Những Kỳ Vọng Lớn Lao

Lượt đọc: 624 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 48

❊ ❊ ❊

Cuộc gặp gỡ thứ hai trong hai cuộc gặp gỡ được nhắc tới ở chương trước diễn ra khoảng một tuần sau lần đầu tiên. Hôm ấy, tôi lại để chiếc thuyền của mình ở bến tàu dưới cầu Bridge; thời gian sớm hơn một tiếng vào buổi chiều; và vì chưa biết ăn tối ở đâu, tôi đã thong thả đi lên phố Cheapside. Tôi đang rảo bước ở đó – chắc hẳn là kẻ vô định nhất trong dòng người đông đúc bận rộn – thì chợt có một bàn tay lớn đặt lên vai tôi từ phía sau. Đó là tay của ông Jaggers, và ông liền ngoắc tay tôi vào tay ông.

– Vì chúng ta đi cùng hướng, Pip, chúng ta có thể đi với nhau. Cậu định đi đâu thế?

– Chắc là tôi về khu Temple, – tôi đáp.

– Cậu không chắc à? – ông Jaggers hỏi.

– Vâng, – tôi đáp, lần này lấy làm đắc chí vì bắt bẻ được ông ta, – tôi không chắc, vì tôi vẫn chưa quyết định.

– Cậu đang định đi ăn tối chứ? – ông Jaggers nói. – Chắc cậu không ngại thừa nhận điều đó đâu nhỉ?

– Vâng, – tôi đáp, – tôi không ngại thừa nhận điều đó.

– Và chưa hẹn hò ai chứ?

– Tôi cũng không ngại thừa nhận là mình chưa hẹn hò ai cả.

– Thế thì, – ông Jaggers nói, – hãy đi ăn tối với tôi.

Tôi đang định tìm cớ từ chối thì ông nói thêm: “Wemmick cũng đến đấy.” Thế là tôi liền đổi lời từ chối thành sự đồng ý – dẫu sao thì vài từ tôi vừa thốt ra cũng vừa vặn làm mở đầu cho cả hai trường hợp – và chúng tôi cùng đi dọc phố Cheapside rồi rẽ sang Little Britain. Lúc đó, những ánh đèn bắt đầu bừng sáng rực rỡ sau các ô cửa sổ cửa hàng, còn những người thợ thắp đèn đường, giữa chốn buôn bán tấp nập buổi chiều mà chật vật mãi mới tìm được chỗ dựng thang, đang thoăn thoắt nhảy lên nhảy xuống, luồn lách ra vào, làm bừng lên những “con mắt đỏ” trong làn sương mù đang xám đặc lại, nhiều không kém gì những “con mắt trắng” mà ngọn đèn đom đóm của tôi từng thắp lên trên bức tường ma quái ở khách sạn Hummums.

Tại văn phòng ở Little Britain, mọi công việc kết thúc ngày làm việc vẫn diễn ra như lệ thường: viết thư, rửa tay, dập nến và khóa két. Khi tôi đứng thẫn thờ bên lò sưởi của ông Jaggers, ngọn lửa lúc bùng lên lúc lụi đi khiến hai bức tượng thạch cao trên kệ trông như đang chơi trò trốn tìm ma quái với tôi; trong khi đó, cặp nến văn phòng thô kệch, béo ngậy đang ldim dim soi bóng ông Jaggers ngồi viết ở một góc phòng lại được trang hoàng bằng những vệt bấc nến quắt queo nham nhở, trông chẳng khác nào để tưởng nhớ đến một đám thân chủ từng bị treo cổ.

Cả ba chúng tôi cùng bắt xe ngựa đi đến phố Gerrard; và ngay khi vừa đến nơi, bữa tối đã được dọn lên. Dẫu rằng ở cái chốn ấy, tôi không hề dám có dù chỉ một ánh nhìn gợi nhắc xa xôi đến những tình cảm mang phong cách Walworth của Wemmick, nhưng tôi cũng chẳng ngại gì nếu thỉnh thoảng được bắt gặp ánh mắt thân thiện của anh ta. Thế nhưng điều đó là không thể. Cứ mỗi khi ngẩng đầu lên khỏi bàn ăn là anh ta lại hướng ánh mắt về phía ông Jaggers, còn với tôi thì lạnh lùng và xa cách cứ như thể có tới hai người sinh đôi tên Wemmick, và đây chính là kẻ không phải.

– Cậu đã gửi bức thư của tiểu thư Havisham cho cậu Pip chưa, Wemmick? – ông Jaggers hỏi, ngay khi chúng tôi bắt đầu bữa tối.

– Thưa chưa, thưa ngài, – Wemmick đáp; – thư đang được định gửi qua bưu điện thì ngài đưa cậu Pip vào văn phòng. Đây thưa ngài.

Anh ta liền trao bức thư cho sếp thay vì đưa cho tôi.

– Đó chỉ là một mẩu thư ngắn có hai dòng thôi, Pip ạ, – ông Jaggers nói rồi chuyển thư cho tôi, – được tiểu thư Havisham gửi cho tôi vì bà ấy không chắc lắm về địa chỉ của cậu. Bà ấy bảo muốn gặp cậu để bàn một chút chuyện kinh doanh mà cậu từng nhắc tới với bà ấy. Cậu sẽ về dưới đó chứ?

– Vâng, – tôi nói, đảo mắt đọc qua bức thư quả nhiên đúng như vậy.

– Cậu tính khi nào về dưới đó?

– Tôi đang vướng một cuộc hẹn sắp tới, – tôi nói, liếc nhìn Wemmick đang thả miếng cá vào “hòm thư”, – khiến tôi khá bận rộn không chừng được thời gian. Chắc là đi ngay.

– Nếu cậu Pip có ý định đi ngay, – Wemmick nói với ông Jaggers, – thì cậu ấy khỏi cần viết thư trả lời cũng được chứ gì.

Hiểu ngay đó là lời khuyên không nên trì hoãn, tôi quyết định sẽ đi vào ngày mai và lên tiếng xác nhận. Wemmick uống một ngụm rượu vang, liếc nhìn ông Jaggers với vẻ mặt hài lòng đầy nghiêm nghị, nhưng hoàn toàn không nhìn tôi.

– Thế đấy, Pip ạ! Bạn của chúng ta – gã Nhện ấy, – ông Jaggers nói, – đã đi những nước cờ của hắn. Hắn đã thắng canh bạc rồi đấy.

Tôi phải cố gắng lắm mới thốt lên được một tiếng đồng tình.

– Chà! Hắn là một kẻ đầy triển vọng – theo cách của hắn – nhưng chưa chắc hắn đã làm mưa làm gió mãi được đâu. Kẻ mạnh hơn cuối cùng sẽ thắng, nhưng trước tiên phải tìm ra ai là kẻ mạnh hơn đã. Giả sử hắn trở mặt và đánh cô ta—

– Chắc chắn là, – tôi cắt lời, với khuôn mặt và lồng ngực nóng bừng lên, – ngài không thực sự nghĩ rằng hắn là một kẻ đê tiện đến mức đó chứ, thưa ông Jaggers?

– Tôi đâu có nói thế, Pip. Tôi chỉ đang đặt giả thuyết thôi. Nếu hắn trở mặt và đánh cô ta, rất có thể phần thắng sẽ nghiêng về phía hắn; còn nếu đó là chuyện trí tuệ, thì chắc chắn là không rồi. Thật khó mà đoán trước được một kẻ như thế sẽ ra sao trong hoàn cảnh đó, bởi vì mọi thứ chỉ là năm ăn năm thua giữa hai kết cục.

– Tôi có thể hỏi đó là những kết cục nào không?

– Một kẻ giống như gã Nhện của chúng ta, – ông Jaggers đáp, – hoặc là đánh đập, hoặc là luồn cúi. Hắn có thể vừa luồn cúi vừa gầm gừ, hoặc luồn cúi mà không gầm gừ; nhưng tóm lại là hoặc đánh hoặc luồn. Cứ hỏi ý kiến Wemmick mà xem.

– Hoặc đánh hoặc luồn, – Wemmick nói, hoàn toàn không nói với riêng tôi.

– Nào, vậy chúng ta cùng cạn chén vì bà Bentley Drummle nhé, – ông Jaggers nói, cầm lấy bình đựng loại rượu ngon hơn từ chiếc bàn đẩy phụ, rót đầy cho mỗi chúng tôi và cho cả chính mình, – và mong sao câu hỏi ai là kẻ bề trên sẽ được giải quyết theo ý muốn của phu nhân! Còn để vừa lòng cả phu nhân lẫn quý ông thì chắc chắn là không bao giờ có chuyện đó đâu. Nào, Molly, Molly, Molly, Molly, sao hôm nay cô chậm chạp thế hả!

Cô ta đang đứng ngay cạnh khi ông gọi, tay đang đặt một đĩa thức ăn lên bàn. Khi vừa rụt tay lại, cô ta lùi lại một hai bước, lúng túng lầm bầm vài câu xin lỗi. Và một động tác cụ thể ở các ngón tay cô ta khi cất lời bỗng thu hút sự chú ý của tôi.

– Có chuyện gì thế? – ông Jaggers hỏi.

– Không có gì đâu ạ. Chỉ là đề tài chúng ta vừa nhắc tới, – tôi nói, – hơi đau lòng đối với tôi một chút.

Động tác của các ngón tay cô ta trông giống hệt như động tác đang đan len. Cô ta đứng nhìn ông chủ, không biết mình có được phép đi hay ông còn điều gì muốn nói và sẽ gọi giật lại nếu cô ta bước đi. Ánh mắt cô ta rất đỗi đăm đăm. Chắc chắn là tôi vừa mới nhìn thấy cặp mắt ấy và đôi bàn tay ấy ở một dịp đáng nhớ nào đó rất gần đây!

Ông ra lệnh cho cô ta lui ra, và cô ta nhẹ nhàng lướt khỏi phòng. Thế nhưng hình ảnh cô ta vẫn hiện rõ trước mắt tôi cứ như thể cô ta vẫn còn đang đứng đó. Tôi nhìn đôi bàn tay ấy, tôi nhìn đôi mắt ấy, tôi nhìn mái tóc xõa ấy; rồi tôi đem so sánh chúng với những đôi bàn tay khác, những đôi mắt khác, mái tóc khác mà tôi từng biết, và với những gì mà chúng có thể trở thành sau hai mươi năm sống chung với một người chồng vũ phu cùng một cuộc đời giông bão. Tôi lại nhìn ngẫm đôi bàn tay và đôi mắt của người quản gia ấy, rồi nghĩ về thứ cảm giác khó tả từng dâng trào trong tôi lần cuối cùng tôi bước đi – không phải một mình – trong khu vườn hoang phế và qua nhà máy bia đã bỏ hoang. Tôi nhớ lại cảm giác ấy đã ùa về ra sao khi tôi nhìn thấy một gương mặt đang nhìn mình và một bàn tay đang vẫy chào tôi từ cửa sổ xe ngựa; và nó đã quay lại mãnh liệt thế nào, lóe lên quanh tôi như chớp giật, khi tôi ngồi trong xe – không đi một mình – lướt qua một luồng ánh sáng chói lóa bất chợt giữa con đường tối tăm. Tôi nghĩ về việc một mắt xích liên tưởng đã góp phần giúp tôi nhận diện ra cô ấy ở nhà hát như thế nào, và một mắt xích như thế – vốn còn thiếu trước đây – giờ đây đã được gắn kết chặt chẽ ra sao, khi tôi tình cờ liên tưởng nhanh chóng từ cái tên Estella sang đôi ngón tay với động tác đan len và ánh mắt đầy chăm chú ấy. Và tôi cảm thấy hoàn toàn chắc chắn rằng người phụ nữ này chính là mẹ của Estella.

Ông Jaggers từng nhìn thấy tôi đi cùng Estella, và chắc hẳn không đời nào bỏ lỡ những tình cảm mà tôi chẳng hề bận tâm che giấu. Ông gật đầu khi tôi nói chủ đề đó khiến tôi đau lòng, vỗ vai tôi, chuyền ly rượu một lượt nữa và tiếp tục bữa tối.

Chỉ thêm đúng hai lần nữa người quản gia xuất hiện trở lại, và mỗi lần cô ta ở lại phòng đều rất ngắn ngủi, hơn nữa ông Jaggers lại tỏ ra vô cùng gay gắt với cô ta. Thế nhưng đôi bàn tay ấy chính là đôi bàn tay của Estella, và đôi mắt ấy chính là đôi mắt của Estella; và dẫu cô ta có xuất hiện thêm hàng trăm lần đi nữa thì tôi cũng chẳng thể nào chắc chắn hơn hay kém đi về sự thật mà tôi đã đinh ninh trong lòng.

Đó là một buổi tối tẻ nhạt, bởi vì khi vòng rượu đến lượt, Wemmick rót rượu ra một cách hoàn toàn đúng tác phong công việc – giống y như cách anh ta lĩnh lương khi đến kỳ – và với ánh mắt hướng về người sếp, anh ta ngồi trong tư thế luôn sẵn sàng bị tra khảo bất cứ lúc nào. Còn về lượng rượu, “hòm thư” của anh ta cũng dửng dưng và sẵn sàng tiếp nhận chẳng kém gì bất kỳ hòm thư nào khác đối với lượng thư từ. Nhìn theo góc độ của tôi, anh ta suốt buổi chính là kẻ sinh đôi không phải, và chỉ có vẻ bề ngoài là giống với gã Wemmick ở Walworth mà thôi.

Chúng tôi chào ra về từ sớm và cùng nhau bước đi. Ngay cả khi chúng tôi đang mò mẫm tìm mũ giữa đống giày dép của ông Jaggers, tôi đã cảm thấy kẻ sinh đôi đích thực đang trên đường trở lại; và chúng tôi chưa đi nổi vài chục bước trên phố Gerrard hướng về phía Walworth, thì tôi đã nhận ra mình đang tay trong tay bước đi với kẻ sinh đôi thật sự, còn gã sinh đôi giả đã bốc hơi vào không khí buổi chiều từ lúc nào.

– Chà! – Wemmick nói, – thế là xong chuyện! Ông ấy là một con người kỳ diệu, chẳng có ai trên đời sánh bằng; nhưng tôi cảm thấy mình cứ phải gồng người lên mỗi khi đi ăn tối với ông ấy – và tôi đi ăn thoải mái hơn nhiều khi thả lỏng.

Tôi thấy đây là một nhận xét rất đúng tình hình nên đã nói với anh ta như vậy.

– Tôi chỉ dám nói điều này với một mình cậu thôi đấy, – anh ta đáp. – Tôi thừa biết những điều nói giữa cậu và tôi sẽ không đi đến đâu khác đâu.

Tôi hỏi anh ta đã bao giờ gặp con gái nuôi của tiểu thư Havisham là bà Bentley Drummle chưa. Anh ta đáp là chưa. Để tránh tỏ ra quá đột ngột, tôi bèn chuyển sang hỏi thăm cụ ông và cô Skiffins. Anh ta có vẻ hơi tinh ranh khi tôi nhắc đến cô Skiffins, liền dừng chân giữa đường để hỉ mũi, kèm theo một cái lắc đầu và một điệu bộ phô phang không giấu nổi vẻ đắc ý ngầm.

– Wemmick, – tôi nói, – anh có nhớ trước lần đầu tiên tôi đến nhà riêng của ông Jaggers, anh từng bảo tôi hãy để ý đến người quản gia đó không?

– Tôi có nói thế à? – anh ta đáp. – À, chắc là có đấy. Có mà chết tiệt, – anh ta nói thêm vẻ bất ngờ, – tôi biết là mình có nói. Xem ra tôi vẫn chưa hoàn toàn thả lỏng được rồi.

– Anh gọi cô ta là một con dã thú đã được thuần hóa.

– Thế cậu gọi cô ta là gì?

– Cũng thế. Thế làm thế nào mà ông Jaggers thuần hóa được cô ta vậy, Wemmick?

– Đó là bí mật của ông ấy. Cô ta đã ở cạnh ông ấy ròng rã bao năm trời rồi.

– Giá mà anh kể câu chuyện của cô ta cho tôi nghe nhỉ. Tôi thấy vô cùng tò mò muốn được biết rõ về cô ta. Anh biết là những gì nói giữa cậu và tôi sẽ không lọt ra ngoài đâu mà.

– Thôi được! – Wemmick đáp, – tôi không rõ câu chuyện của cô ta đâu – ý tôi là, tôi không biết toàn bộ. Nhưng tôi biết gì sẽ kể nấy. Tất nhiên, chúng ta đang nói chuyện với tư cách cá nhân riêng tư nhé.

– Tất nhiên rồi.

– Khoảng hơn hai chục năm trước, người phụ nữ đó từng bị đưa ra xét xử tại tòa Old Bailey vì tội giết người, và đã được tuyên trắng án. Cô ta hồi đó là một phụ nữ trẻ rất xinh đẹp, và tôi tin là trong người có mang chút dòng máu Digan. Dù thế nào đi nữa, cái tính khí ấy hễ nổi lên thì nóng bỏng thôi rồi, chắc cậu cũng đoán được.

– Nhưng cô ta đã được trắng án cơ mà.

– Ông Jaggers chính là luật sư bào chữa cho cô ta, – Wemmick tiếp lời, với vẻ mặt đầy ẩn ý, – và đã xoay xở vụ án đó một cách vô cùng kinh ngạc. Đó là một vụ án tuyệt vọng, và hồi đó ông ấy vẫn còn là một luật sư trẻ tuổi, thế nhưng ông ấy đã xử lý nó khiến ai nấy đều thán phục; thực tế, có thể nói gần như chính vụ án đó đã làm nên tên tuổi của ông ấy. Ông ấy đã tự mình bám trụ tại đồn cảnh sát ngày này qua ngày khác suốt nhiều tuần liền, đấu tranh đến cùng để chống lại cả lệnh khởi tố; và đến phiên tòa khi không thể tự mình đứng ra bào chữa, ông ấy ngồi dưới luật sư chính và – ai cũng thừa nhận – chính ông là người đã tiếp thêm toàn bộ muối tiêu cho vụ án. Nạn nhân bị giết là một phụ nữ – một người lớn hơn chừng mười tuổi, to con hơn hẳn và khỏe mạnh hơn rất nhiều. Đó là một vụ án ghen tuông. Cả hai đều có lối sống lang bạt, và người phụ nữ ở phố Gerrard đây từng kết hôn từ khi còn rất trẻ theo kiểu nhảy chổi (như chúng ta hay gọi) với một gã đàn ông lang bạt, và là một ả cuồng nộ thực thụ về khoản ghen tuông. Nạn nhân bị sát hại – tất nhiên là xứng tầm với gã đàn ông kia hơn về mặt tuổi tác – được phát hiện đã chết trong một nhà kho gần vùng hoang mạc Hounslow Heath. Đã có một cuộc ẩu đả dữ dội, có lẽ là một trận đánh nhau. Cô ta bị bầm tím, trầy xước, rách rưới, và cuối cùng bị bóp cổ đến nghẹt thở. Lúc bấy giờ, hoàn toàn không có bằng chứng hợp lý nào để buộc tội bất kỳ ai ngoài người phụ nữ này, và ông Jaggers chủ yếu dựa vào tính phi lý của việc cô ta có đủ sức làm chuyện đó để làm nền tảng bào chữa. Cậu cứ tin đi, – Wemmick nói, khẽ chạm vào tay áo tôi, – hồi đó ông ấy không hề đả động gì đến sức mạnh đôi tay của cô ta đâu, mặc dù bây giờ thỉnh thoảng ông ấy vẫn nhắc tới.

Tôi liền kể cho Wemmick nghe chuyện anh ta từng cho chúng tôi xem cổ tay của cô ta vào ngày có bữa tiệc.

– Vâng, thưa ngài! – Wemmick nói tiếp; – sự việc là thế này – cơ sự là thế này, cậu thấy đấy? – người phụ nữ này từ thời điểm bị bắt đã được mặc trang phục khéo léo đến mức trông cô ta mảnh khảnh hơn thực tế rất nhiều; đặc biệt, tay áo của cô ta được nhớ là đã được thiết kế tinh xảo đến độ đôi tay trông vô cùng thanh mảnh. Trên người cô ta chỉ có vài vết thâm tím – chuyện thường tình đối với kẻ lang bạt – nhưng mu bàn tay lại bị cào rách tươm, và vấn đề đặt ra là: có phải do móng tay cào hay không? Thế là, ông Jaggers đã chứng minh rằng cô ta đã phải vật lộn băng qua một đám gai góc rậm rạp không cao quá mặt; nhưng đó là nơi mà cô ta không thể đi qua mà giữ cho tay không chạm vào được; và những mẩu gai ấy thực sự đã được tìm thấy dính trong da cô ta và được đưa ra làm bằng chứng, cùng với việc người ta kiểm tra và xác định đám gai đó quả thực đã bị đè bẹp, có dính vài sợi vải nhỏ từ trang phục của cô ta cùng những vết máu lấm tấm ở đây con ở chỗ khác. Nhưng điểm táo bạo nhất mà ông ấy thực hiện là thế này: người ta đã cố dựng lên một luận điểm, nhằm chứng minh sự ghen tuông của cô ta, rằng cô ta đang bị nghi ngờ nặng nề là vào khoảng thời gian xảy ra án mạng, cô ta đã nhẫn tâm tiêu hủy đứa con do cô ta sinh với gã đàn ông đó – đứa trẻ khoảng ba tuổi – để trả thù hắn. Ông Jaggers đã xoay chuyển vấn đề đó theo cách này: “Chúng tôi nói đây không phải là vết móng tay, mà là vết gai cào, và chúng tôi đưa cho các ông xem những bụi gai đó. Các ông bảo đây là vết móng tay, và các ông đưa ra giả thuyết rằng cô ta đã giết con mình. Các ông phải chấp nhận mọi hệ quả của giả thuyết đó. Biết đâu chăng, cô ta có thể đã giết con mình, và đứa trẻ trong lúc bám víu lấy mẹ đã cào xước tay cô ta thì sao? Vậy thì sao nào? Các ông đâu có đưa cô ta ra xét xử vì tội giết con mình; sao các ông không làm thế đi? Còn về vụ án này, nếu các ông cứ khăng khăng đòi đó là vết cào, thì chúng tôi xin nói rằng, biết đâu các ông đã giải thích được chúng rồi đấy, cứ cho là giả định đi dẫu các ông chưa bịa ra chúng đi chăng nữa?” “Tóm lại là, thưa ngài,” Wemmick nói, “ông Jaggers đã hoàn toàn áp đảo bồi thẩm đoàn, và họ đã phải đầu hàng.”

– Cô ta vẫn ở làm việc cho ông ấy từ bấy đến nay luôn sao?

– Vâng; nhưng không chỉ có thế đâu, – Wemmick nói, – cô ta vào làm việc cho ông ấy ngay sau khi được tuyên trắng án, với dáng vẻ thuần hóa như bây giờ. Từ đó đến nay, cô ta được dạy bảo đủ điều trong công việc nhà, nhưng thực chất cô ta đã bị thuần hóa ngay từ phút ban đầu rồi.

– Anh có nhớ đứa trẻ đó là con trai hay con gái không?

– Người ta bảo là con gái.

– Tối nay anh không còn gì để nói với tôi nữa chứ?

– Hết rồi. Tôi đã nhận được thư của cậu và hủy nó đi rồi. Không còn gì nữa đâu.

Chúng tôi trao nhau lời chúc ngủ ngon ấm áp, rồi tôi đi về nhà, mang theo những suy nghĩ với bao chất liệu mới mẻ, dẫu chẳng hề vơi bớt chút nào những nỗi niềm cũ kỹ.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 7 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.