(Phiên bản shinsho*
Iwanami Shoten phát hành)
Chú Thích: Phiên bản bìa mềm bỏ túi theo quy chuẩn của Nhật, thường có hai kiểu kích thước 106 mm x 173 mm, hoặc 103 mm x 182 mm.
Từ khi còn nhỏ, tôi đã không thể đọc được sách.
Những cuốn sách chỉ toàn chữ là chữ lại càng kinh khủng. Cứ lật các trang hồi lâu là tôi bắt đầu khó chịu, trống ngực đập thình thịch, tay vã đầy mồ hôi, bụng dạ nôn nao. Có thể nói, tôi mắc hội chứng sợ đọc sách.
Vì thế tôi đã gặp nhiều khó khăn trong suốt quãng đời học sinh của mình, bởi môn nào cũng kèm theo một cuốn sách giáo khoa chi chít chữ. Với những môn chỉ cần nghe giảng và chép bài thì không sao, nhưng với những môn bắt buộc phải đọc sách giáo khoa như Tiếng Anh hay văn học hiện đại thì điểm số của tôi lẹt đẹt vô cùng. Chỉ cần nghe thấy cụm từ “đọc hiểu” là tóc gáy tôi dựng đứng hết cả lên.
Tôi đã từng trao đổi với mẹ và thầy cô về vấn đề này, nhưng nhận về toàn lời an ủi, rằng đã ghét đọc sách rồi thì đành chịu vậy, mỗi người một khuynh hướng riêng là lẽ dĩ nhiên thôi, nên tôi không cần lo lắng thái quá làm gì.
Tôi biết ơn trước sự thông cảm ấy, nhưng gia đình và nhà trường đã hiểu sai vấn đề. Tôi không ghét đọc sách, ngược lại còn thiết tha muốn đọc, chỉ là thể chất tôi kháng cự hoạt động đó mà thôi.
Việc bị hiểu lầm, một phần là do tôi giải thích không đủ rõ ràng, một phần khác là vì bề ngoài của tôi. Trông tôi xa lạ với sách vở. Dù ở bất cứ nơi nào, tôi cũng cao lớn hơn, vạm vỡ hơn mọi người xung quanh. Nhìn qua thì dễ dàng bị xếp vào loại đầu óc ù lì tứ chi phát triển, cho nên thường xuyên được tuyển đi thi đấu hoặc tham gia lễ hội thể thao, chưa kể suốt ngày bị các câu lạc bộ thể thao mời chào gia nhập.
Nhưng, sự thật là tôi không hề có hứng thú với các môn vận động. Tôi thích sách và thời đi học còn đăng kí làm thành viên thường trực của thư viện trường, lo việc sắp xếp giá sách, một việc mà chẳng ai thích làm. Bấy giờ thú vui của tôi là đứng trước các giá, tuần tự lướt mắt khắp dãy gáy sách. Chỉ cần tưởng tượng nội dung chứ đừng lật xem bên trong, thì tôi sẽ không sao cả.
Kể ra thì, “cơ địa” này của tôi không phải là bẩm sinh. Nó bắt đầu từ khi nào, tôi nhớ rõ. Nó liên quan đến bộ Soseki toàn tập, cũng chính là khởi đầu cho câu chuyện của tôi.
Chuyện xảy ra trước khi tôi vào tiểu học, trong một ngày xuân rả rích mưa phùn. Bấy giờ, tôi đang đọc sách một mình trên phòng khách tầng hai.
Có lẽ tôi nên giới thiệu sơ qua về ngôi nhà ngày ấy đã.
Nhà tôi ở Ofuna, khu vực nằm gần ranh giới giữa hai thành phố Yokohama và Kamakura. Du khách đi tàu JR chặng Tokyo - Kamakura nhất định phải đi qua nơi này.
Trên ngọn đồi thoai thoải nằm gần ga Ofuna có một pho tượng bán thân Quan Âm lớn. Xung quanh có hệ thống đèn chiếu để làm tượng thêm bề thế, nhưng nếu thình lình bắt gặp khuôn mặt trắng lóa đó qua tán cây, người ta cũng không khỏi giật mình. Ofuna, trừ việc nằm trong tầm mắt ti hí của pho tượng Quan Âm suốt 24 tiếng đồng hồ một ngày ra, thì gần như chẳng có gì đặc biệt.
Ngày xưa, ngoài tượng Quan Âm, Ofuna còn một điểm đặc sắc nữa là sở hữu một trong những trường quay phim ít ỏi của Nhật Bản, nhưng nó đã bị bỏ hoang từ khi tôi học cấp hai. Tôi chẳng biết gì về phim ảnh nên cũng không tường tận lắm, có điều theo lời bà ngoại kể thì đấy là nơi đã có đóng góp lớn cho thời là hoàng kim của điện ảnh Nhật Bản.
“Quán cơm Gora” nằm sát trường quay này chính là nhà tôi. Chúng tôi bán những món Nhật đơn giản bình thường, kiểu như katsudon* rắc đậu Hà Lan kèm củ cải muối.
Chú Thích: Cơm thịt heo cốt lết chiên xù.
Cụ ngoại tôi là người mở quán, rồi bà ngoại tôi tiếp quản. Nghe nói ngày xưa quán nhộn nhịp nhờ có nhân viên trường quay thường xuyên sang ăn cơm, nhưng kể từ khi tôi bắt đầu nhớ được thì, nói một cách dễ nghe, quán không thể gọi là đông khách.
Nguyên nhân không phải là do khách hàng đánh giá không tốt, mà là vì trường quay sản xuất ngày một ít phim, nhân viên cắt giảm theo nên cuối cùng, quán vắng đến nỗi bà tôi không thuê người làm nữa mà tự mình quán xuyến toàn bộ công việc.
Bà ngoại, mẹ và tôi, cả nhà ba người sống ở tầng hai của quán cơm. Bố mất trước khi tôi ra đời, mẹ bèn quay về nhà ngoại ở Ofuna và sinh tôi ở đấy. Nhân tiện thì, cái tên “Daisuke” của tôi là do bà ngoại đặt.
Mẹ làm việc ở một công ty thực phẩm bên Yokohama, nên người một tay nuôi dạy tôi chính là bà. Từ việc cầm đũa ăn đến tư thế gập người cúi chào, hễ làm sai là bà sẽ trút cho cả chục bài giáo huấn. Nói chung, dẫu là đứa cháu trai duy nhất của bà, tôi cũng chưa từng được bà cưng chiều. Tôi nhớ là thế.
Bà tôi trông hiền từ với cái cằm đầy đặn, nhưng ánh mắt lại sắc sảo đến lạ. Dung mạo giống hệt pho tượng Quan Âm trên đồi.
Rồi, quay lại với câu chuyện đang kể dở, hôm ấy tôi ngồi một mình trên tầng hai xem sách tranh, không nhầm thì là cuốn Guri và Gura*. Cho đến ngày hôm đó, cho đến giây phút đó, tôi vẫn là một đứa bé ngoan ngoãn thích đọc sách. Ngoài sách tranh ra, tôi nhớ là mình còn đọc vài cuốn văn học cho trẻ em có chứa phiên âm cho các chữ Hán, và hễ ra tiệm sách là tôi đều nài nỉ người lớn trong nhà mua sách mới cho tôi.
Chú Thích: Tác giả Nakagawa Rieko, minh họa Yamawaki Yuriko. Guri và Gura là tên hai nhân vật chính, hai con chuột đồng. Bản tiếng Việt do IPM phát hành năm 2017.
Sau khi đọc hết đống sách có trong tay, tôi bắt đầu thấy chán. Lúc ấy là cuối giờ ăn trưa, dưới nhà vọng lên tiếng khách lao xao và tiếng ti vi. Muốn ra ngoài chơi nhưng trời lại mưa nên đành thôi. Tôi rời khỏi phòng khách, lẻn sang phòng bà ở cuối hành lang. Đó là một căn phòng nhỏ kiểu Nhật quay mặt về hướng Bắc, trần thấp. Nhà chúng tôi đã xây đi sửa lại, cơi nới nhiều lần nên cấu trúc của các căn phòng có nhiều chỗ không được bình thường cho lắm.
Bà ngoại từng cảnh cáo tôi là không được tự tiện vào phòng bà, nhưng tôi vẫn cố tình vào đó, với mục đích tìm sách mới để đọc.
Có một chiếc tủ to nằm choán hết một mặt tường, dĩ nhiên trên ấy xếp đầy sách của bà. Thời còn con gái, người bà trông giống Quan Âm Bồ Tát của tôi từng là một thiếu nữ yêu thích văn chương. Nghe nói có bao nhiêu tiền tiêu vặt nhận được khi phụ giúp quán ăn gia đình, bà đều dành dụm để mua sách.
Sách của bà phần lớn là tác phẩm văn học từ thời Minh Trị và Đại Chính*, tôi bé bỏng của ngày ấy dĩ nhiên không thể nào đọc được số sách này rồi. Tuy nhiên, nhiều sách như thế biết đâu lại có một hai cuốn cho thiếu nhỉ? Ấp ủ hi vọng ấy, tôi lẻn vào phòng bà tìm kiếm.
Chú Thích: Thời kì Minh Trị (1868-1912). Thời kì Đại Chính (1912-1926).
Tôi rút từng cuốn sách ra, lật lươn lướt để kiểm tra vì vẫn chưa đọc được chữ Hán. Xem xong, tôi vứt bừa ra xung quanh chứ không cất chúng vào vị trí cũ, cuối cùng tôi cũng chẳng biết là mình đang tìm sách hay đang bày trò nghịch ngợm với đống sách nữa.
Mãi tới khi tủ sách đã trống lỗ chỗ, tôi mới để ý đến một cái hộp xếp đầy những cuốn sách cỡ bỏ túi đặt ở ngăn dưới cùng. Lúc ấy tôi có một niềm tin tưởng kì lạ rằng, sách nhỏ như vậy chắc là sách cho thiếu nhi đây! Tôi ghé sát mặt vào để xem nhan đề in trên gáy. Hầu như đều là chữ Hán, chỉ duy nhất một cuốn có tên viết bằng chữ mềm*. Tôi chầm chậm đọc từng chữ một, “Từ...ấy...”
Chú Thích: Tức là chữ Hiragana, chỉ cần học thuộc bảng chữ cái là đọc được. Chữ Hán thì vì nhiều nét, cùng một chữ lại có vài cách đọc khác nhau nên khó học hơn. Trẻ em sẽ tiếp xúc với chữ mềm và chữ cứng (Katakana) trước khi học chữ Hán.
Sách gì đây? Đang định rút nó ra xem thì một giọng nói trầm thấp vang lên phía trên đỉnh đầu khiến tôi giật thót.
“Cháu làm gì thế?”
Tôi quay lại thì thấy bà đứng đó, trong bộ đồ nấu bếp, nhìn xuống tôi. Bà lên tầng hai từ lúc nào nhỉ? Ánh nhìn từ đôi mắt hẹp dài y hệt mắt Quan Âm Bồ Tát khiến tôi sợ đến phát run, cuối cùng ngã phịch xuống chiếu giữa mấy chục cuốn sách nằm bừa bãi xung quanh.
Ngoài việc cấm tôi vào phòng, bà còn dặn tôi thêm một điều khác nữa mà tới giờ tôi mới sực nhớ, rằng dù sơ suất bước chân vào phòng bà đi chăng nữa thì cũng không được động tới sách vở ở đây, bởi đó là những thứ quý giá nhất đối với bà.
Tôi biết mình nên làm gì trong trường hợp này. Bà nghiêm khắc thật đấy, nhưng nếu tôi thành khẩn xin lỗi thì bà sẽ bỏ qua thôi, giống như cái lần tôi đem tất cả đống ghế dưới quán ăn xếp thành đường hầm để chơi. Nghĩ vậy, tôi quỳ xuống chiếu, nói “Xin lỗi bà” và cúi đầu thật thấp.
Thế nhưng, bà phản ứng khác hẳn dự đoán của tôi. Bà thô bạo túm lấy vai tôi, kéo dậy rồi tát liền hai cái vào mặt bằng tất cả sức lực của một người trưởng thành khiến tôi ngã chúi xuống, tay chân đập mạnh vào đống sách xung quanh. Tôi còn chưa kịp khóc, bà đã lại túm dậy, kéo tôi lại gần đôi mắt Quan Âm Bồ Tát trợn trừng với bảy phần lòng trắng làm tôi sợ đến nỗi suýt tè ra quần. Đó là lần đầu tiên tôi bị bà đánh như thế, cũng là lần cuối cùng.
“Cháu không được phép đọc cái này.” Bà quắc mắt nhìn tôi, nói bằng giọng khô khốc. Như để khẳng định, bà cảnh cáo thêm, “Nếu tái phạm, cháu sẽ không còn là con cháu nhà này nữa đâu.”
Tôi gật đầu, im thin thít.
Thành thật mà nói, tôi không phải là nhà tâm lý học nên khó lòng khẳng định được rằng sự cố kể trên đúng là nguyên nhân dẫn đến “cơ địa” của mình. Cho đến ngày trưởng thành, câu hỏi “liệu đây có đúng là nguyên nhân không” vẫn cứ luẩn quẩn trong đầu tôi. Chỉ biết sau khi hứng chịu cơn thịnh nộ khủng khiếp của bà, tôi bắt đầu mắc hội chứng sợ đọc sách. Dĩ nhiên, tôi cũng không vào phòng bà thêm lần nào nữa.
Chẳng rõ bà phát hiện ra sự thay đổi của tôi từ bao giờ, vì chúng tôi không hề đả động gì đến chuyện ấy trong suốt những năm qua. Có thể nó cũng là một kí ức không mấy vui vẻ đối với bà.
Một ngày nọ, tôi vào bệnh viện gần nhà thăm bà, thì bà bỗng dưng chủ động nhắc tới chuyện năm xưa. Tính đến lúc ấy, cũng phải hơn mười lăm năm rồi.
“Cái hôm đánh cháu... Bà đã quá ngạc nhiên vì bắt gặp cháu ở phòng bà. Cháu chưa bao giờ vào đó cả, đúng không?”
Bà nói như thể đang đề cập đến một chuyện mới xảy ra tuần trước, đột ngột tới mức tôi phải mất một lúc mới nghĩ ra là bà đang nói về chuyện gì.
Cả tôi và bà, so với hơn mười lăm năm trước, đều đổi khác đi nhiều lắm. Tôi trưởng thành và dĩ nhiên cao lớn hơn xưa, còn bà tôi, dáng nhỏ bé sẵn nay lại càng gầy gò. Sức khỏe ngày một yếu nên số lần bà tạm đóng hàng cơm cũng nhiều thêm lên. Ngoài trời mưa lâm thâm báo hiệu mùa mưa đã về, mà cứ đến thời điểm chuyển mùa là bệnh đau đầu của bà tái phát. Lần này, vì đau mãi không khỏi, bà phải nhập viện để kiểm tra theo dõi. Trong khi đó, tôi bận rộn với hành trình tìm việc. Vừa quay về từ buổi giới thiệu công ty là tôi vào đây thăm bà luôn nên không kịp thay quần áo. Phải thừa nhận là cảm giác khá kì quặc, khi mặc vest trên người mà đàm đạo về thời mình 5 tuổi.
“Bà vốn không định đánh cháu. Là bà có lỗi với cháu.”
Đôi mắt trầm buồn nhìn xa xăm khiến tôi cảm thấy bứt rứt.
“Bà đừng nghĩ thế. Tại cháu tự tiện vào phòng bà mà không xin phép đấy chứ ạ.”
Tôi không hề giận bà vì trận đòn ấy, dù sao thì cả đời bà cũng mới đánh tôi có duy nhất một lần đó thôi. Tôi đã nói vậy, mà trông bà vẫn có vẻ buồn.
“Bà thường nghĩ nếu cháu đọc được sách, chắc hẳn cuộc sống của cháu đã khác rồi.”
Cũng có thể, tôi vừa nghĩ vừa day day cặp lông mày. Vào đại học, tôi đã không cố để đọc được sách nữa, mà gia nhập câu lạc bộ Judo của trường như lời mọi người khuyên. Trong bốn năm ấy, tôi đã lấy được đai đen, thậm chí còn tham gia giải đấu của tỉnh và giành được thứ hạng cao trong hạng cân của mình. Chỉ sau một thời gian ngắn, tôi trở nên cao to và khỏe mạnh hơn nhiều so với trước kia, vai và cổ nảy nở rắn chắc, dáng vóc đẹp đẽ hẳn ra.
“Giờ thì cháu có không đọc được sách cũng không sao rồi ạ.”
Tôi nói, nhưng chỉ có một nửa là thật tâm thôi. Đúng là cuộc sống thời đại học của tôi khá ổn, song tôi vẫn nghĩ rằng nếu có thể đọc sách thì chắc chắn tôi đã làm được nhiều việc khác nữa.
“Vậy à?”
Bà thở dài rồi nhắm mắt lại. Khi tôi tưởng bà đã thiếp đi, thì bà lại tiếp tục hỏi.
“Cháu sẽ lấy người như thế nào nhỉ?”
“Dạ?”
Tôi ngớ cả người vì đề tài trò chuyện của bà thay đổi quá đột ngột. Cũng giống như khi nhắc tới sự cố hồi tôi 5 tuổi, từ nãy đến giờ, những chủ đề của bà chẳng ăn nhập gì với nhau cả. Lạ ghê!
“Bây giờ còn quá sớm để nói tới chuyện kết hôn của cháu mà bà.”
Qua cánh cửa phòng để mở, tôi nhìn ra các y tá ngoài hành lang, bụng bảo dạ, có lẽ gọi một người vào đây với bà sẽ tốt hơn.
“Cháu mà lấy được một cô gái thích đọc sách thì hay biết mấy nhỉ. Vì cháu không đọc được sách nên con bé sẽ là người kể các câu chuyện thú vị cho cháu nghe. Mà, người thích đọc sách thường cũng chỉ thích những ai giống họ, nên việc này chắc hơi khó rồi.” Bà vừa cười vừa nói.
Tôi không rõ bà muốn trêu chọc tôi hay chỉ thuận miệng nói lung tung thế thôi. Dù sao đi nữa, tôi vẫn cảm thấy hôm ấy bà rất kì lạ.
Rồi, chừng như sực nhớ điều gì, bà tiếp, “Khi nào bà mất, hai mẹ con muốn xử lý số sách đó ra sao cũng được.”
Tôi có cảm giác mình vừa bị tạt một gáo nước lạnh. Vốn không phải kiểu người đủ khả năng giữ bình tĩnh để cư xử điềm đạm trong những trường hợp thế này tôi lắp bắp, “B... bà nói gì thế ạ? Bây giờ vẫn còn quá sớm để nghĩ đến chuyện đó cơ mà?”
Ông và bố đã qua đời trước khi tôi được sinh ra, thế nên đấy là lần đầu tiên tôi nghe những lời như vậy từ người thân của mình. Bà khép mắt lại với một nụ cười buồn. Chắc chắn bà đã nhận thấy tôi bối rối nhường nào.
Kết quả kiểm tra cho biết bà có một khối u ác tính trong não. Thời gian của bà không còn nhiều. Dù không được ai thông báo điều này, song tôi nghĩ bà đã biết tất cả qua thái độ của mẹ và tôi. Chẳng có gì qua được đôi mắt Quan Âm Bồ Tát cả.
Đến lúc ấy, rốt cuộc tôi cũng hiểu được tại sao bà lại nói những lời như vậy.
Đó là những lời cuối cùng bà muốn nói với tôi, đứa cháu trai duy nhất.
Vào một ngày nóng bức của tháng Tám năm 2010, hơn một năm sau đám tang bà ngoại, tôi mới nhớ tới đống sách mà bà để lại cho hai mẹ con.
Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi vẫn ở nhà cũ tại Ofuna. Tầm trưa hôm đó, tôi vừa thức dậy thì nghe tiếng mẹ gọi ngoài cửa phòng.
“Thất-nghiệp-suke, ra đây mẹ bảo!”
Sao mẹ lại ở nhà vào giờ này, lẽ ra phải đi làm chứ? Tôi thắc mắc mất một lúc mới sực nhớ hôm nay là Chủ nhật. Kể từ khi tốt nghiệp, tôi không còn phân biệt nổi ngày tháng trong tuần nữa rồi.
Tôi ngáp dài bước ra, liền trông thấy căn phòng nằm cuối hành lang đang để cửa mở. Chắc là mẹ ở trong phòng bà.
“Ai da!”
Tôi bước vào xem sao, thì trán đập vào rầm cửa làm nó rung lên, kêu cọt kẹt.
“Mày làm cái gì thế hả, Thất-nghiệp-suke? Đừng có phá nhà nữa!”
Mẹ đứng giữa phòng, đầu gần chạm vào cái đèn treo trên trần. Mẹ là một người khá cao lớn, mặc dù không cao bằng tôi.
“Tại cái rầm cửa thấp đấy chứ ạ.” Tôi ôm đầu cãi lại.
Như lúc trước đã nói, nhà tôi cơi nới vài lần rồi nên có nhiều chỗ hơi kì quặc. Rầm cửa này chỉ thấp hơn cửa thường có vài centimet, nhưng đó cũng là cả một rắc rối đối với tôi.
“Thế không phải tại mày vẫn đang mơ ngủ à? Đã có ai đập đầu vào đấy như mày chưa?”
Tôi không cho là vậy. Trên rầm cửa dán một miếng cao su màu đen, nó hiện diện ở đó trước cả khi tôi có thể nhận thức mọi thứ xung quanh, nên chắc chắn đã có người từng va vào cửa giống tôi rồi, chứ nếu đúng là chỉ có một mình tôi vụng về như thế thì cũng thật đáng buồn.
“Mẹ đang dọn dẹp đồ của bà...” Mẹ ngừng một chút rồi thở dài. “Nào, ngồi xuống đi, hai người lừng lững thế này cùng đứng nói chuyện thì vướng lắm.”
Thế là tôi khoanh chân xếp bằng, đối diện mẹ đang ngồi quỳ trên chiếu. Mẹ có khuôn cằm rộng, đôi mắt hẹp dài và có thể tuôn ra những lời nghiêm khắc với gương mặt hết sức bình thản. Không kể tới chiều cao thì mẹ giống hệt bà. Dù trên mẹ còn hai người chị nữa, mẹ vẫn là người giống bà nhiều nhất.
Song, mẹ tôi chẳng vui vẻ chút nào về việc thừa hưởng mọi đường nét từ bà, ngược lại còn thấy khó chịu nữa cơ. Tôi chưa bao giờ thấy mẹ và bà nói chuyện bình tĩnh với nhau được quá năm phút. Có khi mẹ không ở nhà giúp việc quán cơm mà đi làm tận Yokohama chỉ vì không muốn chạm mặt bà hằng ngày cũng nên.
Mẹ nói, “Qua giỗ đầu của bà rồi. Chúng ta dọn dẹp dần đi là vừa.”
Xung quanh chúng tôi lúc này là hàng đống thùng các tông to nhỏ khác nhau. Ngoài quần áo và trang sức đã được chia cho hai bác gái, các đồ dùng khác vẫn y nguyên như hồi bà còn sống. Dù không hiểu tại sao qua giỗ đầu thì phải dọn dẹp, nhưng thôi, sớm muộn gì mà chẳng phải dọn cơ chứ.
Tôi bồn chồn, ngọ nguậy không yên và cảm thấy không thoải mái khi ngồi trong phòng này. Cảnh tượng căn phòng bừa bãi gợi cho tôi nhớ tới chuyện hồi 5 tuổi. Để xua mẩu kí ức không vui vẻ gì ra khỏi đầu, tôi nhìn quanh phòng một lượt và ngạc nhiên khi nhận ra tủ sách choán hết một mặt tường giờ đã trống không. Chẳng còn cuốn sách nào trên đó nữa.
“Sách của bà đâu cả rồi ạ?”
“Ở trong này. Mẹ đã bảo là đang dọn đồ rồi còn gì? Mày không nghe hả?”
Mẹ vừa nói vừa đập đập vào mấy cái thùng bên cạnh.
“Mày biết viện dưỡng lão gần Sekiya chứ hả? Mẹ có người quen công tác ở đó, họ đang thu thập sách để làm phòng đọc. Họ rất phấn khởi khi nghe mẹ bảo sẽ quyên góp toàn bộ chỗ sách nhà mình. Mẹ còn nói với người ta là Thất-nghiệp-suke sẽ mang sách tới cho nữa, đang rảnh mà...”
“Sao ở đó mà mẹ cũng gọi con như thế?”
Phải, Thất-nghiệp-suke chính là tôi. “Thất-nghiệp” là vì tôi không có việc làm và “suke” trong Daisuke tên của tôi. Mẹ đem ghép hai từ vào với nhau rồi gọi tôi bằng cái tên ấy suốt.
“Đúng quá còn gì? Ai bảo mày không có công ăn việc làm, cả ngày chỉ biết ngồi không.”
“Cũng có phải con muốn vậy đâu.”
Đến nay tôi vẫn chưa có một chỗ làm ổn định nào. Nói cho đúng thì cũng từng được một công ty xây dựng nhỏ ở Yokohama gọi đến làm việc, nhưng hồi tháng Hai vừa rồi nó tuyên bố phá sản, thành ra bây giờ tôi vẫn lay lắt trong quá trình tìm việc, lần nào cũng rớt từ vòng phỏng vấn do không tốt nghiệp một trường đại học danh tiếng và chẳng có ưu điểm gì ngoài thể lực, lại còn đi xin việc vào đúng thời kì kinh tế suy thoái nữa.
“Tại mày kén chọn quá thôi. Sao không thử thi vào ngành cảnh sát hay Lực lượng Phòng vệ xem thế nào? Được thừa hưởng cơ thể cao lớn từ mẹ rồi thì phải cố mà tận dụng đi chứ?”
Tôi không trả lời mẹ. Đây cũng không phải lần đầu tiên tôi được khuyên rằng nên thi vào Lực lượng Phòng vệ hoặc ngành cảnh sát. Tất nhiên đai đen Judo của tôi là một điểm cộng to đùng, song, trong bốn năm luyện tập, tôi hiểu rõ bản thân mình không phải kiểu người sẵn sàng chiến đấu để giành lấy phần thắng. Công việc chỉ cần sức khỏe và thể lực như cảnh sát hoặc Lực lượng Phòng vệ không có gì quá khó khăn, nhưng tôi muốn làm những công việc đời thường hơn, chứ không phải đi bảo vệ an toàn của người dân hay giữ gìn hòa bình cho đất nước.
“Nhưng, mấy cuốn sách này...” Tôi đổi đề tài, tạm thời không muốn đả động đến việc trở thành viên chức nhà nước. “Bà coi trọng chúng lắm mà mẹ? Đem tặng hết thế thì...”
“Chẳng sao đâu.” Mẹ khẳng định, “Bà đã bảo là ‘Khi nào bà mất, hai mẹ con muốn xử lý số sách đó ra sao cũng được’ rồi còn gì. Hay mày lại không để ý nghe?”
“Con có nghe. Nhưng con nghĩ ý bà không phải là đem sách cho người khác đâu...”
Mà mong muốn mẹ con tôi sẽ coi trọng chúng như bà đã từng. Mẹ lại lắc đầu, “Vậy là mày không hiểu ý bà rồi. Câu cửa miệng của bà là ‘Người đã mất thì không thể mang theo bất cứ thứ gì cả’. Hồi ông mất cũng thế, bà đã đem cho toàn bộ đồ đạc của ông đấy thôi.”
Nghe mẹ nói, tôi mới nhận ra rằng bà không hề lưu giữ bất cứ kỉ vật nào của ông. Ông ngoại trút hơi thở cuối cùng sau khi gặp tai nạn trên đường từ chùa Kawasaki Daishi về nhà. Theo lời người lớn kể thì sự cố xảy ra trong một ngày hè nóng nực giống hệt hôm nay, lúc ấy mẹ tôi mới bước vào lớp Một.
“Nếu mày muốn đọc thì mẹ để lại vậy?”
Không, tôi không đọc. Đúng hơn là tôi không thể đọc. Dẫu có giữ lại, tôi cũng sẽ chỉ bày chúng trên giá sách rồi để yên đấy mà thôi. Có lẽ đem tặng cho những người cần chúng thì tốt hơn.
“Thôi, để con lái xe mang sách tới viện dưỡng lão ạ.”
Tôi nhìn một vòng quanh phòng. Sách đã được nhấc ra khỏi giá nhưng chưa xếp hết vào thùng, vẫn còn một số nằm ngổn ngang trên chiếu. Nghĩa là bây giờ tôi phải cho chúng vào thùng trước đã.
“Ừ, mà đợi một chút, mẹ có chuyện này muốn nói.” Mẹ nhấc một chồng sách, đặt xuống trước mặt tôi. Chồng sách có khoảng ba mươi mấy cuốn, nhỏ và mỏng hơn sách thông thường, cỡ bằng một cuốn truyện tranh dành cho thiếu niên. Những kí ức không vui ùa về khiến tôi vô cùng khó chịu. Đây chính là những cuốn sách mà tôi định lấy xem vào ngày hôm ấy, trong căn phòng này. Hôm nay tôi mới để ý tới tên của chúng, Soseki toàn tập, và cuốn mà tôi từng rút ra là “Từ ấy” của Natsume Soseki.
“Mẹ sợ bà để quên tiền ở trong nên đã mở từng cuốn một để kiểm tra.”
Mẹ còn làm thế nữa cơ à? Mặc kệ vẻ kinh ngạc của tôi, mẹ rút lấy “Quyển 8 - Từ ấy”, lật tờ bìa làm bằng giấy sáp mỏng ra rồi chìa tờ gác cho tôi xem.
“Và đây! Mẹ tìm thấy cái này.”
Tờ gác không in gì cả, nhưng ở mé phải có hai hàng chữ viết tay bằng bút lông nét mảnh. Kích cỡ và khoảng cách giữa các chữ không đều lắm, khó mà nói là chữ đẹp được.