“Em biết sao mà em có một cái chân teo không, Lily?”
“Vì em bị bệnh bại liệt trẻ em hồi em còn nhỏ xíu nhưng Chúa muốn em sống tiếp.”
Đó là một buổi chiều thứ Bảy mưa nhiều. Frances và Lily đang chơi trò Xe Ngựa Kín trên giường Mercedes. Mercedes đang đi làm tình nguyện ở bệnh viện còn cha thì đến nơi Frances-biết-là-nơi-nào. Tấm trải giường có viền là miếng che xe ngựa và bên dưới nó là những đứa con của chúng: Hoa Hồng Bạch hầu, Hoa-Lan-Chuông-Tả-Tơi, Cúm Tây Ban Nha, Maurice và những đứa còn lại. Họ là một gia đình đi khai hoang đang đi về hướng Biên giới. Cuối cùng Lily cũng đã cầm được yên cương.
“Em mắc bệnh đó từ dưới sông.” Ngựa ngừng chạy. Lily chờ đợi.
“Em mắc bệnh đó từ dưới sông bởi vì mẹ đã cố dìm chết em ngay khi em vừa sinh ra.”
“Frances” - môi run run, đây là điều tệ nhất Frances từng nói - “Mẹ yêu em, mẹ không làm hại em đâu.”
“Em là một đứa trẻ da đen. Em và Ambrose.”
“Frances, cha nói là…”
“Ông ấy không phải cha em.”
“Phải mà!”
“Im đi, Lily, không thì chị sẽ không nói gì với em nữa đâu.”
Thầm thì, “Phải mà!”
Frances đứng dậy và đi ra phía cửa. “Thôi đừng bận tâm, Lily, vì rõ ràng em thậm chí còn không muốn biết cha ruột của em là ai mà.”
“Có, em có muốn.”
Frances nhìn Lily một lúc lâu, như đang ước lượng khả năng chống chịu sự thật của con bé. Sau đó: “Cha em là một người da đen đến từ Coke Ovens ở Whitney
Pier.”
Lily tiếp nhận điều đó.
“Mẹ cố nhấn nước em là bởi vì em đen.” Mỗi khi Frances kể về sự thật, câu chuyện luôn thật hơn một tí.
“Chị đã cứu em, Lily.”
Lily cắn môi mình. Môi của Frances đã cứng đờ đến trắng dã. Cổ họng cô là một sợi dây thừng trắng.
“Khỏi chết đuối hả?”
“Chết đuối, không phải chết đuối, đồ ngốc.”
Frances quẳng mấy con búp bê xuống sàn nhà và bắt đầu dọn giường. Đôi chân mày đen mượt của Lily run run. “Mẹ đã giết Ambrose hả?”
“Đúng vậy.” Đột nhiên cô thấy thoải mái, cô đập mạnh xuống gối. Lily bắt đầu khóc.
Frances chỉ ra một cách hợp lý, “Bà ấy sợ rằng cha sẽ giết bà ấy.”
“Nhưng ông sẽ không làm vậy!” Lily nức nở.
Frances ngắm nó một giây. Cô luôn cảm thấy vô cùng hả dạ khi Lily bắt đầu khóc. Cô đến ngồi cạnh Lily, khoác một tay lên người nó và vuốt đầu con bé. Lily yêu quý.
“Không sao đâu, Lily… Cha không bao giờ có thể làm hại bất cứ ai hết.”
“Có rồi.”
“Chị không kể em nghe nữa đâu, em còn nhỏ quá.”
“Em không nhỏ!” Lily vùng ra, quẹt mạnh nước mắt trên má.
“Em nhỏ, Lily à. Em là một cô bé nhỏ đáng yêu.”
“Kể em nghe đi, Frances! Em lớn rồi.”
“Nhỏ.”
“Lớn!”
“Nhỏ xíu.”
“KHÔNG PHẢI!”
“Phải.”
“KỂ EM NGHE ĐI!” Mặt Lily đỏ bừng, tay đấm xuống giường.
Frances nằm phịch xuống gối, tay xếp lại sau đầu, và hát vu vơ, chân nọ gác chân kia nhịp nhịp, “Quý cô từ Armentières, cô có nói-i-i-hay-không?” Lily bắt đầu xốc tung cái giường vừa mới được dọn gọn gàng. “Quý cô đến từ Armentières, cô có nói-i-i-hay-không?” - tấm trải giường dưới chỗ Frances nằm bị giật mạnh. - “Quý cô từ Armentières” - tấm trải giường rơi đầy dưới sàn, chuỗi hạt dính với kim băng - “đã bốn mươi năm chẳng được hôn” - Lily giận dữ đến mức ngất đi được - “tồi tàn, dơ dáy, có nói hay không-g-g-g” - con bé đi vòng vòng trong phòng, chộp lấy một cuốn sách to và xé rời gáy sách. Nó xé rách một xấp giấy dày bên trong và ném chúng ra cửa sổ, sau đó ném tiếp phần bìa mất ruột xuống đất theo kiểu mái nhà bị tốc, lảo đảo trên cái chân cứng ngắc của mình, khớp nối bằng thép trên chân nó văng sang một bên, chỉ ngay vào “Cô Gái Nhà Quê” hát bài “Let Me Call You Sweetheart”. Trên tay nó là một cái ô. Nó đứng một mình trên tấm lót đặt trên tủ của Mercedes. Lily chộp lấy nó.
“Kể em nghe, Frances, không em sẽ đập nát nó đấy.”
“Chị không kể với em gì cả, em là đồ điên.”
Tay Lily vung lên, “Kể em nghe.”
“Không.”
Lily ngừng lại - và rồi vì ý nghĩ ném Cô Gái Nhà Quê xuống sàn là độc ác sắp ập đến nên Lily buông tay để nó rơi xuống đất. Bức tượng nhỏ va xuống sàn. Cái ô và cái đầu. Keng. Lăn lăn, lóc cóc lóc cóc. Lily sững sờ nhìn điều mình vừa gây ra. Frances chỉ ra điểm mấu chốt của vấn đề:
“Nếu em làm tất cả những chuyện này để trả đũa chị thì em thua rồi. Vì những gì em làm được chỉ là phá hỏng những thứ quý giá của chị Mercedes.”
Lại nữa rồi. Ôi không. Lily đứng đó miệng há hốc, trán nhăn lại. Ôi không, ôi không, ôi không.
“Được rồi, Lily. Chị sẽ kể” - Lily quên khuấy mất chuyện Frances đang nói - “nhưng em phải thề.”
Lily cứ đứng như thế.
“Đừng lo, Lily, chúng ta sẽ dọn sạch sẽ mà.”
“Nhưng mấy cái này bể rồi.”
“Mình sẽ sửa chúng lại, đừng lo. Thề đi.”
“Em thề.”
“Em phải thề với cái gì đó chứ.”
“Ừm… với Hoa-Lan-Chuông-Tả-Tơi.”
Việc này làm Lily ứa nước mắt vì nó hình dung được nó sẽ thấy thế nào nếu có ai đó đến gần và làm với Hoa-Lan-Chuông-Tả-Tơi những điều nó vừa gây ra cho Cô Gái Nhà Quê. Hoa-Lan-Chuông-Tả-Tơi với cái đầu gãy lìa. Một ít chất xám mất đi. Nhưng Frances nghĩ đến chuyện khác trong đầu.
“Thề với cái chân teo của em ấy.”
“Với cái chân nhỏ của em.”
“Nó sẽ bị cắt đứt nếu em nói về chuyện này lần nữa.”
Lily nhìn xuống hai chân mình: chân phải thì khỏe mạnh, còn chân trái thì ốm yếu nằm gọn trong chiếc vớ len màu be lún xuống như chỉ có mỗi da bên trong cái khung thép và chiếc giày cao bó chặt với cái mặt ngựa hiền hòa, chính là miếng sắt được kẹp chặt vào đế giày. Gót chân cô bé giờ đã đỡ nhiều rồi, chỉ còn là lớp mài từ ngày Lễ Tưởng Niệm.
“Được thôi,” Lily nói. Đừng lo, chân nhỏ, tao sẽ giữ lời thề của mình.
“Tốt. Được rồi. Mẹ phát điên vì xấu hổ về những gì bà đã làm với người đàn ông từ Coke Ovens. Phần vì mẹ đang sắp chết vì vết thương gây ra do cha đã dùng lưỡi lê mổ bụng bà để lấy em và Ambrose ra.” Bây giờ bạn bình tĩnh nhé. “Lúc đó là nửa đêm. Cha để mẹ ngủ, và đi gọi bác sĩ. Nhưng mẹ vẫn có thể ngồi dậy dù vết thương vẫn hở.” Frances chuyển sang giọng ma quái của câu chuyện con mèomắt-cam, cũng là giọng nó dùng để nói sự thật. “Lúc đó chị đang đứng ở cửa số phòng ngủ của chị trong chiếc đầm ngủ sọc của mình. Chị thấy mẹ dưới suối. Ambrose đang nằm dưới đáy sông. Mẹ đang định làm y như vậy với em, nhưng mẹ nhìn lên và thấy chị đang nhìn nên bà ngừng lại. Trăng rất rất sáng và chị cứ đứng nhìn bà như vậy cho đến khi cha đến và lôi bà vào nhà cùng em. Sau đó thì bà chết.”
“Tội nghiệp mẹ quá,” Lily thổn thức.
Sau cùng Frances đã có thể chớp mắt, “Tội nghiệp mẹ sao? Bà ta đã cố giết em đấy, đồ ngốc. Chính chị là người đã cứu em đây nè.”
“Sao chị không cứu mẹ.”
“Không ai cứu được mẹ cả.”
“Chị đã cứu em.”
“Đúng vậy, ngốc ạ, chị đã cứu em.”
Lily ôm lấy Frances, “Cảm ơn chị, Frances. Cha có biết không?”
“Chuyện chị đã cứu em? Có.”
“Cha có biết ông không phải là cha ruột em không?”
“Có, nhưng em không được nhắc đến chuyện đó đâu Lily, cha sẽ đau lòng lắm. Vì dù em không phải con ruột của cha, nhưng ông ấy còn yêu em hơn cả bọn chị nữa.”
“Ông cũng yêu chị mà, Frances.”
“Đúng, nhưng ông yêu em nhất.”
“Em muốn cha cũng yêu chị nhất nữa.”
“Không sao đâu, Lily, mọi chuyện nên như thế mà.”
“Em yêu chị nhất, Frances.”
“Còn cha và Mercedes?”
“Em cũng yêu họ nhất.”
“Làm gì có chuyện cùng yêu mọi người nhất chứ?”
Cả buổi sáng Mercedes ở bệnh viện đa khoa New Waterford. Cô đọc sách cho một cựu chiến binh bị nhiễm khí độc trong chiến tranh, đổ bô, thay nước bình hoa và nói chung là làm cho bản thân có ích. Đáng lẽ cô dẫn Lily theo, nhưng cha muốn chân con bé lành hẳn trước khi ra khỏi nhà. Rời bệnh viện, Mercedes đến giúp các nữ tu đánh bóng tay vịn trong thánh đường và lau bụi bàn thờ ở nhà thờ núi Carmel. Cô thắp nến, quỳ dưới chân tượng Đức mẹ Maria tám chân xinh đẹp và cầu nguyện một chút cho mẹ và Kathleen và Valentino và tất cả những linh hồn bị giam giữ nơi luyện ngục.
Valentino mất ba năm về trước. Cái ngày cô bàng hoàng nhận được hung tin, cô phải cố hết sức để không chạy đến nhà Helen Frye. Cô đã tìm ra sức mạnh khiến cô có thể chịu đựng. Thực sự rất đơn giản: đừng cử động, và bạn sẽ không gây ra điều gì để phải hối tiếc về sau. Cả ngày hôm đó, Mercedes chỉ ngồi yên một chỗ trên mép giường, kiệt sức, nhìn chằm chằm vào ảnh của Valentino. Khi tỉnh hồn lại, cô lồng một bài thơ cô tình cờ đọc được trong cuốn Reader’s Digest tên là “Đừng Than Khóc” vào khung hình thay cho khuôn mặt của Valentino.
Mercedes luôn băng qua đường bên kia mỗi khi cô thấy Helen Frye. Helen nhìn cô buồn bã, dù cô không chào lấy một tiếng. Nhà Frye giờ chắc đã nhận ra họ đã sai lầm thế nào, chắc chắn Helen đã khóc rất nhiều. Đáng đời họ lắm. Từ sau Frye, Mercedes không còn phí thời gian cho những đứa bạn gái ngớ ngẩn nữa. Cô quá bận rộn với việc học và gia đình. Đây là thứ tự ưu tiên: Chúa Trời, gia đình, học hành, chơi piano, bạn bè.
Mercedes sắp mười bảy tuổi rồi - Tháng mười một là tháng mà cô và Frances bằng tuổi với nhau. Mercedes đang học năm cuối trung học. Cô đang cố gắng tìm một suất học bổng vào trường Đại học Thánh Frances Xavier trên đại lục. Đến lúc đó chắc chắn cha sẽ cho phép cô đi. Cô cố không ích kỷ về việc này, nhưng cô thực sự rất muốn học đại học. Đã quá trễ để thực hiện tham vọng khác của cô: trở thành học sinh giỏi nhất được vinh danh của trường Holy Angels. Cô đã trở thành học sinh giỏi nhất trường núi Carmel, và một trong số những học sinh giỏi nhất tỉnh. Giỏi về chuyện học và cả về bếp núc, dọn dẹp và trông em nữa. Mercedes cố không tự hào mà chỉ biết ơn về điều đó. Hãy nghĩ đến rất nhiều cô gái thậm chí còn không được học hết trung học. Nghĩ đến những đứa trẻ trong những gia đình nghèo đến độ cả nhà chỉ có một đôi dép mang chung.
Mercedes rời khỏi nhà thờ, giương ô lên và đi xuống Đại lộ Plummer dưới làn mưa lất phất, gật đầu lễ phép chào mọi người cô gặp trên đường. Dù cô còn rất trẻ, nhưng mọi người đều gọi nó là “Cô Piper”. Điều đó âu cũng là tự nhiên. Một phần do thái độ và những việc tốt cô đã làm. Một phần vì phong cách ăn mặc của cô. Trông cô kín mít trong cái khăn quàng len, cứng nhắc trong chiếc áo choàng trắng và cà vạt đen, tay đeo găng, cùng một chiếc mũ rơm nằm chếch trên búi tóc. Lúc nào cô cũng mang găng tay và đội nón, không chỉ để chỉnh tề mà còn vì da cô rất dễ bị đen, dù là mùa hè hay mùa đông. Ở Paris, Coco Chanel vừa mới phát minh ra mốt thời trang rám nắng, nhưng New Waterford chưa biết gì về điều đó. Bên dưới lớp quần áo bên ngoài ấy, Mercedes chỉnh tề trong áo ngực và váy lót. Frances đã nói với cô rằng trông cô cứ như vừa bước ra khỏi Cỗ Máy Thời Gian vậy. Nhưng cái gì hợp với thị hiếu thì luôn hợp mốt. Thật vậy, nền văn minh chỉ là một lớp vỏ bọc mỏng dính. Chúng ta phải phân biệt mình với những con thú trên cánh đồng vì điều gì? Ngoài ra, đương nhiên, một linh hồn bất tử? Cung cách và trang phục phù hợp.
Một tác dụng của việc nuôi dưỡng đức tính thích làm từ thiện chính là việc nhận ra rằng nhà Mahmoud ở Sydney cần những lời cầu nguyện của cô. Do vậy, ngoài những người đã chết, cô còn cầu nguyện cho những người họ hàng không quen biết của mình. Giờ cô đang thầm cầu nguyện cho họ đây, ngay trong lúc đi qua cây xăng mới và gật đầu chào ông MacIsaac. Ở nhà thờ cô đã quên việc này, nhưng không sao, vì làm gì có khoảnh khắc bất tiện nào khi người ta cần cầu nguyện chứ. Đó chính là điểm tuyệt vời của việc này. “Hỡi Đức Chúa Trời kính mến, xin Người đừng phán xét quá khắt khe với những kẻ bề tôi của Người ở Sydney, những người đã ruồng bỏ chính ruột rà máu mủ của mình. Amen.”
Dù vẫn còn quá trẻ để đáp lại hai mươi lăm năm đầu của thảm họa một cách nhân từ, nhưng cô vẫn cố làm việc cật lực để bù đắp. Và vẫn còn nhiều thời gian, vì xét cho cùng, năm nay chỉ mới năm 1929 thôi. Trong thế kỷ hai mươi dù bị trọng thương nhưng vẫn trẻ trung này, Mercedes hoàn tất lời cầu nguyện của mình với một dấu thánh giá bí mật gồm ngón trỏ chồng lên ngón cái và rẽ vào tiệm Kosher Canadian của nhà Luvovitz để mua thịt quay cho bữa tối chủ nhật.
Cửa hàng thực phẩm nhà Luvovitz vừa bán thêm trái cây, rau quả, thức ăn đóng hộp, thức ăn khô, và thức ăn nhiều chất xơ, bởi vì rất ít người mua nổi thịt với giá thường.
Cái chuông kêu leng keng khi Mercedes mở cửa, và Ralph Luvovitz ở quầy tiền ngước nhìn lên. Hai vành tai chìa ra đáng yêu của cậu ta đỏ lên như đường sọc trên tạp dề của cậu khi nhìn thấy cô. Mercedes trông thật trẻ khi cô cười với cậu ta. Chúng trao nhau những lời nhận xét lịch sự, tránh và bắt gặp ánh mắt nhau khi cậu ta kéo dài thời gian cân đo, cắt giấy nâu, tháo một cuộn dây, chọn miếng thịt ngon, gói và buộc nó lại. Cuối quy trình, dường như cậu quên mất là Mercedes đang đợi cậu trao gói thịt cho cô. Mercedes cũng không buồn nhắc.
“Việc học cla-ri-nét sao rồi, anh Ralph?” Cô hỏi.
“Tôi vẫn đang tập luyện…”
“Tốt, anh có…”?
“Cô có… ? Xin lỗi…”
“Xin lỗi.” Cười.
“Tối chủ nhật cô vẫn có thể đến chứ?” Ralph hỏi.
“À có chứ. Tôi đưa mấy đứa nhỏ đi cùng được không?”
“Đương nhiên là được, vậy sẽ rất tuyệt.” Cười.
Mercedes đã hơn một lần nhận thấy rằng đôi mắt nâu ngời sáng và những lọn tóc xoăn hung hung đỏ của Ralph không hiểu sao nhìn dễ chịu hơn cái khăn xếp và cái trừng mắt màu than của Valentino. Có lẽ là vì, nếu giơ tay ra lúc này, cô có thể chạm được Ralph. Cô lại ngượng ngùng và vụng về cầm lấy gói thịt. Ralph đánh rơi nó.
Hai người họ đã biết nhau từ rất lâu, nhưng vài tháng trở lại đây họ bỗng trở lên khách sáo cực kỳ. Đó là một thay đổi xuất phát từ bà Luvovitz, người đang kiểm hàng bên kia lối đi.
Mercedes là một cô gái tốt. Một cô gái tuyệt vời. Ta đã giúp mang nó đến thế giới này. Ta đã yêu thương mẹ nó như yêu con gái ta vậy. Nhưng.
Vấn đề nằm ở chỗ, nếu ông và bà Luvovitz có cháu nội - cháu nội Do Thái - thì nó không thể nào mang dòng máu Công giáo được, phải không?
“Cứ bình tĩnh,” Benny bảo bà.
“Làm sao tôi bình tĩnh được? Ông muốn có một đứa cháu đạo Công giáo hả?”
“Có cháu cũng tuyệt.”
Bà Luvovitz tức nghẹn và không thể tiếp tục tranh cãi. Benny nói, “Lại đây nào, lại đây.”
Bà làm theo. Ông nói, “Bà muốn nó đi học, và bà muốn nó ở nhà.” Bà gật đầu. Ông nói, “Bà muốn nó trở thành bác sĩ, và bà muốn nó làm người bán tạp phẩm.” Bà lại gật, và mỉm cười trong nước mắt. Benny tiếp tục, “Và, nó nên kết hôn với một cô gái đạo Do Thái và về ở trong một căn nhà phía cuối đường.” Bà gật đầu, nhét một cái khăn tay vào giữa vai của ông và mũi bà.
“Bà biết đấy, vợ yêu, chính chúng ta đã chọn đến đây ở. Nếu chúng ta ở lại Old Country thì đã có rất nhiều cô gái Do Thái xinh đẹp. Ralph không có lỗi khi được sinh ra ở đây.” Ông ngưng lại. “Và nó không có lỗi vì…”
Nhưng ông không cần phải nói thêm. Họ đều biết. Nếu Abe và Rudy không hy sinh trong chiến tranh, bà Luvovitz sẽ để Ralph được cưới Mercedes.
Nhìn qua những lọ tẩy rửa Hà Lan, bà Luvovitz thấy Mercedes đếm từng tờ tiền đưa cho Ralph, rồi cậu cẩn thận bỏ nó vào máy. Bà thấy cậu thả một nụ hồng bằng sô-cô-la vào tay Mercedes trước khi cô rời đi.
Mercedes ra khỏi cửa hàng Kosher Canadian nhà Luvovitz, tâm trạng lâng lâng.
Cô đi qua vài dãy nhà với đôi má ửng hồng với ý nghĩ con của mình và Ralph sẽ trông như thế nào. Mercedes Luvovitz. Con của chúng ta sẽ theo đạo Công giáo, đương nhiên rồi.
Mercedes tự thỏa mãn bản thân như thế cho đến phố King mới chịu kiềm chế suy nghĩ và bung dù ra. Không biết Frances và Lily có vẫn đi picnic không nhỉ? Với thời tiết này mình hy vọng là không.
Cô đi vào đường Water và nhận thấy là cha vẫn chưa về. Cũng tốt thôi. Mình muốn ngả lưng một tí trước khi nấu bữa tối.
Mercedes leo lên cầu thang để lên phòng. Căn nhà thật yên tĩnh. Chắc cuối cùng Lily và Frances cũng quyết định đi picnic. Frances thật đáng yêu khi thân với Lily như thế - cũng đồng nghĩa với việc Lily sẽ không quanh quẩn bên mình suốt nhưng mình ước Frances có được một người bạn cùng lứa. Một người bạn tốt.
Mercedes nằm xuống trên chiếc giường gọn gàng của mình, và đảo mắt nhìn quanh căn phòng. Cô chỉ có những thứ tốt đẹp. Những cuốn sách. Trên chiếc bàn cạnh đó, cô có một bức ảnh cũ chụp cha và mẹ đứng dưới cổng vòm. Và được giấu kỹ là một tấm hình Kathleen lúc còn sống - Ừm, nó làm gì trên sàn vậy chứ, lúc nào nó cũng được kẹp trong cuốn Jane Eyre, nơi mà cha sẽ không bao giờ thấy được kia mà. Mercedes với tay lấy tấm hình và đặt nó trên chiếc bàn cạnh giường. Cô sẽ nhét tấm hình lại vào trong cuốn sách sau khi chợp mắt một lúc.
Mắt Mercedes uể oải ngừng lại trên bức tường phía trên cái tủ, nơi cô treo bức ảnh Đức mẹ Đồng Trinh hiện ra với thánh nữ Bernadette lần đầu tại một hang động tại Lộ Đức (một tỉnh miền Nam nước Pháp). Những bông hồng vàng nở giữa những ngón chân của Bà, và xếp thành vầng hào quang trên đầu Bà là những lời Bà đã nói với Bernadette, “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.” Có một dòng suối chảy dưới chân họ, dòng suối trở thành nguồn nước chữa bệnh cho Lộ Đức, và hiện cung cấp ba-lần-chín ngàn ga-lông nước mỗi ngày. Đức mẹ Đồng Trinh đã xuất hiện với Bernadette ba-lần-sáu lần. Bà đã ba lần bảo Bernadette uống nước từ dòng suối, điều mà cô đã thực hiện sau khi đã bỏ đi ba vốc nước đầu tiên. Đức mẹ Đồng Trinh đã nói cho Bernadette ba bí mật mà cô sống để bụng chết mang theo. Bernadette đã trở thành nữ tu để rời xa dư luận. Trong nữ tu viện, cô giúp đỡ trong bệnh viện và nhà thờ và cô đã nỗ lực rất nhiều để kiềm chế bản tính nóng nảy cả đời của mình. Khi được hỏi cô đang làm gì, Bernadette đáp, “Tiếp tục công việc của tôi: bị bệnh.” Ba ngày sau Ngày Lễ Đức mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, cô nằm liệt giường. Ở tuổi ba-lần-mười hai, cô qua đời vì bệnh hen, bệnh lao và một khối u ở đầu gối. Cô được xức dầu thánh ba lần. Có ba nữ tu quỳ xung quanh cô khi cô qua đời và ngày nay, mỗi năm có ba triệu con chiên tụ tập về ba vương cung thánh đường ở Lộ Đức, nơi mà thỉnh thoảng nguồn nước lại mang đến một phương thuốc thần diệu.
Mercedes thấy buồn ngủ khi nghĩ về Bernadette. Khi mắt cô hạ xuống khỏi tấm ảnh, chúng tự nhiên ngừng lại ở bức tượng Cô Gái Nhà Quê thân yêu. Mắt Mercedes mở to, lảo đảo. Ma quỷ.
Cô Gái Nhà Quê có một cái dù cho cái đầu, và một cái đầu cho cái dù. Cô ta đang tao nhã giơ cái đầu tóc vàng óng của mình về hướng mặt trời trong khi cái dù vàng vô tri vô giác lại được cắm vào cái cổ trống như một lá cờ. Frances.
Mercedes chớp mắt để nước mắt thấm vào trong. Luôn luôn là vậy - ngay khi mình vừa có được cái gì đó tốt đẹp, cái gì đó sạch sẽ. Cô đi đến cái tủ, lau nước mắt bằng cổ tay gầy guộc run rẩy của mình.
Cô kiểm tra phần thân. Những mảnh vở đã được dán lại như vậy, không sửa gì được nữa. Ít nhất không phải lúc này. Phải làm gì với nó, phải đặt nó ở đâu trong khi chờ đợi tìm được một nơi không có mùi tục tĩu, vô hình nhưng không ngột ngạt. Cái rương. Nó đã bị khóa từ khi Frances lấy chiếc đầm rửa tội mặc cho con Trixie. Mercedes có chìa khóa.
Cô cầm pho tượng đã bị biến dạng lên nhưng không nhìn. Pho tượng kêu những tiếng leng keng đứt quãng. Trên đường đi, cô cầm tấm hình của Kathleen lên, dự định sẽ nhét nó lại vào giữa những trang sách Jane Eyre, nhưng Jane đã không cánh mà bay. Cô ấy không còn trên kệ sách gần cửa sổ nữa. Không thấy cô đâu cả. Chắc là Frances đã mượn rồi. Lại nữa.
Làm những chuyện đầu tiên trước đã. Mercedes sẽ tìm cuốn sách sau. Cô bỏ Kathleen vào túi và đi đến chân cầu thang dẫn lên gác xép. Lắng nghe. Sự im ắng. Cô leo lên những bậc thang.
Căn gác xép thật trống trải. Chẳng có gì khác ngoài cái rương. Ngay cả một đặc điểm nhận dạng khác của căn gác xép cũng bị thiếu đi: dấu chéo ngay giữa tường nơi từng treo một cây thánh giá. Mercedes nhớ khi đây còn là phòng ngủ của Kathleen. Trước khi chị ấy chết ở đây, bình yên trong giấc ngủ.
Cái rương là nơi lý tưởng để cất những thứ như Cô Gái Nhà Quê đã hỏng vì căn gác xép hoàn toàn tách biệt với phần còn lại của căn nhà. Trong tình trạng cách ly vĩnh viễn. Nó thực sự là một căn phòng bỏ hoang. Đó là lý do không khí của nó thật buồn, Mercedes cho là vậy. Buồn như một nhà thờ đã hoàn tục. Có thể mình sẽ treo lại cây thánh giá lên đây nếu mình nghĩ đến nó lần nữa. Hoặc là không, bởi vì sau đó sẽ không thể cất những thứ như Cô Gái Nhà Quê bị hỏng lên đây nữa. Mercedes thấy được lợi ích thiết thực của việc có một căn-phòng-không-phải-là-phòng trong nhà.
Cô mở rương. Mùi tuyết tùng dịu nhẹ tỏa ra thật sống động, gợi lại một nỗi buồn đã qua. Mercedes không muốn nán lại lâu hay lục lại quá khứ. Cô cầm lấy món đồ vun lên chạm tay nó - chiếc đầm rửa tội nằm trên cùng đống đồ trong rương từ vụ Trixie - và gói Cô Gái Nhà Quê vào trong. Sau những gì chiếc đầm này đã trải qua, không thể coi nó như một món đồ thông thường được. Cô bé đóng nắp và khóa cái rương lại. Cô đứng lại một chút trong căn phòng trống. Sau đó ra khỏi phòng, nhẹ nhàng đóng cánh cửa phía sau lại.
Mercedes thấy bình tĩnh hơn khi xuống đến phòng khách. Cha sắp về nhà và cô không được để ông thấy bất cứ điều gì bất ổn. Cô ngồi xuống chỗ cây đàn piano. Chắc chắn Lily đã vô tình đánh đổ bức tượng rồi, xét cho cùng nó chỉ là một đứa trẻ - tiếng dính cháp cháp cháp vang lên khi cô chạm vào nốt đô cao, cha cứ nói là sẽ sửa nhưng vẫn chưa chịu làm - Mercedes có cảm tưởng rằng cô đã tha thứ cho Lily vụ cây gia phả và giờ lại chuẩn bị tha thứ cho Frances vì đã làm vỡ Cô Gái Nhà Quê. Cô giở trang ba mươi hai của cuốn Những Bài Hát Được Yêu Thích Nhất. Thật kì quặc, tha thứ cho Frances luôn dễ dàng hơn cho Mercedes so với tha thứ cho Lily, dù Frances đã ranh mãnh từ khi mới ra đời còn Lily lại hoàn toàn ngây thơ. Mercedes cần phải tha thứ cho Frances theo đúng cách mà Frances cần dỗ dành Lily.
Mercedes đưa tay tính chạm nhẹ vào những phím đàn nhưng ngừng lại và thọc tay vào túi, tấm hình của Kathleen vẫn còn yên vị trong đó. Cô lấy tấm hình ra và đặt nó đứng trên giá đỡ kế bên tập bài hát. Kathleen trong bộ đồng phục trường Holy Angels, hai tay đặt trên đầu gối, miệng cười rạng rỡ. Chị ấy đẹp quá. Vùng quanh tóc chị ấy hơi bị nhòe bởi vì chị ấy chẳng chịu ngồi yên đủ lâu để chụp hình. Mercedes thầm nhắn nhủ Kathleen, nếu ở nơi đó chị có thể nghe được và thấy được thì em sẽ chơi một bài tặng chị.
Mercedes bắt đầu chơi đàn. Và cất giọng hát với cả tấm lòng:
“‘Chị yêu ơi em đang già đi. Những sợi bạc xen lẫn sợi vàng, ánh lên trên trán em ngày hôm nay, cuộc sống đang trôi đi thật nhanh. Nhưng, chị yêu ơi, với em, chị sẽ mãi, sẽ mãi, sẽ luôn trẻ trung và xinh đẹp. Đúng như thế! Chị yêu ơi, với em, chị sẽ mãi, sẽ mãi, sẽ luôn trẻ trung và xinh đẹp.’”
Trixie, Frances, sau đó là Lily lặng lẽ đi vào. Than đen bám khắp mặt Lily chỉ trừ một khoảng hình ô-van quanh miệng. Mercedes thấy chúng, nhưng vẫn tiếp tục hát. Frances nhìn Mercedes và nghĩ, mình đoán chị ấy vẫn chưa lên phòng.
Frances, Lily và Trixie ngồi trên sô-pha và lắng nghe.
“‘Với những bông hoa hồng tháng Năm, em sẽ hôn lên môi chị và nói, Ôi! Chị yêu quý của riêng mình em, Chị trẻ mãi không bao giờ già đi.’” Cha đứng ngay cửa. Bài hát kết thúc.
“Hay lắm, Mercedes.”
“Cảm ơn cha.”
“Chơi bài gì khác đi con,” ông nói trong khi băng ngang qua căn phòng đến ngồi trên ghế bành.
“Chơi bài ‘Ôi Clementine Con Yêu Của Ta’ đi ạ,” Lily yêu cầu.
“Con đã làm gì với cái mặt của con vậy hả?”
“Chúng con biểu diễn hát lưu động ở dưới hầm cha ạ,” Lily nói.
James nhìn Frances, Frances chỉ nhìn lại. Cha cười với Lily,
“Lại đây nào cô bé nghịch ngợm.”
Lily nhảy vào lòng cha.
“Chơi đàn tiếp đi Mercedes.”
Mercedes đánh đàn, cha và Lily hát, ôm lấy nhau trên chiếc ghế bành. Frances nhìn họ như thể bị xuyên thủng. Lily gào to đoạn nó yêu thích, “Những chiếc hộp chật cứng không có nắp, chất đầy những đôi giày dành cho Clementine.” Lily luôn thắc mắc chuyện gì đã xảy ra với Clementine, con gái của người thợ mỏ năm-bốn-chín, cô ta “đã đi và mãi không còn nữa”, nhưng là đi đâu mới được chứ?
Bài hát kết thúc; Cha nhẹ nhàng nhấc Lily ra khỏi đầu gối ông và đứng dậy.
“Con biết không, Mercedes, cha sẽ sửa phím đô cao đó ngay bây giờ.”
“Ôi tạ ơn Chúa, nó thật khó chịu làm sao, cha ạ.” Mercedes giờ đã là một phụ nữ. Chị ấy có thể nói chuyện với cha kiểu đó. Frances kinh ngạc. James mở nắp cây đàn và nhìn vào trong. “Gõ nhẹ xem, Mercedes.” Cô làm theo.
“Không sao hết,” James nói, “Ta đi lấy đồ nghề.” Rồi anh nhìn thấy tấm ảnh. Đứa con gái đang ngả về phía trước tươi cười với vệt nhòe vì muốn chụp xong nhanh, “Cha!” Căn nhà ở ngay sau nó và bạn có thể nhìn thấy Materia đang vẫy tay từ trong bếp. Có gì đó phát sáng trong tay cô ấy. Nó phản chiếu lại ống kính. James có thể nghe thấy tiếng Kathleen cười với anh, không chút sợ hãi, không có gì để sợ cả. Không như căn phòng này bây giờ. Bây giờ là quá khứ tối mờ. Còn lúc đó là thực tại ngời sáng. Anh nghe tiếng con bé cười. Anh nghe tiếng nước róc rách dưới lạch và bàn tay vẫy của Materia sáng lấp lánh, dù mặt cô ấy chỉ vừa đủ rõ. Kathleen mười bốn tuổi. Bạn nghĩ rằng mình đã được an toàn. Cho đến khi bạn thấy một tấm ảnh như vậy bạn mới biết mình đã lầm. Và rồi bạn nhận ra, bạn sẽ mãi là kẻ nô lệ cho hiện tại bởi sức mạnh của nó còn ghê gớm hơn quá khứ nữa, dù hiện tại đã xảy ra cách đây bao lâu đi chăng nữa.
Giá như anh đừng để con bé đi xa. Giá như anh đi cùng nó đến New York. Thì đã chẳng có chuyện gì xảy ra. Con bé đã chẳng có thai. Không phải mình chối bỏ Lily, Lily là niềm an ủi của mình, nhưng nếu chuyện không ra như vậy thì giờ đây đứa con gái đầu của mình… sẽ đang ở bên mình lúc này. Ôi con gái cưng của cha.
Hơi thở ập vào phổi James và anh bước ra khỏi bức ảnh trắng đen, quay trở về căn phòng đầy màu sắc sống động.
Và nhìn quanh. Con gái ngoan của mình. Con gái hư của mình. Và con gái của con gái yêu quý của mình - với cái mặt đen. Cả việc đó cũng không đáng để nổi giận, dù Frances làm vậy chỉ là để chọc tức mình.
“Cái này làm gì ở đây vậy, Mercedes?”, anh nhẹ nhàng hỏi Mercedes. Không có hình của Kathleen ở bất cứ đâu. Không có guồng quay tơ nào trong Vương Quốc, nói vậy nhưng rồi bạn vẫn bị đâm vào tay.
Mercedes trả lời, “Con xin lỗi, cha.”
Frances nhìn chằm chằm vào James, “Con đã làm đấy.”
Mercedes xoay người trên chiếc ghế piano. Cô muốn nói với Frances, không, mọi chuyện sẽ khó khăn hơn với em, em không cần phải bù lại việc làm hỏng những món đồ ngớ ngẩn của chị bằng cách nhận phần lỗi này về mình. Nhưng Frances đã tự đào hố chôn mình, “Kathleen là chị gái con và thỉnh thoảng con muốn nhìn lại chị ấy.”
Mặt James trắng bệt. Phần xanh trong mắt anh đang nóng lên.
Frances đốt thêm. “Dù sao đi nữa, tại sao chúng ta lại không thể chứ? Có chuyện gì không ổn với chị ấy sao? Chị ấy bị điên hay bị gì hay sao?” Vẫn giọng điệu xấc xược như mọi khi.
Mercedes không tài nào cất giọng. Trong miệng cô giờ đang là mùa thu và tất cả những gì lưỡi cô có thể làm là kêu xào xạc. Lily không thích cha nhìn Frances như thế. Đó không phải là cha nữa. Không phải cha của nó.
“Chị ấy là gái hư sao?” Frances, với giọng điệu giúp đỡ. Àaaa, vậy là đúng rồi. Nhìn ông ấy kìa, đỏ bừng hết lên y như ngọn nến Phục Sinh rồi.
James nhẹ nhàng nói với Frances, “Đi với ta.”
Frances nhún vai và đứng dậy, lãnh đạm, toét miệng cười với Mercedes.
Mercedes lấy tay che mặt mình. James bảo Mercedes, “Đưa em con ra ngoài một chút đi.”
“Đi nào, Lily.”
Lily nhíu mày không muốn nhưng nó phải nghe lời.
Frances thong thả băng qua căn phòng đi về phía James, ông cuối cùng cũng đã chấm dứt cái cảnh Frances thong thả đi về phía mình bằng cách chộp lấy cổ nó và ném nó qua cánh cửa. Mercedes đẩy Lily ra cửa trước.
“Mình đi đâu vậy, chị Mercedes?”
“Ra ngoài.”
“Em đã làm bể món đồ xinh đẹp của chị.”
“Chị không quan tâm, Lily, làm ơn cứ đi đi” - chúng đi xuống bậc thang cổng vòm.
“Frances đã dán nó lại nhưng chính em đã làm bể nó và em cũng đã xé sách của chị, em không cố ý đâu.”
“Chúng chỉ là đồ vật thôi, Lily, không quan trọng.”
Lily rất khó khăn mới theo kịp, nhưng nó không có sự lựa chọn, Mercedes đang nắm chặt cổ tay nó. “Em xin lỗi, Mercedes.” Không trả lời.
“Mercedes…”
“Đủ rồi đó, Lily.”
Chúng lôi nhau đi qua khắp thị trấn cho đến khi đến được vách đá phía trên bờ biển. Mercedes đứng nhìn chăm chăm ra biển xám. Lily ngồi trên mép đá, hai chân buông thõng.
“Sao chưa bao giờ em nhìn thấy bức ảnh đó vậy?”
“Em biết rất rõ còn gì, vì cha không thích nhắc đi nhắc lại mãi về Kathleen. Nó làm ông đau đớn.”
“Chị đã giấu nó hả?”
“Ừ, trong cuốn sách em đã phá hỏng. Đó là nguyên nhân nó lộ ra ngoài.”
“Đó là cuốn sách Frances thích đọc. Đó là vì sao em đã vô tình làm hỏng nó. Bởi vì Frances đã vô tình khiến em làm vậy.”
“À, ra vậy. Vậy thì con bé phải cảm ơn em về bất cứ điều gì cha mang đến cho nó.”
“Tại sao chị lại để nó trên piano, Mercedes?”
Mercedes sững người. Thực ra là vì sao nhỉ? Chắc chắn là không cố ý. Mercedes chầm chậm quay đầu lại nhìn Lily. Cô thấy con bé rơi khỏi vách đá xuống bãi đá phía dưới. Thứ duy nhất sẽ còn nguyên vẹn là cái chân khô quắt bọc trong khung thép của nó.
Không nhìn Mercedes, Lily đứng dậy và đi lang thang về phía Đường Shore. Nó quay lại xem Mercedes có đang đi đến không, nhưng Mercedes đang quỳ gối ở vách đá, mặt hướng ra biển.
“Mercedes,” nó gọi. “Đừng ngã, Mercedes.”
Mercedes làm dấu thánh giá và đứng dậy. Chúa sẽ tha thứ cho cô. Cô vừa hứa với Người một chuyện.
Trên đường Water, những bức tường ngoài của căn nhà một tầng thỉnh thoảng phát ra những tiếng thụi nghe như tiếng trống cái với một bàn đạp đang hoạt động bên trong để giữ nhịp. Trong căn nhà, buổi biểu diễn vừa bắt đầu. Nhịp cuối tóm lấy cổ con bé cho đến khi nó vào đúng nốt, nhịp đầu ấn mạnh nó vào tường, cái đầu va vào gỗ tạo hai nốt móc đơn, tiếng đốt tay kêu lốp cốp làm nhạc nền. Trong quãng nghỉ dài một nốt trắng, gương mặt xanh xao của con bé sáng lên theo đôi mắt sáng như hai ngọn bấc xanh của ông, và những lời hát góp phần vào sự sinh động, mạnh mẽ của buổi diễn: “Mày có quyền gì, mày không có quyền gì cả, thậm chí cả quyền gọi tên con bé cũng không, ai là đồ gái hư chứ, nói xem, ai là đồ gái hư?” Hai đoạn tiếp theo cũng giống như đoạn đầu, sau đó ta chuyển sang màn thứ hai, quăng bạn diễn của mình từ chỗ bức tường sang bàn gia công, nó đón lấy con bé ở phần thắt lưng, con bé vấp ngã tạo thêm một nốt đệm vì nó còn trẻ nên người nó bị bật ngược ra. Đoạn ngắt âm chạy trên khuôn mặt nó, rồi nó mở rộng phạm vi gõ của mình và trở thành một cái lục lạc câm lặng. Frances vượt qua đoạn này bằng cách tự giả vờ rằng nó thực sự chính là Hoa-Lan-ChuôngTả-Tơi, điều này khiến cô bật cười và việc đó làm cho đợt biểu diễn thứ hai của ông bắt đầu, “Tao không muốn mày gọi tên con bé,” nốt thăng giáng bất thường bằng giọng mũi chuyển thành hợp âm trưởng lớn, “Mày - Có - Hiểu - Không - Hả?” Chúng ta đã hoàn tất vai trò của mình trong vở diễn rồi, những nốt nhạc sẽ đảm nhiệm từ đây. Con bé lại bay vào một bức tường khác, và ông theo sau đường đi của nó, tranh thủ thời gian bởi giờ ta đang sắp vào hồi kết rồi. Thêm một cuộc xung đột giữa gỗ và khăn giấy và cuối cùng là nhạc kịch, “Tao sẽ cắt lìa cái lưỡi mày ra đấy.” Nó lè lưỡi về phía ông và nếm máu. Báo hiệu màn diễn chính sắp đến hồi kết. Frances gập người xuống cho đến khi nằm dài trên sàn. Vũ công múa hiện đại.
Việc đầu tiên Mercedes đã làm là mang Cúm Tây Ban Nha và những đứa con yêu thương còn lại của cô sang cho Frances và âu yếm xếp chúng trên giường. Dù Frances không biết chúng được đưa đến khi nào, nhưng Mercedes biết rằng chúng ở đó sẽ làm con bé khuây khỏa phần nào. Rồi cô đi lấy cái chậu và khăn để rửa mặt cho Frances.
Những vết sưng tấy làm cho Frances trông còn trẻ hơn tuổi mười sáu, đặc biệt là khi có thêm những con búp bê quanh mình. Cuối cùng cô cũng nói, giọng hơi nặng. “Trixie đâu?”
“Không sao, Trixie ổn.”
Toàn thân Frances đau ê ẩm, điều đó làm cô cảm thấy thật yên bình. Một cảm giác lần đầu tiên trong đời cô có được.
Mercedes vắt khăn, “Em không nên làm cha giận dữ như vậy.”
“Đáng đời ông ấy.”
“Chính em là người bị đau đấy!”
Frances cẩn thận nuốt nước miếng. “Em xin lỗi về những món đồ của chị.”
“Không sao đâu, Frances. Đáng lẽ em đừng nên nhận lỗi chuyện bức ảnh về mình mới phải.”
“Nên chứ.”
“Sao lại nên?”
“Vì chuyện đó nên diễn ra như vậy thôi, Mercedes. Chị không thể thay đổi được cách mọi chuyện diễn ra.”
“Chị không đồng ý, điều đó thật vớ vẩn, em không nên bị cha đánh vì một chuyện mà chị đã gây ra.”
“Thôi nào, ông ấy sẽ không đánh chị đâu.”
“Tốt lắm, vậy thì, không ai cần phải bị đánh cả.”
“Có, ai đó cần bị đánh. Hơn nữa, em có thể trả đũa ông ấy.”
“Về chuyện gì?”
Frances nhìn Mercedes và cười mỉm, làm cho vết rách còn mới ở môi dưới của cô rướm máu.
“Chuyện mà chị không biết. Và chuyện chị không biết sẽ không làm chị đau.”
Mercedes không nói gì. Frances với tay lấy con Hoa Hồng Bạch Hầu, ôm nó và khép mắt nó lại.
Mercedes nói với cha là tấm hình đã bị đốt trụi trong lò. Nhưng cô đã nói dối. Cô không thể xa tấm hình được. Cô để Frances nằm ngủ, nhưng trước khi đi xuống hầm để thực hiện lời hứa với Chúa Trời, cô leo lên căn gác xép lần thứ hai trong ngày. Mercedes biết rằng cha không bao giờ nhìn vào cái rương. Tấm hình sẽ được an toàn tuyệt đối trong đó.
Khi căn nhà đã trở nên yên tĩnh, Trixie nhảy lên những bậc thang vào phòng của Frances và Lily và lặng lẽ nhảy lên giường. Nó rúc vào giữa những con búp bê nằm trong vòng tay của Frances. Nó ngắm con bé ngủ một hồi lâu. Sau đó nó kê đầu mình lên gối, duỗi thẳng chân ra để tựa vào trán Frances. Cả hai nằm im như vậy cho đến sáng.