Gần đến mùa xuân, Gu-li-a cùng mẹ đã trở lại Ki-ép. Hình như lần này, hai mẹ con sẽ ở lại lâu dài tại chỗ mới. Gu-li-a rất thích căn nhà mới ở Ki-ép, thích đường phố mà mẹ và cô ở đấy, và thích nhất là bây giờ cô đã có phòng riêng.
Lần đầu tiên trong đời, cô tự xếp đặt phòng riêng theo ý của mình, theo cách của mình. Một tường ở phòng cô là «tường mùa đông»> - ở đấy treo giầy trượt băng và trong góc dựng đôi thanh gỗ trượt tuyết; một tường khác - «tường mùa hè», thì có vợt đánh ten-nít, mấy quả bóng trong túi lưới. Một chú sóc xù lông, xin ở vườn Bách thú về, vui vẻ nhảy nhót chuyển từ giá sách đến bàn và từ bàn lên bệ cửa sổ. Gu-li-a đã dạy cho nó thuần, nên con vật bé nhỏ kia đã dám ngồi trên vai cô một cách tin cậy và đưa đôi mắt đen lánh như hạt cườm nhìn cuốn sách của cô.
Giờ đây, cái gì của Gu-li-a cũng mới cả: phòng mới, tường mới, bạn gái mới, và cô nghĩ rằng cả cuộc đời cô bây giờ cũng sẽ đi lên theo một hướng mới.
Nhưng cơn bệnh «cũ», bị bỏ mặc đã ngăn trở điều đó.
Trước đây khá lâu, trong một bận quay phim, Gu-li-a bị cảm lạnh rất nặng. Từ đó đến nay cô thường ốm day dắt luôn.
- Phải kết liễu cái món này một lần cho dứt hẳn! - bác sĩ nói sau khi khám bệnh cho Gu-li-a. - Chúng tôi sẽ cho cháu đi Ô-đét-xa, đến vũng cửa sông.
Lại đến Ô-đét-xa! Gu-li-a vừa vui lại vừa buồn. Được trở lại thành phố quen thuộc và thân yêu, được thở không khí trong lành đượm mùi biển của nó, được gặp lại các bạn cũ thì thật là thú vị. Nhưng phải từ bỏ những hy vọng về cuộc sống mới thì thật là đáng tiếc.
Nhưng muốn hay không muốn, khi mùa hè mới đến, người ta đã gửi Gu-li-a đến vũng cửa sông. Đến Ô-đét-xa, cô chỉ ở lại thành phố vẻn vẹn có một giờ rưỡi, thậm chí cô không kịp chạy đến căn nhà cũ và gặp lại các bạn cũ.
Cô hơi buồn, vì ở đây, ở thành phố quen thuộc này, cô cảm thấy mình như một người khách tình cờ, một hành khách qua đường.
Thật như trêu ngươi, ở sân ga và trên các đường phố lân cận, cô không nhận ra được một bộ mặt quen thuộc nào cả!
Gu-li-a đi đến địa điểm tập trung, nhìn xem những bạn trẻ nào cùng đi với cô đến nhà an dưỡng. Ở đấy đã có một vài chú bé, nhỏ tuổi hơn Gu-li-a nhiều, và một cô bé, có thể là cùng tuổi. Cô bé có những bím tóc đen dài và đôi mắt đen, hơi nheo lại. Khi muốn nhìn cái gì đấy, cô lấy cặp kính gọng sừng trong túi ra và đưa lên mắt trong giây lát.
- Chị cũng đi vũng cửa sông à? - Gu-li-a hỏi.
- Vâng, đi vũng cửa sông.
- Từ đâu đến?
- Từ Ki-ép.
- Tôi cũng từ Ki-ép!
Gu-li-a liền trờ nên vui hơn. Và rõ ràng là cô bé kia cũng vui vì đã gặp bạn đường cùng quê, cùng lứa tuổi. Hai cô ngồi trên va- li, lấy những thức ăn đi đường ra và vừa đãi nhau những miếng bánh mì kẹp chả, những quả táo cuối cùng, vừa bắt đầu tán chuyện.
Bây giờ Gu-li-a biết rõ cô bé tên là Mi-ra Gác-ben và đang theo học lớp dương cầm ở Nhạc viện.
Gu-li-a rat thích những chữ: «theo học lớp dương cầm» và tự nhiên cảm thấy kính trọng người bạn gái mới của mình.
Sau đó, hai cô bé đã cùng đi với nhau, không rời nhau ra một bước. Đứng cạnh nhau ngay trên mũi ca-nô, chúng nhìn những làn bọt sóng dài rẽ ra ở hai bên sườn ca-nô, nhìn xem trong đám sương mù nóng bỏng ven bờ hiện dần lên những nét mờ ảo của bờ biển đang tiến gần lại.
Mi-ra đeo kính vào, và mãi cho đến tận bến tàu, cô không cất kính ra nữa. Lần đầu tiên, cô thấy biển, thấy những con cá heo và rất nhiều chim hải âu háu ăn, luôn mồm kêu ríu rít.
Làng mà nhà an dưỡng thiếu nhi ở đấy gọi là Khe hẻm Lạnh. Không biết do đâu mà có tên đó. Ở đây không có gì là lạnh cả - ngay đến đá sỏi cũng đượm ánh nắng mặt trời.
Trên bến tàu, những chú bé rám nắng, mặc áo quần trắng, đội mũ pa-na-ma trắng vành rộng, chạy ùa ra đón các đứa bé mới đến. Một đứa trong bọn muốn xách giúp chiếc va-li hộ Gu-li-a.
- Cảm ơn, - Gu-li-a nói. - Thế các bạn ở nhà an dưỡng à ? Ở đây đã lâu chưa?
- Tôi là Tây-ban-nha, - cậu bé mỉm cười đáp. - Biết ít tiếng Nga lắm.
- Mi-ra, cậu nghe không? Đó là những trẻ con Tây-ban-nha đấy!
Nhưng lúc đó, có một thanh niên cao - chắc là anh phụ trách ra lệnh cái gì đấy cho đội của mình. Cậu bé hơi bối rối, nói lắp bắp cái gì đấy bằng tiếng Tây-ban-nha, rồi đặt va-li của Gu-li-a xuống đất và chạy về chỗ mình. Toàn đội tiến theo người phụ trách dọc theo bờ, và lúc đó, một cô gái trẻ măng mặc áo dài xanh lam tiến đến trước những người mới đến.
- Ồ, thế là các em đã đến, - cô nói. - Chúng tôi chờ các em đã lâu rồi. Chúng ta vào ăn sáng đi. Tên tôi là Vê-ra.
- Thế chị cũng chữa bệnh ở đây à? - Mi-ra hỏi.
- Không! - Vê-ra nói. - Có lẽ các em cho tôi là cô bé chứ gì? Tôi là giáo viên phụ trách lớp bé nhất ở đây.
Và chị dẫn bọn trẻ con mới đến vào một tòa nhà nhỏ, màu trắng, nấp mình sau những bụi cây tử đinh hương rậm rạp, suýt soát cao gần đến mái nhà.
- Vê-ra, chị nói giúp em rõ, - trên đường đi Gu-li-a hỏi, - phải chăng những trẻ con kia là người Tây-ban-nha thực, từ Tây- ban-nha đến, hở chị?
- Đúng, người Tây-ban-nha, từ Tây-ban-nha đến đấy, - Vê-ra đáp. - Bọn trẻ con ngoan lắm, tất cả chúng tôi ở đây đều mến chúng nó.
- Con của các anh hùng à? - Mi-ra hỏi.
- Và trong bọn chúng, một vài đứa chính là anh hùng đấy, - Vê-ra nói. - Chúng đã đắp chiến lũy, đào chiến hào. Một vài đứa lớn tuổi hơn cả trong, bọn còn chiến đấu nữa cơ.
- Mi-ra, chúng ta chạy đến với chúng đi! - Gu-li-a nói và nắm tay bạn. - Chốc nữa sẽ ăn sáng.
- Không được, —Vê-ra ngăn chúng lại. - Trong những ngày đầu tiên, các em phải cách ly. Bây giờ chị giao các em cho chị Ôn-ga Páp-lốp-na, giáo viên của các em, và chị ấy sẽ giải thích cho các em rõ tất cả.
Ôn-ga Páp-lốp-na là một người đàn bà đứng tuổi, nghiêm nghị, đầu đội chiếc mũ nhỏ bằng vải thêu kim tuyến, tóc đen đã điểm hoa răm. Chị không tươi cười tí nào, khô khan đón bọn trẻ ở ngay ngưỡng cửa buồng ngủ của chúng.
Lúc đó, cả hai cô bé đã kịp mặc áo tắm và bên ngoài mặc chiếc áo xa-ra-phan dai, sặc sỡ, và trên vai vắt khăn tắm, chúng đã chuẩn bị để chạy xuống bãi bơi.
- Trước khi bác sĩ khám, không được bơi lội gì hết cả, - Ôn-ga Páp-lốp-na nói.
- Các bác sĩ khi nào cũng cho phép em bơi cả mà! - Gu-li-a không hài lòng nói lí nhí. - Năm ngoái, ở A-rơ-tếch, em đã thi xếp hạng kia mà - bơi lội và chèo thuyền...
- Ở A-rơ-tếch năm ngoái là một chuyện, còn ở đây lại là chuyện khác.
Từ buổi gặp mặt đầu tiên đó, giữa Gu-li-a và chị Ôn-ga Páp- lốp-na bắt đầu chạm trán nhau. Ôn-ga Páp-lốp-na là một người rất nguyên tắc. Cách ly là cách ly, không lôi thôi gì hết: phải ngồi ở nhà hay là chơi trong mảnh vườn con trước nhà mình. Mặc cho cả nhà an dưỡng vui chơi: đi xem chiếu bóng, đi dạo, đi bơi lội, còn mình thì giống như bị giam, không được hưởng một chút ân huệ nào hết.
Giờ yên lặng là giờ yên lặng, không lơ mơ gì hết: phải nằm và thậm chí không được nói khẽ một lời với cô bạn láng giềng nằm cạnh nữa.
- Các em đến đây để chữa bệnh, thế thì chúng tôi sẽ chữa bệnh cho các em, - Ôn-ga Páp-lốp-na nói. - Các em cố muốn hay không muốn cũng vậy.
Tất nhiên, Gu-li-a muốn chữa lành bệnh, nhưng, ngoài ra, hàng ngày cô còn muốn thêm cái gì đấy nữa: chèo thuyền, bơi thi, buổi tối đi dạo trên bờ và ngắm đường trăng chạy dài trên mặt biển, còn trong giờ yên lặng thì cùng Mi-ra học thêm vài chữ Tây- ban-nha.
Chính vì thế mà hầu như hàng ngày đều xảy ra va chạm giữa cô và chị Ôn-ga Páp-lốp-na.
Gu-li-a phát cáu, còn Ôn-ga Páp-lốp-na thì vẫn bình tĩnh, sốt sắng và nghiêm nghị như trước, và điều đó lại càng làm cho Gu-li-a tức điên lên được.
- Khô như rơm, - Gu-li-a nói, - chẳng còn tí tình cảm con người gì nữa!
- Thật là đứa bó khó bảo, —Ôn-ga Páp-lốp-na nói. - có tài nhưng khó bảo.
Gu-li-a tiếc nhất là vì chế độ khắc nghiệt mà cô không chơi với các bạn Tây-ban-nha được nhiều thời gian như cô mong muốn.
Suốt một tuần lễ bị cách ly. Sau đó, chữa bệnh và lại chữa bệnh: hết tắm bùn, đến chạy điện, lại giờ yên lặng; cứ mỗi ngày một giờ rưỡi giờ yên lặng! Mà ngày ở đây ngắn hơn ở bất cứ trại hè nào, vì rằng khi sương chiều vừa xuống thì thôi, không được ra vườn nữa.
Tuy vậy, Gu-li-a đã kịp kết bạn với bọn trẻ con Tây-ban-nha. Không biết tiếng thì cô dùng lắm mẹo để nói chuyện với chúng, bằng bộ điệu, bằng nụ cười và chút ít bằng lời - cả tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Tây-ban-nha mà cô học lỏm được ngay trong câu chuyện.
- Lạ thật, - cô nói với Mi-ra, - ở Tây-ban-nha chúng có những trường thú vị thế nhỉ! Trong một năm, chúng học qua hết cả môn đại số, cả môn hình học và môn vật lý Còn năm sau thì cũng những môn đó, nhưng học tỉ mỉ, chu đáo hơn. Mà chúng không có giờ ra chơi giữa các tiết. Học liền tù tì một mạch nửa ngày không nghỉ.
- Làm thế nào cậu biết được tất cả những điều đó? - Mi-ra hỏi.
- Chúng kể với mình.
- Kể thế nào được?
- Kể thế nào… mình cũng chẳng biết kể thế nào cả. Chỉ biết là mình hiểu hết. Hôm qua, mình còn học được cả một bài ca Tây-ban-nha nữa. Thật là một bài ca tuyệt trần, về cậu Pê-pê nào đó đi vào sân nuôi gà vịt. Trong bài ca nghe rõ cả tiếng ngỗng kêu quang quác, tiếng gà cục tác. Bằng tiếng Tây-ban-nha thì nó rất hay! Nhất định cậu phải soạn phần nhạc đệm cho bài hát này. Mi-ra, cậu soạn nhé?
Rồi Gu-li-a lại chạy đến với bọn trẻ con Tây-ban-nha. Cô kết bạn thực sự với bọn lớn tuổi, nhất là với cô bé Côn-si-ta Khô- ra-bô và cậu bé là Kha-vi-e Gôn-xa-lét. Hai đứa ấy nói tiếng Nga khá nhất bọn, và Gu-li-a hỏi chúng không chán về cuộc chiến tranh mà chúng đã thấy và hơn nữa đã tham gia.
- Ở đây bầu trời yên tĩnh thật, - có một bận, Côn-si-ta ngửa đầu lên nhìn bầu trời mùa hè xanh thẫm và nói.
- Yên tĩnh à? Cậu muốn nói gì? - Gu-li-a hỏi, nhưng trước khi Côn-si-ta kịp trả lời, thì cô đã đoán ra cô bé Tây-ban-nha muốn nói gì.
Chắc có lẽ là hãi hùng lắm nhỉ, khi trên bầu trời xanh thanh bình như thế kia, ầm ầm rú lên tiếng động cơ máy bay địch, từng đàn từng đàn lũ lượt lượn trên thành phố, còn xung quanh thì nhà cửa sập đổ ngổn ngang và mặt đất rung động vì những tiếng nổ.
«Chẳng lẽ một lúc nào đấy cả chúng ta cũng phải trông thấy và chịu đựng những cảnh như vậy ư?» - Gu-li-a nghĩ thầm.
Và cô thông cảm, âu yếm nhìn những đứa trẻ lanh lợi ấy, có nước da ngăm ngăm đen, những cặp mắt sinh động và nồng nhiệt, mặt gầy gầy và gãy gọn với những hàm răng trắng muốt.
Trong số trẻ con Tây-ban-nha, nhiều đứa hao hao giống bọn nhi đồng mà Gu-li-a phụ trách. Chúng đều vui tươi, khỏe mạnh, nhưng chỉ cần nhìn xem chúng khát khao, vội vàng chạy đến với những anh chị hoặc những người đồng hương của chúng, cũng đủ hiểu rằng chúng nhớ nhà, nhớ những người thân thích ruột thịt như thế nào.
Gu-li-a không biết nên làm vui lòng chúng bằng cái gì. Hàng ngày, cô mua cho chúng khi thì quít, khi thì kẹo, bưu thiếp có tranh vẽ, quạt giấy, khi thì chuỗi hạt bằng vỏ ốc và đủ loại lặt vặt khác.
Bọn trẻ con gọi đùa cô là <<Mát-re-xi-ta>, nghĩa là «Bà mẹ bé tí. Những giấy màu của kẹo, thì chúng cẩn thận vuốt phẳng phiu và cất đi để kỷ niệm về cô. Còn quít thì chúng chén thả cửa.
- Chẳng có gì là lạ cả, - Gu-li-a nói. - Ở Tây-ban-nha, một năm, cam chín những bốn lần kia mà. Dân Tây-ban-nha không có cam không sống nổi. Cũng như mình với cậu không có khoai tây vậy.
Và cô lại gọi Mi-ra ra bờ đến quán mua quít, kẹo cho bọn trẻ Tây-ban-nha, mua cho mình và bạn gái bốn cái kem, tờ tạp chí điện ảnh số mới nhất ở quán bán sách báo.