James đi rồi thì Materia mới thực sự trở lại cuộc sống. Cô tìm thấy sự dễ chịu với những đứa con của mình - Mercedes là một bé gái ngoan và Frances thì là một “cô hề” vui vẻ. Kathleen tiếp tục cuộc sống riêng của mình, ở lại muộn sau giờ học để tập luyện với xơ Saint Cecilia hoặc tập luyện với đội hợp xướng, dĩ nhiên là hát đơn ca. Cô không thể làm vậy khi cô ở nhà nhưng ít ra cô cũng không gây hại gì, nếu thánh Ala muốn vậy.
Cho cô ăn gì là một câu hỏi hóc búa, không gì làm cô vừa lòng. Cô đảo mắt, thở dài một cách lộ liễu, hối hả ra khỏi phòng. Materia quay lại với miếng phô mai nướng dự trữ của James, cắt ra thành bốn miếng xinh xắn và đặt trước mặt cô bé “Sa Hteyn!”
“Mẹ à! Nói tiếng Anh chứ!”
Kathleen, Mercedes và Frances cùng có ấn tượng rằng mẹ chúng không sử dụng tiếng Anh nhiều. Điều này trước đây không đúng, nhưng bây giờ nó rất dễ nhận ra bởi vì Materia không mấy khi dùng tiếng Anh, bởi vì cô biết chuyện trò bằng tiếng Anh với ai bây giờ? Không phải chồng cô. Bà Luvovitz thì luôn rộng lượng và không đòi hỏi cô trong chuyện này, tình bạn của họ chỉ xoay quanh những chuyện thức ăn, con cái và những quyển sách nhạc I-đit cổ. Materia cảm thấy thoải mái khi ngồi tại chiếc bàn bếp nhà Luvovitz và nghe người phụ nữ đứng tuổi này huyên thuyên về chuyện này chuyện nọ.
Giới từ là những thứ đầu tiên bị bỏ đi, sau đó tới trạng từ bị vỡ nát cùng cả mệnh đề, cho tới khi Materia chỉ còn lại những danh từ và động từ lạnh lùng.
Sự khác nhau giữa Kathleen và bọn trẻ là Materia nói chuyện rất nhiều với Mercedes và Frances - dù cô đã quên phần lớn tiếng mẹ đẻ của mình vì không sử dụng đến nó, hầu như là tất cả, trừ những thứ không thể tẩy xóa được trong kí ức thơ bé nhất của cô. Do vậy, Materia và hai cô con gái nhỏ nói tiếng Ả Rập cho trẻ em - về thức ăn, tình thương mến và kể chuyện. Ya aa’yni, te’berini.
Mercedes và Frances hiểu rằng tiếng Ả Rập là một thứ gì đó chỉ có giữa chúng và mẹ. Bây giờ có rất nhiều người nói tiếng Ả Rập trong thị trấn Cape Town, nhưng bọn trẻ vẫn nghĩ chúng và mẹ chúng là những người duy nhất ngoài những người bí ẩn ở vùng đất xa xôi mang tên Old Country. Một nơi tốt đẹp hơn bất kì nơi nào khác trên Trái Đất này, nhưng bạn lại bỏ đi khỏi nơi đó.
“Tại sao vậy mẹ?”
“Vì bọn Thổ Nhĩ Kỳ.”
“À!”
Một nơi mà mọi người đều dùng thứ ngôn ngữ độc quyền ở nhà của các cô gái nhỏ nhà Piper một cách phổ biến và mọi người đều trông giống mẹ chúng.
“Kể cho chúng con nghe về Old Country nữa đi mẹ!”
Trên chiếc võng treo trong bếp, trước khi Kathleen đi học về, chúng rúc vào cơ thể mềm mại của Materia như là cái gối êm cho hai cái đầu bé bỏng. Cô có mùi hương êm dịu của bánh mì ướt và dầu, một hũ bezella và roz cùng miếng thịt cừu trên bếp đang sôi rù rì một cách chán nản. Ngoài trời, những cơn mưa phùn mùa đông đang làm cửa sổ mờ đi.
“Lebanon là nơi đẹp nhất trên thế giới này, nơi có những cơn gió nhẹ và lúc nào cũng ấm áp. Những tòa nhà đều màu trắng, chúng tỏa sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời như những viên kim cương và mặt biển có màu xanh trong như pha lê. Lebanon là hòn ngọc của phía Đông, còn Beirut - nơi mẹ sinh ra - là Paris của vùng Trung Đông.”
“Chúng ta có thể đến đó sống không?”
“Không”. Các con may mắn là được sinh ra ở hòn đảo u ám ẩm ướt vùng Đại Tây Dương này, nó có vẻ đẹp ảm đạm riêng của nó.
“Tại bọn Thổ Nhĩ Kỳ hả?”
“Ừ.”
Hòn đảo này quen thuộc với những người Ailen chết đói và những người Xcốtlen cáu bẳn được thay bằng hình ảnh những con cừu ở Old Country.
“Mẹ ơi, bọn Thổ Nhĩ Kỳ thích cái gì?”
“Điều đó ghê tởm lắm.”
“Vâng.”
Đảo Cape Breton không phải là một hòn ngọc - cứ đào xới ở bất cứ đâu và bạn sẽ tìm thấy dầu mỏ - nhưng một ngày nào đó, có thể là hàng triệu năm sau, nó sẽ trở thành một viên kim cương. Viên kim cương Cape Breton.
“Mẹ ơi, kể cho chúng con về Jitdy và Sitdy nữa đi.”
“Jitdy của các con là cha của ta. Ông và mẹ ta - Sitdy của các con - đến đây với hai bàn tay trắng và đã làm việc rất chăm chỉ. Họ có nhiều con và họ rất giàu có.”
“Sao họ không ở lại đây?”
“Họ nhớ Old Country.”
“Một ngày nào đó chúng ta sẽ đến gặp họ chứ?”
“Khi các con là những người phụ nữ trưởng thành cùng những đứa con của riêng mình, các con có thể đến đó.”
“Mẹ kể về bà Hồi giáo nữa đi.”
“Hồi giáo.”
“Vâng, Hồi giáo.”
“Bà ấy là một người tốt. Tên bà ấy là Mahmoud. Nhiều năm về trước, khi Jitdy của các con còn là một đứa bé, bọn Thổ Nhĩ Kỳ đã đến làng của ông ở Old Country, chúng tìm giết những đứa trẻ Thiên Chúa giáo. Bà Mahmoud đã mang Jitdy của các con đi và đặt ông lẫn vào những đứa con của bà. Khi bọn Thổ Nhĩ Kỳ đến gọi cửa và nói rằng “Có đứa trẻ Thiên Chúa giáo nào ở đây không?”, bà đã nói “Không. Tất cả chúng đều là con của tôi” và để thuyết phục họ, bà đã cho Jitdy của các con bú bằng sữa từ chính ngực của mình. Bọn Thổ Nhĩ Kỳ bỏ đi. Khi ông lớn lên, Jitdy của các con đã lấy tên của bà Hồi giáo để thể hiện lòng biết ơn. Mặc dù ông thực sự theo Thiên Chúa giáo.
“Ôi, mẹ…, chúng con xem hình được không?”
Materia lấy tấm hình chụp của cô và James dưới cánh cổng hình mái vòm kiểu La Mã lúc trước chụp ở tiệm ảnh Wheeler. Mercedes và Frances mân mê tấm ảnh khi cha và mẹ còn trẻ. Trong đầu óc của Frances, cánh cổng mái vòm dẫn đi đâu đó đến vùng Old Country, cũng có thể là đến chiến tranh.
“Khi nào thì cha về?”
“Sớm thôi. Chúng ta phải cầu nguyện.”
Materia nhận được tin tức từ em gái cô, Camille. Camille đã đợi bên ngoài cửa bếp nhà Mahmoud cho tới khi người Do Thái bán thịt uống xong tách trà với mẹ cô như thường lệ hàng tuần. Khi ông đi ra, Camille đưa cho ông một cái hộp vuông nhỏ. Cô nhờ ông đưa cho Materia và vội vàng bỏ đi mà không cần chờ câu trả lời. Benny chuyển nó cho bà Luvovitz và bà đưa cho Materia. Materia đã khóc khi cô mở hộp quà. Một đĩa nhạc tiếng Ả Rập. Cái bìa giấy của nó có vẽ hình Beirut vào ban đêm. Cô háo hức nhìn vào trong và tìm kiếm một bức thư - mong đợi kiểu chữ in của thời con nít ngày xưa và mỉm cười với những kỉ niệm mặc dù nó làm tim cô đau đớn, Camille bé bỏng của chị, “em là người xinh đẹp nhất trong tất cả chúng ta, người đẹp ạ!”. Nhưng cô chỉ tìm thấy một mảnh giấy màu nâu với dòng chữ “Em kết hôn rồi”.
Ít nhất là một lần một tuần, Materia lấy cái đĩa nhạc ra khỏi rương đựng đồ, mang cái máy quay đĩa của Kathleen xuống bếp và mở nó lên. Cô nhấc thanh sắt lên và đặt kim lên chiếc đĩa hát đang quay tròn.
Đầu tiên là một tiền sảnh phủ tuyết tĩnh lặng dẫn lối đến một thế giới khác, sau đó là… Vừng ơi mở ra: điệu deerbeki vang lên, những chiếc chuông rung lên ở cổ chân, chũm chọe leng keng trên tay, cây đàn oud xuất hiện và tỏa sáng, cây đàn hơi bằng gỗ mở ra - tổ tiên không chân của kèn túi vùng cao nguyên, tiếng the thé vang lên trên từng sợi dây đàn đang búng nhè nhẹ theo các hợp âm. Tất cả đan kết và hòa nhịp với nhau tạo thành một bản hợp âm loang lổ cho đến khi một giọng nữ xen vào, vẫn chưa có từ nào cất lên, chỉ có tiếng rên rỉ đan xen giữa sự hân hoan và xót thương nhưng dàn nhạc phải hoãn lại, run sợ trước giọng hát ngọt ngào, mềm mại và đầy cám dỗ “hãy nhảy với em trước khi chúng ta yêu nhau, sẽ sớm thôi!”
Materia đứng dậy và nhảy điệu dabke. Mẹ cô đã dạy cô điệu nhảy này, và Materia đã dạy lại cho Mercedes và Frances. Điệu dabke là một chuỗi những bước ngắn nhịp nhàng liên tục, hông xoay tròn và đong đưa, vai lắc đều đến trước và ra sau, cánh tay lướt nhẹ như những ngọn cây phía trên đầu bạn. Hai bàn tay bạn sẽ mềm mại như rong biển, đong đưa trên hai cổ tay và uyển chuyển xoay vòng, lượn lờ, tán tỉnh lẫn nhau.
Điệu nhảy này sẽ đẹp nhất nếu bạn hơi đẫy đà một chút, nhưng bất cứ ai cũng có thể nhảy được, nó là một điệu nhảy phổ biến. Và mặc dù theo truyền thống thì một người đàn ông sẽ dẫn đầu một hàng các cô gái đẹp thì điệu nhảy này vẫn dành cho tất cả mọi người. Ở lễ cưới, ở lễ rửa tội, người già, trẻ con, bất kì ai. Đó là lí do tại sao đôi mắt lại quan trọng như vậy, bởi vì điểm mấu chốt của điệu dabke là đứng dậy và hòa mình vào trung tâm của đám đông, nơi bạn sẽ nhìn vòng quanh tất cả mọi người cho tới khi chọn được một người để mời nhảy. Sau đó bạn sẽ hạ thấp tay mình dần về phía người đó, bàn tay vẫn vẫy theo điệu nhạc, bạn sẽ lôi kéo cho đến khi người đó đứng dậy và nhảy cùng với bạn vì họ không thể cưỡng lại được nữa. Sau đó thì họ cũng sẽ trở thành trung tâm của đám đông.
Điệu dabke là sự hòa quyện của hông và uyển chuyển của đôi tay khi bạn thấy mình đang ở giữa một đám đông ceilidh, những điệu nhảy bước của vùng Xen-tơ lại toàn dùng chân và đầu gối. Cả hai điệu này ai cũng có thể nhảy được, thậm chí ở trong bếp.
Điệu dabke được Mercedes và Frances đặc biệt yêu thích, chúng có thể nhảy mải miết miễn Materia còn chịu được, mà trong những ngày đầu này thì khoảng thời gian này là rất dài. Cô dạy chúng rất nhiều bài hát Ả Rập cũng như cách hát khẽ chúng trong lúc nhảy. Mánh khóe của nó là điệu nhảy và việc hát không được lặp lại. Một khi biết được điều này thì bạn đã sẵn sàng để học.
Khi cái đĩa nhạc quý giá bị mòn đi, Frances đã phát minh ra cái khác bằng cách dùng một chiếc lược và giấy sáp để làm giả lưỡi gà và dây đàn. Thay vì nghĩ đó là một sự xúc phạm, Materia lại nghĩ đó là một phát minh khéo léo, và nó đúng là vậy.
Áp vỏ sò vào tai, bạn có thể nghe thấy tiếng của Địa Trung Hải. Mở rương đựng đồ ra, bạn sẽ ngửi được mùi của Old Country.