“Cha ơi, mẹ đâu rồi?”
“Ta muốn con là một cô bé chững chạc, Mercedes.”
Điều đầu tiên James làm sau khi đã lôi xác Materia lên phòng ngủ là chạy đi và gọi linh mục đến - không phải cho Materia, quá muộn cho cô ấy rồi - cho đứa bé gái. James đã hiểu ra: có một Đức Chúa Trời. Có một tên Ác Quỷ - sự độc ác cần thiết. Bạn có thể bị nguyền rủa, nhưng ít nhất Chúa Trời có một kế hoạch dành cho bạn.
Phần người khác với phần biết tin tưởng của bạn đang oằn mình dưới sức nặng của tội lỗi không thể cứu vãn và sự vô nghĩa đã từng là ý muốn của bạn; đang ngừng hoạt động; và đó không phải là một sự lựa chọn. Anh có một gia đình với những đứa trẻ mồ côi mẹ đang dựa vào anh.
Anh bảo linh mục đến trước, sau đó anh chạy đi gọi bác sĩ.
Đứa bé gái đang nóng như lửa vì bệnh bại liệt trẻ em. Bất cứ ai cũng có thể bị bệnh này, không cứ gì phải là một trẻ sơ sinh.
Căn nhà được cách ly. Cũng không có gì khác biệt, không bao giờ có nhiều người ra vô nơi này. Nhưng bây giờ là chính thức. Vị bác sĩ lấy bình sơn đen của mình ra và đóng một dấu X lên cửa trước như ông vẫn hay làm trên rất nhiều cánh cửa khác. Mỗi ngày, người ta nhổ nước bọt lên ngưỡng cửa trước và cửa sau nhà mình, tuyên bố rằng, “Không có dịch bệnh trong nhà tôi!” nhưng bùa đã mất đi công dụng. Bệnh dịch ở khắp mọi nơi.
Giành được sân khấu trung tâm từ các diễn viên bình thường khác như bệnh bạch hầu, lao, ban đỏ, và sốt Rickettsia chính là căn bệnh cúm Tây Ban Nha. Không cứ gì phải là người Tây Ban Nha thì mới bị bệnh này. Năm 1918 và 1919, số người tử vong vì bệnh cúm này nhiều hơn so với trong chiến tranh hàng triệu người. Nhiều người tin rằng bệnh này lây lan từ lũ chuột ăn xác chết dưới mương rãnh.
Nghĩa địa lại mọc lên những cây thánh giá nhỏ màu trắng được khắc hình những con cừu thích được vuốt ve. Trẻ em bị ảnh hưởng rất mạnh. Mercedes vừa học xong lớp một. Cô bé đi đến Trường Đức mẹ Đồng Trinh Núi Carmel và mãi cho đến những kì nghỉ hè, nó phải mang khẩu trang giải phẫu đến lớp như những đứa trẻ khác, để không phát tán vi trùng. “Cô Polly có một con búp bê bị bệnh, bệnh, bệnh, nên cô ấy gọi bác sĩ đến nhanh, nhanh, nhanh.” Trên khắp thị trấn, hàng tạp phẩm được đặt ở cuối sân trước cùng với sữa, không ai muốn đến gần ai. Ngay cả bác sĩ và y tá cũng giảm đi như ruồi. Việc phân phối than được giám sát chặt chẽ: nếu một xe than giao đến một đống than mà bạn chưa bao giờ đặt hàng, cẩn thận đó, ai đó sẽ cho cả nhà bạn vào hòm đấy. Nếu một con ngựa đen đột nhiên xuất hiện trước cửa nhà bạn, hãy cầu nguyện đi. Nếu một con ngựa trắng xuất hiện trong đêm, quên nó đi.
Bác sĩ đứng một bên James, nhìn vào cũi. Linh mục đứng phía bên kia. Ông ấy đang mặc lễ phục và tay cầm bình nước thánh và dầu. James không hề biết rằng đứa bé đã được rửa tội. Anh không hề biết rằng đó là điều Frances đã làm lúc ở ngoài sông, anh chỉ biết là con bé rất hư. Về đêm diễn ra đám tang của Kathleen từ giờ anh sẽ không bao giờ đụng đến một giọt nào của bất cứ thứ gì mạnh hơn nước trà nữa.
Linh mục sẽ rửa tội cho đứa bé mà không ẵm nó lên bởi vì di chuyển nó tại thời điểm này của căn bệnh sẽ rất nguy hiểm. Ông ta hỏi James, “Ai sẽ là cha đỡ đầu của cháu bé?”
“Là tôi,” James nói, vì chẳng còn ai khác ngoài ông bác sĩ trong căn nhà bị cách ly này, và ông ấy là người theo đạo Tin Lành.
Giáo hội La Mã linh thiêng đã chờ đợi James rất lâu rồi. Anh nghĩ đến lễ rửa tội ép buộc của mình nhiều năm về trước khi ông lấy Materia. Anh đã bướng bỉnh đứng đó, đầu ngẩng lên trong khi một linh mục lầm rầm đọc, “Tiếng nói Chúa Trời to lớn. Tiếng nói Chúa Trời là quyền uy. Tiếng nói Chúa Trời làm rạp mọi cây Tuyết tùng của Lebanon…”. Anh đã giả vờ chịu đựng điều đó. Nhưng giờ anh biết không hề có tai nạn nào cả, mà đó chỉ là thử thách. Nhà Thờ đầy những kẻ như anh, những người đã nghĩ mình bị nguyền rủa, và rồi họ đã được cứu. Đàn ông vừa là quái vật cũng vừa là người tử vì đạo. Và qua một hành vi cuối cùng - có lẽ xảy ra một cách vô hình từ sâu trong trái tim trong giờ lâm tử - họ đã được cứu. Thậm chí còn được phong thánh.
“Và ai sẽ là mẹ đỡ đầu?” Linh mục hỏi.
James mở cánh cửa đi ra nơi Mercedes đang đợi. Anh gặp nó đang đứng ngay ngưỡng cửa, quay trở lại từ lâu từ cái cũi nóng sôi. Tóc Mercedes được thắt gọn gàng dù không đều lắm, nó vẫn chưa quen tự thắt cho mình. Một cái áo khoác không tay vải bông kẻ màu xanh, đôi vớ màu đỏ vì màu đỏ và màu xanh hợp với nhau.
Linh mục không hề lưỡng lự. Trong con mắt của Giáo hội, một đứa trẻ có thể đứng ra bảo trợ trong trường hợp khẩn cấp, và hơn nữa, em bé này rõ ràng là sắp về với Chúa rồi.
Bố mẹ đỡ đầu phải hứa rằng, nếu có bất cứ chuyện gì xảy ra với bố mẹ ruột của đứa trẻ, họ sẽ nuôi nấng nó với lòng tin vào Giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã. Đây thường là một lời thề mang tính giả thuyết, nhưng không phải đối với Mercedes vì mẹ đã chết rồi. “Giờ mình là mẹ rồi,” cô tự nói với mình. “Và mình vừa xác nhận nên giờ mình đã sẵn sàng rồi.” Tháng Năm vừa rồi, Mercedes mặc một chiếc đầm trắng tinh khôi, mang mạng che mặt, để rồi cùng với tất cả những bạn học sạch tinh tươm tất của mình, cô đã bị phạt bởi giám mục. Đã có ba người bạn học của cô chết đi kể từ lúc đó. Dottie Dugan, cô bé ngồi cạnh Mercedes, đã chết. Dottie có thói quen khác biệt là ăn keo dán và ngoáy mũi, nhưng giờ nó đã là thiên thần của Chúa rồi. Mercedes chọn tên thánh cho mình là Thánh Catherine của Siena dù cô rất thích tên Bernadette, nhưng Bernadette chưa phải là Thánh, đến bao giờ đây? Frances bảo Mercedes chọn Veronica làm tên thánh vì chiếc khăn tay ma thuật của Veronica. “Không phải ma thuật, Frances, là kì diệu.”
Linh mục cúi xuống cái cũi nơi đứa bé đang nằm trên cái giường than bé xíu và ông ta hỏi nó, “Quo nomine vocaris?”
Đứng tại cửa ra vào, Mercedes và James cùng nói thay em bé, “Lily.”
James chưa nghĩ ra tên lót. Không có thời gian. Anh chỉ cầu nguyện rằng đứa bé sẽ có thể lớn lên để dùng cái tên này là tốt lắm rồi.
Linh mục tiếp tục, “Lily, quid petis ab Ecclesia Dei?”
Mercedes và James đáp lại, “Trung thành.” Họ được đặc cách trả lời bằng tiếng Anh vì Mercedes còn quá nhỏ để học những tiếng La-tinh đó - dẫu rằng nếu có thời gian thì cô cũng sẽ cố gắng học.
Mercedes rất mong được nhìn mặt em gái mới của mình. Cô nhìn linh mục cuối xuống và thổi nhẹ ba lần vào trong cũi. Ông ta đang thổi đi những linh hồn dơ bẩn để dọn chỗ cho Chúa Thánh Thần. Người an ủi.
“Exocrizote, immunde spiritus… maledicte diabole.”
Linh mục ban phúc rất lâu cho Lily và cầu nguyện cho nó. Mercedes và James đọc kinh Tin Kính và kinh Lạy Cha. Và rồi linh mục quay lại với những câu hỏi. “Lily, abrenuntias satanae?”
“Con từ bỏ hắn.”
“Et omnibus operibus eius?”
“Con từ bỏ chúng.”
Linh mục xức dầu lên đầu Lily khi bố mẹ đỡ đầu của nó làm chứng cho lòng tin của nó đối với Chúa Thánh Thần, Giáo hội Công Giáo La Mã, các Thánh hiệp thông, sự xóa tội, sự hồi sinh của thể xác và sự vĩnh cửu của sự sống. Cuối cùng ông ta rắc nước nước Thánh lên cái trán nóng bừng. Nước lẫn vào dầu và sôi lên trên đó khi linh mục rửa tội cho nó, “in nomine Patrick, et Filii, et Spiritus Sancti.”
Khi linh mục quay sang Mercedes, cô bé run rẩy trước tầm quan trọng của khoảnh khắc này và đưa cho James bọc vải satanh trắng quý báu mà cô đã ôm chặt trong tay từ đầu đến giờ. Là chiếc áo rửa tội của gia đình, James trao chiếc áo cho linh mục. Vì Lily quá yếu không thể mặc áo được, nên linh mục chỉ đặt hờ chiếc áo lên người nó và nhắc nhở nó nhận tấm áo này và không bao giờ được làm vấy bẩn.
Như vậy, cùng với cha mình, ở tuổi lên bảy, Mercedes chịu trách nhiệm về linh hồn của Lily Piper.
“Con không muốn cha chết đâu,” Frances nức nở, da diết vì người cha đáng thương, hai đứa con gái nhỏ của cha bị lạc giữa rừng với lá làm mền và không có gì để ăn. Cô khóc vì những chú chim tội nghiệp, những con sóc buồn bã và vì cha đáng thương không thể cứu con mình. Hôm nay cô ấm hơn mọi ngày.
“Frances, chị sẽ không để em trở thành trẻ mồ côi đâu.” Frances khóc to hơn khiến Mercedes bắt đầu thấy lo.
“Em muốn mẹ về-ề-ề-ề-ề.”
Mercedes vuốt bím tóc bù xù và thì thầm, “Không sao đâu, con ngoan, có mẹ đây.” Frances thôi khóc.
“Giờ chị là mẹ của em,” Mercedes nói.
Frances nằm yên một lúc lâu, rồi cô nói, “Chị đâu phải.”
“Phải, em yêu à.”
Frances cuộn tròn như trái banh.
“Mẹ đây,” Mercedes thầm thì, “Mẹ đây.”
Frances chụm hai đầu gối sát vào nhau. Cô biến chân tay mình thành những cành cây nhỏ cứng cáp. Biến xương sống thành một cành cây dẻo dai và da mình thành một lớp vỏ cây mới. Không được khóc.
Frances không bao giờ khóc đòi mẹ nữa từ sau đêm đó.
“Mẹ ra đi là một điều tốt,” Frances thầm nói với chính mình, nghĩ đi nghĩ lại trong đầu những điều khủng khiếp mà cô không tài nào nhớ nổi - kết những sợi chỉ vào với nhau tạo thành một chiếc áo choàng xinh đẹp rực rỡ. “Vì nếu có mẹ ở đây, thể nào mẹ cũng sẽ biết mình đã hư thế nào.”