Frances đang mặc lại bộ đồng phục Thanh Nữ Anh của cô trong cái kho lạnh cóng của nhà chứa vào một đêm tháng Ba năm 1932. Dù phải chịu lạnh hơn nhiều người khác, nhưng cô vẫn hoan nghênh cái lạnh vì nó làm cho bộ quần áo của cô trông thật mới. Tối nay cô hơi bị hoảng hồn một chút: một giọng nữ yếu đuối ập xuống người cô y như một con sứa, “Mày là đồ bỏ đi.”
Frances nhìn lên. Miếng vá đen trong màn đêm đó rõ ràng là Camille.
“Ồ, chào dì Camille.”
“Mày là đồ rác rưởi.”
Frances kéo đôi vớ len khêu gợi của mình lên. “Dì cũng giống tôi trong lốt chồn thôi, dì yêu ạ.”
“Sao mày không chết đi.”
Frances phá lên cười và bỏ đi.
Khi nhìn Frances trong bộ đồng phục Thanh Nữ Anh lần đầu, thật khó mà tin được Frances đã mười tám tuổi chứ không phải là một đứa trẻ mười hai. Cái nhìn thứ hai, khó mà tin rằng Frances đã từng là một đứa trẻ. Camille nhìn con bé bỏ đi và tự hỏi, chị mình đã làm gì để phải chịu như vậy? Nhưng còn mình thì sao? Mình đã làm gì để phải sống như vầy chứ?
Khi người con gái đầu của Mahmoud Materia bỏ đi theo tên khốn enklese,
Mahmoud gả người con gái thứ hai cho Tommy Jameel, nghĩ rằng hắn là người Libăng là đủ rồi. Đã không hề đủ, giờ Mahmoud đã nhận ra điều đó. Jameel không phải con rể gì của ông cả.
May là ông vẫn còn đến ba người con gái nên vẫn có thể bù đắp cho phần hai người đầu. Tất cả họ đều hạnh phúc. Hai người có chồng là người Canada Libăng tử tế đến từ Sydney và người nhỏ nhất lấy một bác sĩ - enklese, nhưng tốt. Và con trai của ông đều hạnh phúc: họ lấy ba người vợ người Canada: một người Libăng, hai người Acadian. Một con trai của ông làm linh mục, Chúa cao quý. Đến giờ ông đã có đến bốn mươi đứa cháu, trong đó hai bốn đứa mang họ Mahmoud, mười lăm đứa trong số này là con trai. Lạy Thánh Ala.
Camille lẽ ra đã được chọn chồng. Thực sự cô là người đẹp nhất trong gia đình có nhiều con trai đó. Cô có thể đã là Camille MacNeil, Camille Shebib hay Camille Stubinski. Thay vào đó, cô là Camille Jameel. Cô không đổ lỗi cho cha - người mà cô tôn sùng. Và làm sao cô có thể đổ lỗi cho Materia, người cô đã thần tượng hóa? Vậy cho nên cô ghét Frances, đồ gái hư sống trên đời này chỉ để bôi nhọ hình ảnh của Materia tội nghiệp.
Camille là một phụ nữ đơn giản chỉ mong được sống một cuộc sống giản đơn. Thế nhưng cô lại có một cuộc đời đầy phức tạp. Cô cười rúc rích và chớp mắt và hãy xem mọi thứ đã đưa cô đến đâu? Nhà chứa hỗn tạp của Jameel. Cưới cô, James nhận được từ cha một khoản hồi môn hậu hĩnh, nhưng chỉ có Chúa mới biết được số tiền đó đã đi đâu. Camille không có tài. Cô đã có thể giỏi những thứ mà cô nên giỏi. Thế giới không nên được thiết lập để đòi hỏi nữ anh hùng, và khi một người được yêu cầu nhưng lại không thể trở thành nữ anh hùng thì ta không nên đánh giá họ. Chúng ta chỉ nên nói, tội nghiệp Camille, cô ta đã biến thành một con quỷ cái như nhiều người khác - và tránh xa cô ra.
Trong tim cô, dẫu vậy, vẫn còn chút hy vọng. Một nơi quang đãng trong rừng rậm. Không phải khi cô nhìn năm đứa con trai của cô, những đứa bám ngay lấy cha chúng khi vừa đủ lớn để vác một cái thùng hay đi đưa tin. Không phải khi cô nhìn chồng cô, người đã chẳng màng cạo râu ngay trong đêm tân hôn - người kiểm tra cơ thể cô và tấm trải giường ngay sau đó để chắc chắn mình không bị gạt. Nơi quang đãng trong tim cô là nơi Camille ngừng lại như một chú nai và chờ đợi được cha trông thấy.
Đêm sau đó, bóng đen hôm trước lại đứng đợi trong nhà kho. Frances thực sự thấy hơi lo lắng - Camille là loại phụ nữ chỉ ngồi yên một chỗ và xách búa lên lúc nào không ai biết.
“Chào dì Camille, cháu giúp gì được không?”
“Mày là đồ chết tiệt.”
“Chao ôi, bộ đồ dì mặc xinh quá.”
“Mày là một điều hổ thẹn của cha tao.”
“Ông ấy sao rồi ạ? Cháu luôn muốn ghé sang chơi.”
“Mày không xứng đáng bước chân vào nhà cha tao.”
Frances gài khóa cái túi Thanh Nữ của mình lại và bỏ đi. Camille vừa cho nó một ý tưởng mới.
Địa chỉ có trong sổ điện thoại. Frances tìm đường đến một căn nhà trên đồi. Frances đu từ hàng rào qua bên cây. Rồi từ cây đu qua bức tường - chỉ có một ụ than nhỏ xíu để núp. Nhưng bên trong căn nhà của ông nó thì thực sự có khá nhiều nơi để núp. Và cả nhiều thứ để trộm nữa, khó mà biết phải bắt đầu từ đâu.
Có một cái lò sưởi ở trên bức tường trong căn phòng khách sang trọng. Người ta có thể thấy Frances ở trong phòng dễ dàng những ô nhỏ làm bằng sắt rèn, nhưng không ai nghĩ đến chuyện nhìn cô. Cái tủ nằm bên dưới cầu thang chứa đầy những thứ đen và mềm mại. Khi hé mở cánh tủ ra, rất dễ phát hiện một dải sọc trắng mỏng hiện rõ trên nền đen. Đó chính là Frances đang đứng trong tủ nhìn lén ra bên ngoài. Những bàn tay lần vào tủ tìm kiếm áo lông thú và khăn choàng đã vuốt qua những lọn tóc xoăn của cô và vẫn không ngừng tìm kiếm vì nghĩ đó chỉ là lông cừu đã qua xử lý. Và nếu như, một đêm nào đó, người chủ căn phòng ngủ lớn nhất trên lầu thức giấc và tự nhiên nhìn xuống gầm giường, ông ta có thể sẽ thấy cô nằm đó, hai tay bắt chéo ngực, mắt nhìn chằm chằm vào vị trí trái tim của ông đang ngủ yên. Đó là nếu cô không đang nhìn lén ông qua những thanh đồng ở chân giường.
Frances say sưa ngắm cái khung hình tựa dài ra của ông ngoại mình, da của ông mang màu sắc và sự mềm mại của một con chó săn luống tuổi. Cô không thể thấy được mẹ mình đâu ngoại trừ ở màu da, ở đôi mắt đen lay láy - dù mắt ông hơi sắc hơn - và mái tóc màu lam pha xám gợn sóng của ông. Cô nhói đau vì bỗng dưng cảm thấy mong muốn được gặp bà ngoại và tự hỏi làm sao người ta lại có thể nhớ thứ mà họ chưa hề có được kia chứ. Dẫu sao, cô cũng ngạc nhiên khi nhận ra một sự tương đồng của gia đình: có gì đó của Mercedes trong những góc độ của cơ thể ông Mahmoud, dáng người và xương sống thẳng tưng của ông.
Frances kết luận rằng không phải lần đầu, cô là một đứa trẻ thay thế cho đứa trẻ đã bị bắt đi mất.
Cô bé luôn mang quà về cho Lily, khi thì là một cái lược dát bạc có răng làm từ mai rùa, khi là một chiếc nhẫn đá mặt trăng, và khi lại là một dải viền.
Lily vuốt ve dải viền đen nhánh như thể nó là một sinh vật bị chết đột ngột vì hoảng sợ.
“Cái đó của mẹ đó,” Frances nói.
“Cho em được không?”
“Nó là của em đó.”
“Chị lấy nó ở đâu vậy?”
“Chị tìm thấy một cánh cửa lật giống trong truyện Nghìn lẻ một đêm. Nó dẫn đến một khu vườn dưới lòng đất. Ở đó mọi thứ em có thể nghĩ ra đều mọc lủng lẳng trên cây. Nữ trang, tóc… Và cả những em bé chưa được sinh ra nữa.”
Lily cho rằng đây là chỉ là cách Frances nói về cái mỏ than kiểu Pháp cũ. Nó không thích nghĩ đến việc Frances ở đó một mình, tìm kiếm kho báu. Cướp bóc những người đã chết. Lili nài nỉ xin theo nhưng Frances nói rằng khu vườn Ả Rập là một “nhiệm vụ đơn độc”. Tuy nhiên khi Frances mang về cho Lily một hạt ngọc trai, Lily bắt đầu lo lắng vì điều này có nghĩa là Frances đã bắt đầu lặn xuống nước. Nó sợ rằng Frances có thể có ý định chết chìm dưới cái hồ trong mỏ than kiểu Pháp cũ. Lily biết việc uống nước dưới hồ có sức hút mạnh mẽ đến mức nào nên nó nhờ Ambrose canh chừng Frances. Làm ơn nhé, em trai, hãy cứu chị Frances thân thương nhất của chúng ta khỏi bị chết đuối như em đã cứu chị.
Lần đầu tiên Frances đi suốt đêm không về, Mercedes phát điên lên. Cô thay chiếc đầm ngủ ra rồi lại vào, vò đầu bứt tay và vài lần đi ra đến giữa phòng khách - nhưng vì không biết phải tìm ở đâu nên cô nhanh chóng quay trở lại chỗ cầu nguyện của cô ở bàn bếp. Hơn nữa, lỡ Frances gọi điện thoại về ngay lúc cô đi ra ngoài thì sao?
Mercedes giữ sự bất an của mình trong yên lặng để khỏi khiến cha phải lo lắng trong khi đang trong một giấc ngủ sâu khác thường và cần thiết trên chiếc ghế bành. Vào buổi sáng, Lily đi xuống và thấy Mercedes đang lột vỏ củ hành ở bàn bếp.
“Chị đang nấu món gì vậy, Mercedes?”
“Không gì cả, Lily, đi ngủ đi.”
“Trời sáng về chưa ạ?”
Mercedes vô tình quệt mắt bằng bàn tay dính hành và không thể làm gì khác ngoài nuốt nước bọt ừng ực.
“Mercedes -”
“Chị chỉ đang xắt hành thôi, Lily, đừng ngốc thế.”
“Đừng lo lắng quá về Frances, Mercedes, em đã nhờ Ambrose trông chừng chị ấy rồi.”
Mercedes kéo Lily vào và ôm nó. Lily cảm thấy có vật gì đó cứng đang cạ vào xương sống của nó - Mercedes quên bỏ con dao gọt vỏ xuống - nhưng Lily quá lễ phép nên không thể nói gì cả. James đi vào bếp, hai tay chà vào nhau, sảng khoái dù một đêm ngủ ngồi trên ghế vẫn còn ghi dấu lại trên quần áo ông, “Ai thích ăn thịt xông khói và trứng nào? Ta sẽ nấu.”
“Ôi cha ơi,” Mercedes nói, “đừng lo về Frances, con bé chắc chắn sẽ về thôi.”
Và nó đã về, vào chiều hôm đó, với một diễn viên múa balê chạm khắc nhỏ xíu làm quà cho Lily.
Bây giờ thì Mercedes đã thôi lo lắng khi Frances biến mất như một con mèo vào ban ngày, tự tin rằng con bé đang được dõi theo qua sự can thiệp đặc biệt của Lily. Mercedes coi đó như là một dấu hiệu khác và thêm nó vào bản báo cáo đang ngày càng dài thêm mà nó sẽ đưa cho giám mục một ngày nào đó.
Mahmoud không bao giờ nhớ đến dải viền vì ông còn không biết đến sự tồn tại của nó sau khi Materia bị khai trừ. Frances đã tìm thấy nó bên dưới lớp vải lót bằng nhung đỏ ở đáy hộp nữ trang của Giselle. Một sự thoát hiểm trong gang tấc.
Mahmoud nằm trên giường và ngủ thiếp đi ở bên kia căn phòng. Frances đứng cạnh bàn trang điểm của người bà quá cố của mình và ngắm nhìn những đồ đạc bày ra trước mắt. Bàn chải bạc, lược và gương cầm tay. Một chiếc hộp nữ trang bằng gỗ hồng sắc. Cô mở nắp hộp và lật lên một dàn nhạc quay và một vũ công balê váy hồng. Frances đậy nắp hộp lại ngay tức khắc và quay người lại nhìn ông Mahmoud rên ư ử, lăn qua và nhìn thẳng vào cô. Họ cứ ở yên như thế, trừng mắt nhìn nhau, cho đến khi cô nhận ra là ông vẫn đang ngủ. Cô vẫy vẫy ông. Cô đưa một ngón tay về phía ông. Cô quay lại chỗ cái hộp nữ trang và hơi hé mở nó ra một khoảng bằng sợi tóc - đúng vậy, giờ thì cô đã có thể nhìn thấy vũ công bé nhỏ đang nằm úp mặt. Frances luồn một ngón tay qua khe hở và giữ cô vũ công nằm im ở tư thế thiên nga chết trong khi từ từ mở nắp và bắt đầu cướp bóc. Cô kiểm tra cái đáy giả để tìm tiền sót lại, lật tấm lót nhung đỏ lên, và cô đã tình cờ tìm thấy dải viền màu đen cuộn tròn trong cái tổ nạm ngọc như thế. Chắc chắn đây là đồ của mẹ rồi vì nếu không vậy thì tại sao nó lại bị giấu đi chứ? Đồ dùng của những cô gái thất lạc thì luôn bị cấm tiệt mà. Frances nhét dải viền và mấy món trang sức vào chiếc túi Thanh Nữ Anh của mình, chỉ để lại một sợi dây ngọc trai thật. Cô tách con búp bê vũ công balê ra khỏi đế, đôi chân nhọn của cô ta kéo theo một mảng nhung đỏ. Con bé đã tính đặt nó lên gối của ông Mahmoud như một món quà kỳ quái của bà tiên răng, nhưng đã nghĩ lại rằng Lily có thể thích nó. Cuối cùng, cô cầm sợi dây ngọc trai lên và cẩn thận cắn đứt. Cô lấy ra một viên ngọc, sau đó cuộn phần còn lại vào chiếc hộp gỗ hồng sắc đáng ra đã trống rỗng và nhẹ nhàng nhón chân ra khỏi phòng với chiến lợi phẩm của mình.
Tuy nhiên, thứ Frances thực sự muốn trộm hay bị trộm lại chính là Teresa, người vẫn đang làm việc cho Mahmoud. Teresa của cây kẹo trắng và đen. Nữ hoàng Teresa, trong lốt một cô hầu gái. Frances không hề bị gạt bởi cái ví nhiều tiền và cái đầm giản dị của cô. Với người có khuôn mặt giống như Teresa, việc mặc những trang phục tầm thường đến nỗi chỉ có thể làm tôn lên nét đẹp của người mặc thì cũng hầu như vô ích. Khi nhìn thấy Teresa dùng chìa khóa riêng mở cửa bếp vào nhà lần đầu tiên, Frances chắc chắn một điều kì quặc là giờ Teresa đã trở thành bà Mahmoud - bà ngoại kế của mình! Nhưng Teresa về nhà lúc sáu giờ tối hôm đó, sau khi đã dọn xong bữa tối cho ông Mahmoud, và Frances nhận ra rằng cô ấy có nhà riêng để về - với những đứa trẻ may mắn trong đó nữa, chắc chắn là vậy.
Có một cánh cửa bếp dẫn xuống hầm và Frances rất thích ngồi sau những đốm sáng của cánh cửa để nhìn Teresa làm việc. Cô cứ nhìn như vậy hàng giờ, đến khi mắt cô chuyển sang nhìn cục bột Teresa đang nhào, hay cái ly Teresa đổ sữa vào, hay cái tạp dề Teresa chùi tay lên. Một lần cảnh tượng đó yên bình đến nỗi Frances thiếp đi và lăn cù mèo trên những bậc thang dẫn xuống tầng hầm. Cô trốn đi khi Teresa đi xuống để xem tiếng ồn ào đó là gì, và mặc dù Frances khát khao được nói, “Là con, con tự làm đau con đó,” thì tất cả những gì nó có thể nói chỉ là, “Meo meo.”
Một ngày nọ, một người đàn ông đến và ăn trưa tại bàn bếp trong khi Teresa làm việc. Tên cậu ta là Ginger - “Lại đây nào, Ginger cưng.” Anh ta là cưng của cô nhưng không phải chồng cô - Teresa gọi ông Mahmoud trong phòng khách, “Em trai của tôi đang ở đây, thưa ông.” Ginger mặc bộ đồ liền nhưng không phải là một thợ mỏ, anh ta trông quá khỏe mạnh. Frances nhận ra anh ta ngay lập tức - anh ta là người từng đưa đón Kathleen đi học bằng chiếc Ford mô-đen T màu đen. Anh ta đã chở Kathleen về vào ngày Teresa cho Frances cây kẹo sọc trắng đen. Anh ta gọi Teresa và họ cùng nhau lái xe đi và Kathleen đã lấy mất cây kẹo của Frances và quăng nó xuống sông. Thậm chí Frances còn nhớ tối hôm đó họ đã ăn gì nữa - bánh pa-tê thịt nướng và bầu dục. Frances tự hỏi tại sao những chi tiết ngu ngốc như bữa ăn tối lại dính chặt trong đầu mình khi mà có những chuyện khác cô sẵn sàng đánh đổi bất cứ gì để có thể nhớ thì lại không, như lần cuối cô cảm nhận sự vuốt ve của mẹ chẳng hạn.
Ông Mahmoud đi vào khi Leo ở đó và nói, “Chào Leo” - và Frances gần như mất thăng thằng trên mấy bậc thang lần nữa vì giật mình bởi hình ảnh của hai người đàn ông vừa va mạnh vào nhau trong đầu nó. Frances thấy cái tên in phía sau chiếc xe tải chở rượu đậu trước lò nấu rượu của James, sau đó chiếc xe tải biến thành chiếc Ford Mô-đen T nhưng những chữ in thì vẫn còn rất rõ: “Vận tải Leo Taylor.”
Anh ta nói, “Xin chào, ông Mahmoud.”
Mahmoud hỏi với giọng nặng nề của mình, “Anh đã nhận được yêu cầu đặc biệt của tôi chưa?”
“Chắc chắn là rồi ạ, thưa ông Mahmoud, và mạnh như ông thích.”
Sự ngạc nhiên khi nhận ra Leo Taylor ảnh hưởng đến cô bé còn mạnh hơn sự sửng sốt của cô khi thấy ông ngoại tu ừng ực thứ chất lỏng đựng trong một cái chai màu nâu theo “yêu cầu đặc biệt”. Frances có thể đã không bao giờ coi ông là một bợm rượu. Ông ấy không phải bợm rượu, hẳn rồi, đó chỉ là bia gừng mà thôi. Và khi Teresa rót rượu ra ly cho mình và em trai, Frances mới nhận ra rằng bên cạnh sự thật cô vừa phát hiện ra thì cô còn đang khát nước nữa. Khi nhìn thứ nước vàng óng sủi bọt trượt qua môi Teresa rồi chảy róc rách xuống cổ họng cô, Frances thấy thèm vô hạn. Leo Taylor nhấm nháp ly của mình thật chậm rãi, từ tốn.
Frances nhìn và nhớ lại lúc cô nói với Lily rằng bố ruột của con bé là một người da đen ở vùng Coke Ovens. Người cô nghĩ đến chính là Leo Taylor, sau khi gặp anh ta ở lò nấu rượu của James. Cô kể chuyện này với Lily để tìm xem sự thật có đúng vậy hay không. Như chuyện con mèo-màu cam ngày xưa - nó đã làm Ambrose ngạt thở ra sao, và cha đã chôn nó trong vườn. Như câu chuyện về mẹ đã dìm chết Ambrose dưới sông như thế nào, và câu chuyện về cái mỏ than kiểu Pháp cũ. Frances cần phải nói ra một câu chuyện để phỏng đoán xem có bao nhiêu sự thật bị che giấu bên dưới bề mặt của nó.
Trên những quãng đường chật hẹp lên căn gác xép vào đêm, Frances đã thấy một bức tranh mà cô không hề biết cô đang sở hữu: Kathleen với cái bụng thẫm màu đỏ và đen, tóc bết dính, hai em bé nhỏ xíu còn sống nằm giữa hai gối của chị ấy. Không còn ai trong bức tranh nữa ngoại trừ một người đang nhìn nó - người đó chắc là mình. Có một giọng nói nằm sâu trong trí óc Frances, kêu la xin được cất lên. Nhưng cô vẫn chưa để giọng nói đó phát ra được, nó chỉ mới là một tiếng thở dài, thở ra một câu hỏi. Câu hỏi là, những đứa trẻ xuống được dưới sông bằng cách nào vậy, Frances? Giọng nói đang đến gần hơn. Cô đến bậc thang đầu tiên. Vừa muốn nhấn chìm giọng nói đó xuống lại vừa muốn được giúp để gặp nó, Frances tự kể một câu chuyện khác.
Đứng ở đỉnh cầu thang dẫn xuống tầng hầm nhà ông ngoại, ngay sau khe cửa, nhìn ngắm Teresa và em trai cô uống bia gừng, Frances lầm rầm trong cổ họng to và nhanh như Mercedes đang cầu nguyện: Kathleen là mẹ của Lily, tại sao Ambrose chết chìm thì chúng ta không biết được, Kathleen không kết hôn, chị ấy có một khối u trong bụng nhưng thực sự không phải vậy, có một người cha bí ẩn, đó là Ginger - anh ta là tái xế của chị và họ đã yêu nhau trên đường đến trường, chính vì vậy mà cha không cho chơi thứ nhạc da màu trong chiếc rương đó - ông gửi Kathleen đến thị trấn New York nhưng Ginger lái xe tải đi theo, cha lại đưa chị về, nhưng đã quá trễ, chị đã qua đời vì hai đứa trẻ song sinh - các cháu có biết Ông Ginger không, Ông Ginger, Ông Ginger, các cháu có biết Ông Ginger không, ông ta sống ở Đường Ginger. Amen Lily và Ambrose.
“Về nhé Ginger yêu”, Teresa nói vọng ra từ cửa bếp, “lái xe cẩn thận nhé.”
Teresa rửa ly và Frances nhẹ nhàng đi xuống hầm. Phần nào câu chuyện cô kể là thật. Và có phần thì thật vừa đủ. Frances sẽ tìm ra nơi anh ta sống và sẽ tự mua cho mình một thùng bia gừng.
Cô bò lên đống than và nhảy ra ngoài, hòa vào ánh nắng chói chang.
Ginger nhìn thấy một cô gái nhỏ đi trên Đường Biển giữa New Waterford và Sydney. Cô bé đi lang thang trên mép đường ngó nghiêng khắp hướng trừ hướng nó đang đi. Sao cô bé lại được phép đi lang thang trên xa lộ một mình như thế thay vì ngồi trong lớp học chứ? Cha cô là ai? Mẹ cô đâu? Lạ ở chỗ lúc nào cô bé cũng mặc bộ đồng phục Thanh Nữ Anh trong khi trông con bé chỉ ở tuổi Chim Non chứ chưa đủ lớn để là một thành viên Thanh Nữ Anh.
Lần thứ ba Ginger đi qua, họ cùng đi về một hướng và anh chạy chậm lại một tí, nghĩ về việc cho cô bé đi nhờ một đoạn, nhưng lại quyết định không làm vậy vì sợ sẽ làm cô hoảng hốt. Tuy nhiên, cô ngẩng đầu lên nhìn chiếc xe tải chạy phía trước, và anh thấy mặt cô bé qua kính chiếu hậu. Nó làm anh thấy đau lòng quá đỗi. Ai lại có thể để cô con gái nhỏ của mình một mình tha thẩn trên Đường Shore hết ngày này qua ngày khác vậy chứ? Anh sẽ không làm thế đâu. Anh có ba cô con gái: hai đứa tuổi Chim Non và một đứa tuổi Thanh Nữ.
Anh rùng mình và lái xe đi. Anh liếc nhìn chiếc huân chương Thánh Christopher đang đung đưa trên kính hậu. Ginger chưa bao giờ gặp tai nạn khi lái xe, anh là một tài xế giỏi, nhưng gần đây anh lại thấy đường đi thật kỳ quặc. Trước đây tự nhiên mà anh nhìn vào con đường và lái xe một cách thản nhiên như chớp mắt, như hít thở, nhưng giờ giống như anh thấy con đường tách rời từng mảng khi bánh xe anh lăn qua. Hai bên đường, mỗi hòn đá, mỗi cái cây đứng tách biệt, và anh đã mất luôn thói quen mong chờ thấy con đường trải rộng ra quanh khúc cua. Lái xe là cuộc sống của anh - anh không thể để mình hoảng sợ được.
Ginger bắt đầu thấy bất ổn kể từ chuyển đi cuối cùng đến New York. Chưa bao giờ anh thực sự thoải mái, hay thực sự tỉnh táo kể từ lúc đó. Cứ như có một cánh cửa sổ mở toang trong đầu anh, để mặc cho gió lùa vào. Anh không thể với ra để đóng nó lại được. Nhưng anh lại có thể nhìn ra ngoài cửa, dù rằng tất cả những gì anh thấy là sương mù dày đặc. Nó tràn vào đầu óc anh, vây kín sự thoải mái và khiến cho anh run rẩy. Tuy vậy, anh vẫn cứ nhìn mãi. Bởi vì ở đâu đó trong sương mù, anh cảm nhận được có thứ gì đó đang nhìn lại anh.
Vợ anh, Adelaide, biết rằng có gì đó không ổn nhưng làm sao Ginger có thể giải thích cho vợ điều mà chính bản thân anh cũng không rõ? Anh nghe loáng thoáng tiếng nhạc từ New York. Điều đó nghe thật điên rồ, anh biết vậy, nên ít nhất anh đã giữ kín điều đó cho riêng mình. Âm nhạc có thể mê hoặc người ta không nhỉ? Có. Mọi người đều biết vậy. Và họ sẽ cười nhạo anh nếu anh nói ra điều đó.
Khi đó anh ở trong một hộp đêm ở Harlem. Anh có khá nhiều thời gian rảnh trong lúc chờ đợi chở một kiện áo váy về cửa hàng tạp hóa Mahmoud trên đường Pitt. Bất cứ lúc nào Ginger ở một nơi có đầy người da đen, anh lại thấy như trút khỏi gánh nặng mà anh chỉ nhận ra khi nó không còn đè nặng lên anh nữa. Anh đi lên đại lộ Lenox lòng nhẹ nhõm. Ở Harlem này Ginger thấy thật hạnh phúc nhưng không kém phần cô độc. Ở nhà và xa nhà trong cùng một lúc. Anh vào một hộp đêm trên đường số 135, là một nơi đón chào người da đen cả ở hàng ghế khán giả chứ không chỉ trên sân khấu. Một bộ ba đang biểu diễn thứ âm nhạc yên tĩnh cho một đám đông yên tĩnh. Khung cảnh chung cực kỳ không bình thường. Không có trò vui trên sàn diễn, không có tiếng kèn hay tiếng hi-de-ho. Chỉ có piano, ca sĩ hát tông trầm và sáo. Ginger đứng yên lắng nghe.
Người chơi piano là người chơi chính của nhóm. Một người đàn ông gầy nhom với những ngón tay đẹp và cổ tay điêu luyện. Thật tốt là anh ta đã chọn chơi giữa dàn nhạc. Chương trình này không dành cho tất cả mọi người và người nghệ sĩ piano kia đã không mặc một bộ trang phục mới từ rất lâu rồi. Cái quần mòn chỉ, cái áo hở ra để lộ một cần cổ dài đẹp đẽ. Cái mũ phớt màu xám đậm chếch xuống, và quanh chân nón là dải lụa màu xanh lục bảo.
Ba phút hay ba giờ sau gì đó, Ginger nhận ra bài hát đó là “Honeysuckle Rose”, nhưng vẫn chưa thể phân biệt được tay trái với tay phải khi cầm ly bia của mình lên. Điều kì lạ là khi nghe nhạc Ginger cảm thấy thật thân thuộc, đầm ấm. Nếu như bài hát này là để hát tập thể thì chỉ mình anh ta cũng đã hát quá hay rồi.
Đương nhiên anh ta không hề tuyên bố là mình am hiểu âm nhạc hay gì cả. Nhưng khi người nghệ sĩ kia lướt tay trên phím đàn chơi giai điệu giữa các vì sao tiếp theo, Ginger đã phải dừng lại và lắng nghe.
Vào đêm lái xe về lại Cape Breton anh mới nhận ra có vết nứt đang xuất hiện trong đầu, và đến hai lần anh phải tự nhắc mình ngừng xe khi hết đường đi: một lần vì đã đến lúc xuống phà, và lần thứ hai là vì đã đến nhà anh. Anh ôm Adelaide chặt như thể cô là thức ăn cứng đầu tiên anh được ăn sau nhiều tuần.
Tuy nhiên, anh vẫn chưa thể rũ bỏ sự lo lắng, và những hình ảnh như cô gái Thanh Nữ Anh nhỏ bé đi lạc đang làm anh phiền muộn thậm chí còn nhiều hơn bình thường. Lần thứ ba nhìn thấy cô bé, Ginger định kể cho Adelaide nghe, nhưng anh quên khuấy đi và vào ngay đêm hôm đó anh đã mơ thấy cô. Anh thấy gương mặt trắng gầy guộc đến gần trong kính hậu - đôi mắt xanh nâu nghiêm nghị, một vết tàn nhang trên mũi. Gương mặt đó giống một đứa trẻ, nhưng lại già dặn một cách vô cùng khó hiểu. Đó là gương mặt buồn nhất anh từng thấy. Ginger bật dậy dù rằng đó không phải một cơn ác mộng. Lần đầu tiên anh có ý nghĩ cô bé Thanh Nữ Anh là một con ma. Cô đang nói gì với anh qua ánh mắt đó? “Tôi đã chết như vầy nè… Hãy cầu nguyện cho tôi.” Ginger vuốt mặt - nó ướt nhưng toàn thân anh lại không nên đó chắc chắn không phải mồ hôi trộm. Lạ quá. Anh sang kiểm tra những đứa con đang say ngủ của mình. Khi quay trở lại giường anh nhìn ngắm người vợ với mái tóc nhuộm đã phai màu của mình đang ngủ trong tư thế sẵn sàng đánh nhau. Cảm ơn Chúa vì Adelaide.
Ginger dự định bữa trưa ngày hôm sau sẽ kể cho chị gái Teresa nghe về cô bé Thanh Nữ và về giấc mơ của anh khi anh mang bia gừng đến thết đãi Mahmoud, nhưng anh lại quên mất.
Jameel liếc nhìn Frances. “Chi vậy?”
“Cứ cho tôi biết đi.”
Frances đã đánh thức ông vào giữa trưa, da ông ta vàng như mặt trời.
“Tại sao?”
“Vì nếu ông không nói thì tôi sẽ đốt trụi căn nhà khốn kiếp này của ông.”
Jameel nhổ toẹt chất nicotine còn vương lại của tối qua. “Cô nên cẩn thận, tôi chỉ nói vậy thôi, vợ của Leo Taylor xấu tính lắm đó.”
“Tôi không quan tâm đến vợ anh ta.”
“Hắn sống trong một căn nhà màu tím trên đường Tupper.”
Frances quay người đi; Jameel lắc đầu cảnh báo, “Đừng có mà khóc với tôi nghe chưa.”
Nhưng cô không đếm xỉa đến ông ta.
Ginger giật bắn người khi anh rời mắt khỏi vỏ sò trong tay đứa con nhỏ nhất của mình và nhìn thấy cô gái Thanh Nữ Anh đang đứng trong sân sau nhìn chằm chằm vào anh. Cô ta là ma. Cô ta muốn gì chứ?
“Cho tôi một ít bia gừng được không?”
Adelaide đi ra cửa sau. “Cô muốn gì?”
Frances nhìn cô. Mái tóc hung đỏ của người phụ nữ cho Frances thấy khả năng nhìn thấu tâm can người khác. Tốt nhất không nên trả lời.
Adelaide không rời mắt khỏi Frances. “Ginger à, nó là ai vậy?”
“Anh không biết, em yêu.” Nói rồi anh ta quay sang Frances, “Cô tên gì, cô bé?” Frances bỏ đi. Đứa trẻ đi theo cô nhưng Ginger đã bế nó lên.
Adelaide và Ginger nhìn Frances đi ra khỏi con hẻm, sau đó Adelaide nói, “Nó không phải một cô bé.” Và đi vào nhà.
Muối
Thứ đầu tiên Mahmoud chú ý là một trong những chiếc lược bạc đã biến mất. Điều đó dẫn ông đến chỗ chiếc hộp đựng nữ trang bằng gỗ hồng sắc. Ông mở nó ra. Một cái cây kim loại trơ trụi bật thẳng lên và xoay theo giai điệu bài “Điệu Valse Kỷ Niệm”. Chiếc hộp chẳng còn gì ngoài chuỗi ngọc trai. Lắc đầu bàng hoàng, ông chụp lấy những hạt ngọc - chúng trượt ra khỏi sợi dây chắc chắn và văng tung tóe trên sàn nhà.
“Teresa!” Ông gào lên.
Cô lên ngay lập tức, chùi hai tay, những hạt burghul màu trắng bám chặt hai tay cô - cô đang nấu món kibbeh - và khoảnh khắc sau đó cô vẫn còn may là ông vẫn chưa gọi cảnh sát: “Cuốn gói đi đi.”
Mahmoud liên lạc với con gái út của ông và cô lập danh sách những người thay thế từ những người phụ nữ trong họ. Dù người trong gia đình rất nhiệt tình chu đáo, nhưng dọn dẹp chăm sóc một ông già cả ngày lại là chuyện khác. Họ sẽ phải trả lương cho những người bà con này bởi đại gia đình Mahmoud thành công đến nỗi không có người phụ nữ nào rảnh rỗi, loanh quanh làm việc không công cả.
Cả hàng người gồm những cô gái Ai-len và những cô gái da màu và những cô gái quê diễu qua trước mặt ông nhưng dường như Mahmoud không thể chọn được một Teresa mới, thành ra chỉ còn Camille có thể thế vào chỗ trống đó. Cô bây giờ thực sự rất giống một góa phụ.
Điều làm Mahmoud tức giận chính là đã để mình bị ảo tưởng vì quá tin vào Teresa - nghĩ rằng cô ta khác. Đó là lúc con rắn độc tấn công. Lẽ ra ông không bao giờ được quên màu da của cô ta. Họ có thể là những người tử tế, tốt bụng nhất thế gian, nhưng cũng như trẻ con, họ không nên được giao quá nhiều trọng trách. Theo cách đó thì họ là loại phụ nữ thậm chí còn tệ hơn đàn ông nữa - điều này nhắc ta nhớ, không biết liệu người em trai của cô ta có móc nối với chị hắn không nữa.
Ở tuổi Mahmoud lúc này thì việc giảng giải từng chuyện nhỏ nhặt cho những người họ hàng nữ mà nhiệm vụ chăm sóc ông là chuyện khó chịu vô cùng. Họ đều đã cố hết sức nhưng thực tế đáng nguyền rủa ở đây chính là không ai có thể hiểu ông bằng Teresa. Và - đây mới là điều kinh khủng nhất - không ai có thể nấu món Li Băng tuyệt như cô ấy. Hơn cả vợ của ông, Xin Chúa phù hộ cho linh hồn bà ấy, và Xin Chúa tha thứ cho con. Teresa dường như đọc được ý nghĩ của ông. Cô làm mọi thứ thật dễ dàng. Và Mahmoud biết rằng, khi đến lúc thích hợp, ông có thể đã chấp nhận sự chăm sóc nhiệt tình của cô mà không mảy may màng đến phẩm giá của mình nữa. Giờ cô ta là một phụ nữ tốt. Và giá cô ta là bao nhiêu? Hơn cả hồng ngọc. Quỷ tha ma bắt. Đổi lại chỉ là vài món nữ trang rẻ tiền thì làm được gì chứ? Ông đã sẵn sàng cho cô ta tất cả của cải nữ trang và - ta đang nghĩ gì vậy chứ? Ta đúng là một ông già ngu ngốc. Và ta được gì chứ? Một cái mông nếu ta không cẩn thận. Ta cần con gái mình trong lúc như thế này, máu mủ ruột rà của ta, chuyện này đã minh chứng cho điều đó.
Mahmoud đau lòng khi thấy rằng những vụ trộm vẫn tiếp diễn sau khi Teresa đã ra đi. Chúng xuất hiện trở lại theo sau sự săn sóc ngày càng thường xuyên của Camille con gái ông.
Mahmoud tự trách mình. Nếu ở Old Country thì ông sẽ không bao giờ gả con gái mình cho Jameel, bởi vì ở đó sự khác biệt chủ yếu giữa hai gia đình sẽ rất rõ ràng.
Nhà Jameel là người Ả Rập. Còn nhà Mahmoud ta thật ra là mang gốc Địa Trung Hải nhiều hơn. Gần cái gốc người Châu Âu hơn. Những sự phân biệt như vậy thường dễ bị mờ nhạt đi ở nước mới, nơi bạn mở rộng vòng tay với người anh em từ quê nhà nói cùng một ngôn ngữ đẹp đẽ với mình. Thứ ngôn ngữ hài hước một cách quyến rũ có cả đất và nước trong đó. Thật nhẹ nhõm biết bao khi được ngồi xuống ăn cơm hay chơi bài cùng ai đó, một Jameel chẳng hạn, mà cùng nói tiếng giống ta. Thật là một sự giải thoát khỏi thứ tiếng Anh lạnh lùng đó, thứ tiếng không khác gì việc ngâm giọng mình trong nước đá khi nói. Và rốt cuộc thì, bạn cũng chỉ là “những người Syria da đen” trong mắt người enklese. Chỉ khi đã quá muộn màng Mahmoud mới nhận ra rằng những tiêu chuẩn Old Country của ông đã bị bào mòn đến mức ông đã gả đưa con gái xinh đẹp nhất của mình cho một tên Ả Rập bán văn minh dơ bẩn. Thật tội cho Camille, một đứa con gái ngoan chỉ sinh toàn con trai, và sinh tận năm đứa - thật lãng phí. Và ông đã mất Teresa.
Mahmoud ngồi cạnh giường ngủ của mình, để mặc nước mắt tuôn rơi. Ông đã lên tận đây để khỏi phải gặp một đứa cháu gái làm việc cẩu thả. Ông ngồi trên chiếc ghế được bọc vải cùng loại với tấm trải giường - theo thị hiếu của Giselle, theo kiểu nhà quê ở Pháp, Xin Chúa phù hộ linh hồn bà ấy - và mắt ông hạ xuống bản sao chép của tác phẩm Đôi tay cầu nguyện của Dürer được khắc trên gỗ dái ngựa treo trên tường. Vợ ta đã mua nó. Một cơn rùng mình xa xăm dành cho Giselle lại khiến nước mắt trào dâng bởi vì đó là bàn tay của Teresa.
Cứ khóc đi, khóc cho hết một lần. Rồi hãy quỳ xuống và tạ ơn Chúa vì con gái
Camille của ông đã bị thằng chồng vô dụng của nó đầu độc để trở thành một kẻ trộm vặt, và vì ông đã đuổi việc Teresa vì tội của Camille. Hãy tạ ơn Chúa, vì ông biết rằng nếu không thế thì ông đã sớm cầu hôn Teresa.
Mahmoud trượt khỏi ghế và quỳ phịch xuống sàn nhà. Chắc chắn là Chúa đã can thiệp vào khi những hạt ngọc trai biến mất, vì nếu tự Mahmoud nghĩ thì ông đã không bao giờ tin được rằng tên trộm lại có thể là một phụ nữ mà ông đã giao phó tiền bạc trong nhà trong suốt mười lăm năm qua. Chính Chúa đã khiến những lời đó thốt ra từ miệng ông. Tạ ơn Chúa. Uyên thâm vô cùng, nhân từ vô cùng, con không xứng đáng với điều đó.
Mahmoud quỳ gối và úp mặt vào hai bàn tay cầu nguyện của mình mà khóc. Dưới gầm giường, Frances lắng nghe với sự thích thú.
Teresa cũng đang khóc, nhưng là khóc vì tức giận. Cô ngồi trên chiếc ghế tình nhân của nhà mình bên dưới bức ảnh Bridgetown vẽ tay và tự hỏi sẽ làm gì sắp tới. Tệ hơn việc mất việc làm là việc thanh danh của cô bị hủy hoại. Và giá của nó là gì chứ? Bị buộc tội oan. Và là vì điều gì đó ẩn sâu bên dưới cô và cái xuất xứ của cô. Sao ông ta dám chứ? Ông già đáng ghét. Cũng chỉ như những người khác thôi, thậm chí còn tệ hơn nữa. Tên Syria độc ác, ti tiện, bẩn thỉu - ôi Chúa kính yêu, con đang cố gắng nhưng Người lại làm mọi chuyện khó khăn thêm. Làm sao có thể vừa sống vừa tha thứ cho được chứ?
Sự việc luôn kết thúc theo cách này: người không da màu không thể chịu đựng được khi một người da màu quá giỏi việc gì đó. Teresa tự trách bản thân đã quá tin rằng Mahmoud không thể thiếu cô được. Sự kiêu hãnh dâng lên cao trước khi rơi tòm xuống đáy. Cô đã làm cho ông ta mọi thứ. Cô nhớ tất cả tên và tất cả ngày sinh nhật của mọi đứa cháu của ông, và mua tặng hàng đống món quà dưới tên ông. Cô nhớ người con trai nào thích món gì và nấu đúng món đó khi họ đến nhà ăn tối. Cô biết khi nào nên vá một chiếc vớ và khi nào thì nên quăng nó đi, cô biết chỗ ông để cái kẹp cà vạt kim cương và cặp mắt kính đọc sách của mình, cô gửi tiền của ông vào ngân hàng, chi trả các hóa đơn và làm mềm vết chai ở chân ông. Nếu cô không làm công việc của mình quá tốt như vậy thì Mahmoud đã không bực bội với cô và sa thải cô với lời bịa đặt ác ý. Ông ta sẽ làm vậy. Ông ta đã đuổi việc cô vì lười biếng “giống như tất cả bọn người như cô”. Dù thế nào thì chuyện cũng sẽ kết thúc y như vậy, để cho bạn phải liếm muối và cầu xin Đức Chúa Giêsu giúp xóa đi lòng thù hận.
Hector đưa tay ra lau đi giọt nước mắt vương trên má cô, việc này làm cô òa khóc lần nữa. Họ cưới nhau đã mười ba năm rồi. Suốt cả ngày Hector chỉ ngồi yên dưới tấm mền đợi cô về. Tạ ơn Chúa về Ginger, Adelaide và những đứa con của họ, tạ ơn Chúa về những người hàng xóm tốt bụng, nếu không có họ chắc Hector đã chết vì cô đơn từ lâu rồi.
Hector đã không bị đuổi việc, chưa từng bị buộc tội oan và, không giống như Ginger, anh không bao giờ phải kiếm sống bằng những cách thức bất hợp pháp. Hector đã có một công việc tốt tại một nhà máy thép. Anh và Teresa lấy nhau được mười bốn tháng thì một thanh xà lỏng lẻo rơi xuống trúng đầu anh. Giờ anh chỉ đi được vài bước nếu có người vịn tay, nhưng hầu hết là anh được đẩy đi bằng xe lăn.
Hector và Teresa đã hoãn lại việc có con vì lúc đó anh sắp trở thành một bộ trưởng và họ sắp chuyển đến New York, có những đứa con quốc tịch Mỹ và một cuộc sống tốt đẹp hơn. Teresa vỗ nhẹ tay Hector, rồi đi lấy một cái tả mới cho anh trong cái tủ bằng vải lanh. Đã từ lâu cô không còn nghĩ đến chuyện những đứa con của họ sẽ trông như thế nào.
Jameel xông vào phòng ngủ của Boutros ở tầng hai và nói, “Bảo Leo Taylor tối nay đến đây và mang theo một thùng bia gừng.”
Boutros đang đứng cạnh cánh cửa sổ đang mở quay người lại đáp, “Con sẽ tự đi lấy, cha.”
“Câm miệng lại và làm điều tao nói đi.”
“Tại sao chứ?”
Jameel bước đến và nện một cái rõ đau vào sau đầu Boutros, “Tại như vầy đây.”
“Ui da.”
Jameel cười và giải thích, “Em họ của mày muốn hắn, nhóc ạ.”
Boutros không nói gì. Jameel lắc đầu, Chúa ơi, tôi phải giải thích mọi thứ thật cặn kẽ cho đứa trẻ này, y như mẹ nó vậy - Nữ hoàng nhà chứa, Frances chết tiệt đó, nhóc ạ, nó thích tên da đen đó.”
Boutros run rẩy. Nhưng với một người đồ sộ như Boutros, thật khó mà nhận ra điều đó. Nó mười chín tuổi. Nó sắp hết kiềm chế nổi ý định dùng dây nịt quật vào bố nó nữa rồi. Jameel cười nhạo Boutros, hai tay ôm lấy mặt nó, ép chặt hai má nó và tát yêu nó, “Làm như bố nói đi, mau lên.”
Jameel ra khỏi phòng và Boutros quay trở lại bên cánh cửa sổ mở toang. Nó cầm một cái thùng dầu cũ kỹ để trên gờ cửa và tưới cho xong những cây cúc vạn thọ và dã yên thảo của mình.
Cái tên Boutros có nghĩa là Peter. Và Peter có nghĩa là tảng đá. Và trên tảng đá này, Jameel đã dựng nên bình rượu của mình. Làm con trai đầu là vận rủi của Boutros. Nó có đến bốn đứa em trai. Hầu hết bọn chúng đều giống y như Jameel và vì vậy rất thích hợp để làm con đầu, ngoại trừ đứa giữa rõ ràng đang có ý định trở thành một linh mục. Boutros mơ ước có thể dành dụm đủ tiền để mua một nông trại; cưới được chị họ Frances và đưa cô và mẹ nó, Camille, về một miền quê, nơi họ sẽ sống thật hạnh phúc. Họ sẽ có thật nhiều con và nó sẽ yêu tất cả bọn họ, nhưng đặc biệt nó sẽ yêu vợ nó, và làm cho những năm tháng cuối đời của mẹ nó trở thành thời gian hạnh phúc nhất. Về bề ngoài Frances chỉ là một con điếm say xỉn ăn mặc lòe loẹt, nhưng Boutros thấu hiểu được điều đó vì nó yêu cô và dự định sẽ cứu lấy cô một ngày thật gần.
“Cha muốn ông tối nay đến và mang theo một thùng bia gừng.”
Ginger ngước lên nhìn Boutros đang đứng choán hết cả cánh cửa. Adelaide nói vọng ra từ trong bếp, “Tự lấy đi, anh bạn.”
“Cha muốn ông đến.”
“Được rồi Addy, anh sẽ về ngay thôi.” Ginger đi lấy áo khoác.
“Không phải bây giờ,” Boutros nói, “sau nửa đêm hãy đến.”
“Chi vậy?” Adelaide thắc mắc.
“Tôi không biết, bà Taylor, cha tôi nói vậy.”
“Em sẽ bắt ông ta trả tiền,” Adelaide nói và chế thêm nước sôi vào tách Teresa Adelaide đang làm bánh nhân thịt băm và đề nghị hãy lấy thùng đập lão già Mahmoud một trận.
Ginger nói với Boutros, “Nói với ông ấy ta sẽ đến.” Nhưng Boutros không đi ngay. Nó đứng đó nhìn xuống Ginger một lát. Cuối cùng nó quay đi không nói một lời.
“Hai người có thấy không?” Ginger hỏi những người phụ nữ trong lúc quay lại bàn ăn. “Trố mắt nhìn tôi cứ như tôi là ma vậy?”
“Cái nhà đó đúng là điên rồ,” Adelaide nói, không chỉ nghĩ đến ông già tham lam đã đuổi việc Teresa mà còn nghĩ đến Camille xấu xa - đã sống cả hai mươi năm ở vùng Coke Oven này nhưng cô ta chưa bao giờ chào hỏi bất cứ một ai. Rồi cả nhánh của nhà đó ở New Waterford nữa. Thật tệ khi Ginger phải dính líu đến bất cứ ai trong mấy người đó.
“Xin Chúa bao dung với họ,” Teresa vòng hai tay quanh tách trà và nói.
“Bao dung cái chân của em này,” Adelaide đáp, “lại đây cưng.” Adelaide đặt một dĩa bánh Muffin Nellie trước mặt Ginger. Anh tặng cô một nụ hôn rồi ngồi xuống và đưa cái bánh ngon nhất cho Hector, Hector nhận chiếc bánh vui cười thích thú.
Adelaide đã nấu tất cả những món Nova Scotia đơn giản nhưng ngon lành đó. Cô là người của một cộng đồng có tên là Africville ở Halifax. Cô rất tự hào về dòng máu tôi trung với Liên Minh Đế Chế Ai-len Châu Phi của mình. Tự hào vì được rửa tội ở Vịnh Badford, và không bao giờ chán kể chuyện về vụ nổ năm 1917 - tôi đã không chết là vì một lý do: để đấm vào mũi anh đấy, anh bạn - để nhảy với anh đêm nay, cưng ạ - để thấy con cái của tôi lớn lên.
Sau đó, khi vợ chồng Teresa và Hector đã về và đã cho bọn trẻ đi ngủ, Adelaide nói mà không nhìn anh, “Đừng đến đó, Leo.”
“Anh phải đến, cưng ạ.”
“Vậy thì quay về ngay, nhớ đừng la cà ở đó.”
“Anh không muốn làm thế đâu.”
“Lại đây nào,” cô nói và nhìn anh say đắm.
Anh mỉm cười và tuân lệnh cô.
Ginger mang thùng rượu tới trước cửa nhà chứa của Jameel. Anh ghét nơi này. Anh có thể nghe thấy âm thanh phát ra từ buổi tiệc bất thường đang diễn ra bên trong. Ở ngoài này anh có thể ngửi được cả mùi say xỉn trong đó, nó y như mùi đồ ăn sống khiến người ta buồn nôn. Anh thấy thương cho vợ của Jameel.
Sau khi nghĩ thật kỹ, anh quyết định đi vòng cửa sau. Ginger không hề thích việc dùng cửa hậu tí nào, nhưng trong trường hợp này thì anh thà làm vậy còn hơn đi vào từ cửa trước và bị chú ý bởi đám đông mà hễ khi có ai đi vào lại quay ra nhìn như một con thú hung tợn - đừng quan tâm đến ả điếm có mùi trẻ con bệnh hoạn bên đàn piano. Mình nên bỏ cái nghề này cho rồi - để xem mình có thể tìm được việc gì ở nhà máy thép hay không. Nhưng Ginger biết chắc rằng anh sẽ không bao giờ tìm được việc gì ở đó hay là ở nơi khác. Cả người da trắng cũng khó mà tìm được việc.
Bụng anh thắt lại khi anh bước vào kho lạnh và nhìn thấy bộ đồng phục Thanh Nữ Anh dơ dáy vắt bừa trên những cái thùng nhỏ cùng với vớ, nón bê-rê, và cái túi nhỏ. Theo bản năng anh đợi trông thấy một cơ thể trần truồng - đây là điều thường xảy ra với những bé gái không được coi sóc, lẽ ra mình nên điều tra xem con bé là con ai, lẽ ra nên cho nó đi nhờ… Khi không thấy cô bé đâu, anh mới bình tĩnh lại một chút. Nhưng như vậy đâu có nghĩa con bé chưa từng bị một tên say xỉn nào đó trong quán Jameel lôi ra ngoài và cưỡng hiếp. Ginger bỗng thấy tức giận - vì đang làm việc cho một kẻ như Jameel và vì đang giúp một nơi như vậy tồn tại và hoạt động trong vùng anh sinh sống, nơi hai cô con gái nhỏ của anh đang lớn lên từng ngày. Ginger đập cửa. Boutros mở cửa và nói: “Cha đang ở đằng kia.”
Ginger vác thùng chen qua đám đông, đi ngang qua cô gái điếm đang chơi đàn piano - “Jeepers creepers, where’dya got those peepers?” - và đưa mắt tìm Jameel. “Jameel, chuyện gì xảy ra với cô bé mặc bộ đồng phục Thanh Nữ Anh đó rồi?”
“Cậu nên gọi ta là ông Jameel đó chàng trai ạ.”
Ginger bỏ cái thùng xuống và túm lấy cổ áo Jameel.
“Cô bé đâu rồi, đồ độc ác?”
Ginger nhận thấy hơi đau sau cổ và thứ mà mắt anh đang nhìn là đôi giày của Boutros. Jameel cúi xuống nhìn anh và cười. “Hắn muốn mọi chuyện thật-tệ!”
Một giọt nước mát lạnh nhỏ trên trán Ginger. Anh ngẩng lên nhìn. Cô gái điếm trong bộ tóc giả màu cam đang nốc ừng ựng một chai bia gừng. Anh nhìn thấy phần dưới cằm trắng ngần và cái cổ áo đầy ghét của cô.
“Cô ta ở ngay đây nè, chàng Leo,” Jameel cười khẩy, “Mời cậu thưởng thức. Phải trả bằng tiền mặt đó nhé.”
Con bé nhìn xuống Ginger với đôi mắt nâu xanh nghiêm nghị. Bọt bia vàng óng còn vương trên khóe miệng đỏ tươi dơ bẩn của cô. Anh lấy hai tay bịt mắt mình.
“Anh nghỉ việc, anh không lái xe nữa đâu,” là tất cả những gì Adelaide nghe được từ miệng anh hai mươi phút sau đó.
Anh cần phải khóc nên cô để anh khóc. “Anh đã làm việc quá sức rồi, nghỉ ngơi một chút đi nhé, được không anh?”
Anh chỉ có thể gật đầu và khóc nức nở với cô cho đến khi ngủ thiếp đi.
Adelaide ôm anh. Tính từ chuyến đi New York cuối đã được năm tuần rồi. Có gì đó không ổn.
Đến sáng, mọi chuyện cứ như một cơn ác mộng. Anh kể với Adelaide, “Jameel có một cô bé đang làm gái ở quán của hắn.” Adelaide lắng nghe. “Và điều đó làm anh liên tưởng đến những đứa trẻ nhà chúng ta và chuyện gì sẽ xảy đến nếu -”
“Em hiểu, anh yêu.” Anh ấy quá nhạy cảm rồi. “Sao hôm nay anh không nghỉ ngơi đi?”
“Anh không sao, Addy, anh ổn mà.” Nói rồi anh chui vào xe tải.
Anh lái đi và nhận ra rằng mình đã quên kể cho Adelaide điểm mấu chốt của câu chuyện - đó là đứa trẻ làm gái chính là cô bé mặc bộ đồng phục Thanh Nữ Anh đã đến nhà họ hôm nọ, và anh đã thấy nó trên đường và trong kính chiếu hậu trong giấc mơ đêm nọ. Nhưng anh đã quên. Và Adelaide đã nói gì về cô bé Thanh Nữ Anh hôm nọ nhỉ? “Nó không phải một cô bé.” Ừ rõ ràng là không phải thật, giờ thì anh đã biết.
Tối về mình sẽ kể Adelaide nghe, anh nghĩ, và rẽ vào đường Shore.