm bếp. Cây kéo chẳng bao giờ thay đổi trong lịch sử cổ đại. Người Ai Cập cũng đã từng dùng kéo, màu mắt, nữ trang và cả thú cưng như mèo cũng hệt như chúng ta đang sử dụng, trong một quyển sách mạ vàng lộng lẫy mà Lily được Bố tặng vào dịp Giáng Sinh, quyển Bí Mật Của Vua Tút. Tuy nhiên họ vẫn chưa có vô lăng xe.
“Chị có nghĩ là người Ai Cập đã có vô lăng xe không, Mercedes?”
“Chị chắc rằng chị chưa từng biết hoặc cũng chưa bao giờ quá bận tâm về điều đó.”
“Em nghĩ họ có sử dụng nhưng nó quá linh thiêng nên họ không vẽ nó ra. Hoặc giả là họ muốn giữ cho nó thành bí mật của riêng họ.”
Mercedes dừng lại. “Còn bao xa nữa?”
“Chúng ta đã đi được khoảng phân nửa đường rồi.” Họ vừa mới đi qua khỏi cây có đánh dấu “R” - chữ thứ tư trong tổng số cả thảy bảy chữ, mỗi chữ được đánh dấu cách nhau bảy cây.
“Suy cho cùng thì,” Lily tiếp tục, “họ thờ phụng mặt trời và mặt trời thì tròn.”. Lily đếm bảy cây và sau đó lại dừng lại.
Mercedes hướng ánh đèn lên một cái rãnh ở vỏ cây nơi mà Lily đang nhìn.
“Em đang nhìn gì vậy?”
“O” Lily đọc. Sau đó quay sang Mercedes. “Chúng ta sắp đến rồi.”
Mercedes biết chắc rằng em cô đã được hướng dẫn trước. Cô nhìn vào mắt Lily, và Lily cảm thấy lưng cô bỗng trở thành một quyển sách được mở ra từ giữa sống lưng, vào một hành lang tối đen và dài vô tận tràn ngập những điều mà Mercedes khẩn cầu. Đây là cái nhìn của sự Tôn Kính. Cũng như cái nhìn của Lòng Trắc Ẩn, thật đáng sợ. Nhưng Lily đã học được cách để vẫn cứ là Lily khi phải đối diện với một cái nhìn như thế. Chị ấy giữ đôi mắt của mình theo cái cách mà bạn có thể khoanh tay khi đối diện với một ai đó đang gặp nguy hiểm như ngã xuống từ trên cao chẳng hạn: đứng yên lặng, điềm tĩnh . Con người hèn nhát này từ việc tự mình nhảy xuống và cả việc tự giết mình, vì một lẽ rằng họ chỉ muốn biết có thể có một ai đó ở bên dưới đang chờ đợi để đón lấy họ hay không. Cái cách mà Lily nhìn khi mà đôi mắt của nó điềm tĩnh theo kiểu này chính là cái nhìn của Lòng Trắc Ẩn và sự Tôn Kính, có thể được gọi là “ban phúc lành.”
“Em có mệt không Lily?” Mercedes hỏi nhỏ, và để cho lưng của Lily tựa sát vào.
“Em không sao. Chúng ta sắp đến rồi.” Và họ tiếp tục đi. “S.” Và cuối cùng là “E.”
“Trên kia.” Lily chỉ.
Mercedes rọi ngọn đèn đến chỗ mặt dốc đột ngột của ngọn đồi. “Tốt hơn em nên chờ ở đây, Lily.”
“Không. Em nên đi.”
Họ nắm tay và đi ngang qua ngọn đồi. Không như Frances, Mercedes thường để tâm đến các nhóm Hướng Đạo và đã học được cách để trèo lên một ngọn đồi dốc mà không bị té, và cách lội ngược dòng an toàn.
Mercedes biết rằng Frances không xa lạ gì bọn đàn ông, cô chỉ tự hỏi tại sao Frances có thể tránh thai trong một thời gian dài. Nhưng đêm nay thì khác. Để cha phải giận dữ, thì phải làm như vậy. “Khác nhau như thế nào ? “ Mercedes tự hỏi, miễn là James vẫn còn nằm sóng xoài dưới chân cầu thang. Cô nảy ra nghi vấn và dần dần tìm ra câu trả lời. Chính Lily đã nói rằng Frances không đi với một “gã tồi” đã gợi ý cho Mercedes. Chắc hẳn rằng Frances đang yêu. Lên kế hoạch chạy trốn với một người đàn ông, cho dù hắn ta có là ai đi chăng nữa. Nhưng tại sao lại phải chạy trốn ? Chắc chắn phải có trở ngại nào đó. Người đàn ông đó chắc hẳn đã lập gia đình rồi.
Như vậy mới là Frances, chạy trốn với một người đàn ông không bị ràng buộc và anh ta sẽ chăm sóc cho nó ? Một người nào đó, bất kể là đàn ông hay phụ nữ có thể chịu đựng Frances được trong bao lâu? Ai mà có thể yêu thương Frances ngoài Mercedes? Frances và người tình của nó sẽ sống ở đâu khi mà hắn ta đã có được mọi thứ? Hàng trăm, có lẽ sẽ là cách đây hàng ngàn dặm, cũng có thể ở một đất nước xa xôi nào khác? Frances cạn kiệt, không tiền cũng không có tình yêu, sẽ chết ở một nơi tha hương nào đó. Mercedes không thể chịu đựng ý nghĩ này. Điều này như đốt cháy cổ họng và sát muối vào mắt cô. Frances yêu quý. Frances bé bỏng, cô đơn, sẽ chết dần chết mòn mà không có ai ở đó để yêu thương nó vì chẳng có ai nhớ đến nó cả.
Mercedes đi lên ngọn đồi, họ gần như đã đến nơi. “Nhanh lên, Lily.” Cảm ơn Chúa Trời, cảm ơn chúa Giêsu, Mery và Joseph và tất cả các vị Thánh Thần, vì đã ban cho Lily khả năng tuyệt diệu này. Nếu linh cảm của Lily là đúng, và ngăn chặn Frances chạy trốn, đó sẽ là một kỳ tích thật sự. Vẫn còn đủ thời gian để đi gặp Tổng Giám Mục khi Frances an toàn trở về nhà.
Ngọn đèn cũ rọi sáng mép vòm - một rãnh nứt dài trên mặt đất, một cành cỏ dại, một vệt đá vôi và bên trong là bức tường mục rỗng. Những tác phẩm điêu khắc sẽ chẳng bao giờ tồn tại nổi ở một cái nơi như thế này, quá ẩm ướt.
Mercedes khẽ gọi: “Frances.”
Lily thì thầm, “Đường hầm có một khúc quanh, rồi đến một cái hồ sâu.” Cầu xin Chúa, xin người hãy cho đó là một người đàn ông tốt.
Họ đi vào.
“Frances”
Frances nhất định sẽ chạy trốn, Mercedes nghĩ, vì thế cô thật từ từ, chầm chậm, hướng ngọn đèn từ nơi này đến nơi khác, kiểm tra mọi ngóc ngách và mọi vết nứt. Lily vẫn nhìn xuống dưới chân, chờ đợi sự sợ hãi kéo đến khi Mercedes nhìn vào khu mỏ chết chóc, cái xác người lính. Nhưng nó đã không đến. Với quá nhiều sự khác biệt so với những gì nó nghĩ, Lily nghi ngờ, liệu khi đó chỉ là một giấc mơ hay không? Nó đã xảy ra thật sao? Liệu đó có phải là mình hay không?
Hành lang bắt đầu chuyển hướng sang phải.
Frances đã nghe thấy tên mình và đẩy Ginger đi khỏi đó. Anh thức dậy, lạnh người vì xấu hổ, và tràn ngập hối hận.
“Im lặng,” Frances kêu. “Có ai đó đang đến.”
Cô mò tìm xung quanh tảng đá nơi cô đã giấu bộ đồng phục.
“Ngồi yên ở đây, Frances, anh sẽ ra xem đó là ai.”
“Đó là chị của em và có trời mới biết được còn có người nào khác,” nó vội vã mặc quần áo vào.
Anh vô cùng bối rối. Ngay cả nước trong hồ còn chưa lạnh như thế này.
“Frances, anh không có ý lợi dụng em.” Cô cười trong lúc kéo mạnh đôi giày.
Lần này cả hai đều nghe tiếng gọi cô.
“Ôi lạy Chúa”. Anh cảm thấy tỉnh táo và cài cúc áo vào. Anh nghe tiếng bước chân nó bắt đầu bước đi. Ginger chạy vụt ra và bắt lấy cánh tay cô, thật mỏng manh.
“Ôi”. Cô dằn ra nhưng anh không để cho cô đi.
“Em sẽ đi đâu?”
“Về nhà.”
“Em làm sao vậy, cô bé?”
“Bỏ tay ra khỏi người em.”
“Anh xin lỗi đã chạm vào em, nếu anh mang lại phiền phức cho em, và nếu anh đã làm em tổn thương__”
Cô cười. Anh để cho cô đi khỏi đó.
“Xem kìa”- cô kêu lên -” Hãy quên chuyện này đi. Cả hai chúng ta đều đã có được điều mình muốn rồi.”
“Em muốn anh giúp em.”
“Anh đã làm, cảm ơn anh. Nếu chuyện đó không thành công thì có lẽ em đã sinh con, bởi vì rõ ràng anh không thể.”
Khi anh bắt được cô lần nữa, anh kẹp khuỷu tay cô về phía xương sườn. “Nhưng vậy là ý gì?” Anh bị sốc vì chính cơn giận của mình.
“Bình tĩnh nào, anh bạn, em sẽ không cần thứ gì khác từ anh. Và em sẽ không kể cho bất kỳ người nào khác nếu anh không muốn.”
Nhưng anh không để cho cô đi. Hơi thở nóng hổi của anh phả thẳng vào mặt cô. Anh cảm thấy mình có thể xé cô ra làm hai mảnh ngay lập tức, như vậy đó, và điều này làm anh thấy sợ. Frances thì hiểu rõ hơn. Nếu một người đàn ông muốn đánh bạn, thì đòn đầu tiên sẽ đến trong vòng ba giây. Đã hơn mười giây rồi, mà anh vẫn còn đứng yên trong bầu không khí nặng nề.
“Thôi nào, Leo. Anh thích như thế, em có thể nói như vậy đó.”
“Anh đã cứu sống em.”
“Cái mông của em, anh đã làm như vậy đó.”
Anh chùn bước, không muống tiếp nhận điều nay ngay.
“Vậy còn cha em thì sao, em có thể về nhà không, ông ấy sẽ giết em mất.”
Cô bắt đầu ra vẻ ngạo mạn và quý phái. “Cha em chưa bao giờ động đến em”. Anh để cho cô đi. Có ánh sáng xuất hiện ở ngay khúc quanh. Frances đi về hướng đó.
Anh chưa bao giờ thật sự thấy có bao nhiêu người đến với cô. Trong tất cả mọi chuyện, có lẽ điều anh xấu hổ nhất vẫn là ẩn nấp đằng sau, sợ hãi vì phải dựa dẫm vào lời hứa của Frances không kể ra sự việc. Nhưng điều gì sẽ xảy đến với gia đình anh nếu tối nay anh bị giết. Hổ thẹn và cơ cực.
Cùng với suy nghĩ về gia đình, Ginger chìm đắm trong những suy tưởng mà dường như đó là khói thuốc phiện đối với anh. Ở đó trong khu mỏ ẩm ướt, đầu óc anh lần đầu tiên thấy rõ ràng và thông suốt toàn bộ những điều mà anh không được biết trong một quãng thời gian dài. Kể từ ngày ở New York. Trái tim anh nặng nề, rỉ máu và đấu tranh dữ dội, nhưng đó là trái tim của anh. Anh cảm thấy rõ ràng sự hiện diện của con người mình trong từng phần tử nhỏ của cơ thể và cơ thể anh rõ ràng trông kiệt sức hơn so với hình dáng lần trước - hệt như cơ thể của người yêu dấu, một người tưởng chừng như đã chết từ lâu, bỗng trở về với dáng vẻ dãi dầu sương gió hơn xưa nhưng rất gần với bản ngã của anh ta hơn bất kỳ hình ảnh nào lưu lại trong ký ức hoặc trong tấm ảnh nào khác.
Anh tràn ngập niềm vui và phiền muộn khi lại được sum họp với chình mình. Lòng khoan dung.
Mặt trời sắp ló dạng. Đầu gối Adelaide khẽ run lên và cô không thể nén lại một cái ngáp dài. Teresa nhìn Wilfried Beel đầy ngụ ý. Wilf nói, “Có một cái buồng đi săn trước đây tôi thường dùng ở ngay cuối con đường này, nếu nó vẫn còn tồn tại thì rất có thể chính là điểm đó__”
“Đừng lo, Wilf,” Adelaide nói. “Hãy về nhà, có lẽ anh ấy đang đợi em ở nhà.”
Teresa cảm thấy nhẹ nhõm. Họ đã chở Addy đi vòng vòng suốt đêm và phủ lên người cô một lớp bụi đường, họ đã lái xe nửa đoạn đường đến Meat Cove, và cuối cùng cũng có kết quả. Teresa không lo lắng nhiều về cuộc tìm kiếm của họ rốt cuộc sẽ dẫn đến điều gì. Cô chỉ muốn giữ Adelaide tránh xa khỏi ngôi nhà của Piper nơi có khẩu súng trường kia thôi. Cô đã thông minh đột xuất, em dâu cô, Chúa trời đã phù hộ cho nó. Chẳng tốt đẹp gì khi phải nói rằng Ginger sẽ không chạm đến con quỷ cái đó khi bị nó mê hoặc.
Adelaide nói đúng. Khi họ đi vào trước ngôi nhà của cô, bên trong đủ sáng để họ nhìn thấu qua mấy ô cửa sổ của cửa cái hai lớp đã bị khóa chặt và thấy Ginger đang ở bên trong gara an toàn.
Khi Frances chào Lily và Mercedes trong khu mỏ cô chỉ nói, “Chị có mang theo xe hơi không?”
Mercedes cảm thấy nhẹ nhõm và không hề chú ý lúc đầu Lily lạc mất ở khúc quanh nơi Frances xuất hiện. “Lily, chúng ta đi về nhà nào.”
“Còn người đàn ông thì sao?”
“Hắn đã có xe riêng rồi,” Mercedes trả lời. Cô không hy vọng sẽ nhìn thấy những gì đang nằm nơi gần khúc quanh. Việc Frances bằng lòng bỏ nó lại đối với Mercedes là đủ lắm rồi.
Về đến nhà, Frances nhất định không chịu đi tắm, “Em đã tắm tối hôm qua rồi.” Khi Mercedes dùng đôi tay khỏe khoắn để ép cô, Frances phản kháng lại như một con mèo, bám chặt tay và chân vào bồn tắm cho đến khi Mercedes bỏ cuộc. Sau đó Frances rửa tay, mặt và chân trong khi Mercedes đứng chờ với một cái khăn sạch.
“Em yêu anh ta à?”
Frances chỉ khịt mũi.
“Em có định gặp hắn nữa không?”
“Cái gì, chị đang ghen tị hả, Mercedes?”
“Chị chỉ không muốn em bị tổn thương mà thôi.”
“Chị có đồng tính không đó, Mercedes, chị có bao giờ nghĩ về điều đó chưa? Có muốn không? Chúng ta có thể thử.” Frances cười nhưng cô chẳng thấy vui vẻ gì, chẳng có thứ gì khác có thể vui hơn, cô vừa trải qua cái cảm giác kiệt sức và tuyệt vời.
“Em có đói không?” Mercedes hỏi.
“Có.”
“Chị sẽ đi nướng bánh mì quế”. Và cô quay đi.
“Mercedes?”
Mercedes ngập ngừng ở cửa phòng tắm nhưng không quay đầu lại. Frances tiếp tục, “Từ nay em sẽ cố gắng tốt hơn. Em sẽ có một em bé khỏe mạnh.” Mercedes thở mạnh và cúi đầu.
“Mercedes?”
“Ừ?”
“Chúng ta có uống ca cao nhé?”
“Ừ, tất nhiên rồi.”
“Vào uống tách trà nhé?”
Wilf và Teresa lịch sự từ chối. Adelaide vào nhà, mệt lử.
Ginger đã pha sẵn trà và bánh quy, và anh đã tắm sạch sẽ và thay quần áo. Anh nói với vợ, “Addy, anh sẽ kể với em mọi chuyện, rồi em có thể nói với anh rằng em muốn anh đi khỏi đây.”
“Cho em một tách trà trước đã, Leo.” Cô chìm vào chiếc ghế trong nhà bếp để nghỉ ngơi và điều đó có ý nghĩa cô đã đi dạo thay vì lái xe suốt đêm.
Đến cuối câu chuyện, những đốm tàn nhang của Adelaide nổi rõ hơn bao giờ hết, nhưng cũng có thể do cô ấy quá mệt mỏi. Anh phá vỡ sự im lặng bằng một câu hỏi “Em có muốn anh rời khỏi đây hay không?”
“Không”
“Anh chỉ có thể ở lại nếu em tha thứ cho anh, nếu không, anh sẽ không thể”
Cô nhìn anh qua ly nước trà. Có vẻ như sự ảm đạm đã không còn trên gương mặt anh. Anh đã quay trở lại vẻ thường ngày. Cô rùng mình nghĩ lại việc anh ấy đã từng lạc mất chính mình và quanh quẩn ở một nơi hoang vu.
“Anh có thể tự tha thứ cho mình không?” cô hỏi.
“Anh nghĩ anh có thể. Bởi vì, em thấy đó, cô ta đã đi khỏi cuộc đời anh rồi.”
“Em tin anh.”
“Nhưng em có tha thứ cho anh không?”
“Em đã nói rồi.”
“Em nói __”
“Em tha thứ cho anh.” Cô ít khi khóc. Vì thế khi cô khóc, những giọt nước mắt cay sè như hạt tiêu.
“Anh xin lỗi,” anh nói.
“Đừng bao giờ rời xa em.”
“Không bao giờ, anh hứa.”
“Em yêu anh.”
“Anh yêu em.”
Cô cho một tay vào mái tóc mềm mại chỉ dài khoảng nửa inch của anh, ôm chặt vai anh, chìm đắm vào cái ôm của eo anh và cảm nhận được đôi cánh tay rắn chắc của anh trên lưng mình, cái ôm cũng mạnh như hình dáng bên ngoài của nó vậy. Họ ôm nhau, nghĩ đến những đứa con và hòa vào nhau với những ý nghĩ không bờ bến về những việc họ có thể làm cùng nhau, và những gì họ có thể dành cho nhau. Cô đưa tay vào hông anh. Trên lầu đứa bé đang thức dậy. Bình minh.