«Bố yêu quý! Con rất sung sướng, bố ạ, con sẽ đi A-rơ-tếch! Đó là phần thưởng do con đóng phim và cũng là phần thưởng do con đã lên lớp tám với kết quả tốt... »
Ngồi vào bàn, Gu-li-a vội vã viết. Bên cạnh, trên ghế đặt một chiếc va-li không, mở rộng, còn trên đi-văng thì xếp cẩn thận tất cả «bộ cánh» đơn giản của Gu-li-a: cái áo dài trắng cô mặc hôm đi thi, những áo xa-ra-phan sặc sỡ và những áo mai-ô.
«...Bố ạ, bố nghĩ xem, con được đi tàu thủy đến Xê-va-stô-pôn và từ đó sẽ đi ô-tô đến A-rơ-tếch cơ! Bây giờ ở nhà ta, tất nhiên, câu chuyện chỉ xoay quanh A-rơ-tếch. Thậm chí con đã xếp xong cả đồ đạc rồi, dù hôm nay mới hăm ba, mà đến mồng một mới đi cơ. Chao ôi, đợi lâu quá! Con được phiếu đi nghỉ ở Trại dưới, sát ngay bên bờ biển. Thế mới tuyệt chứ! Con đang sung sướng không thể nào tả được! »
Những ngày của tuần ấy kéo dài lê thê. Gu-li-a cảm thấy hình như kim đồng hồ của cô không chạy nữa, mà đứng im một chỗ. Và Gu-li-a luôn luôn đưa đồng hồ lên tai, lắng nghe xem nó có chạy không.
Nhưng, trăng đến rằm thì tròn, sao đến tối thì mọc.
Và đây rồi, chiếc ô-tô-buýt màu xanh lam đang đưa Gu-li-a phóng nhanh trên đường núi trắng. Phía trước là A-rơ-tếch!
Núi bao vây quanh xe, cái thì trọc lóc, cái thì như có tóc quăn vì cây cối mọc um tùm. Con đường như bị cắt ở mép phía bên phải, vì nó đi sát trên bờ vực thẳm.
- Ôi, hẹp quá! - cô bé ngồi cạnh Gu-li-a kêu lên, khi chiếc ô-tô-buýt lọt vào giữa vách đá và vực thẳm.
- Đừng sợ, - Gu-li-a nói. - Cậu bám lấy mình này.
Con đường uốn khúc và ngày càng lên cao. Những mảnh xam xám, giống như bông, bò lan khắp nơi xuống phía dưới.
- Khói! - một đứa nào đấy trong bọn trẻ ngạc nhiên kêu lên. - Khói từ đâu kéo đến thế này?
- Không, đó không phải khói đâu, hơi nước đấy, - một đứa khác đáp lại.
- Đó không phải là khói, cũng chẳng phải hơi nước. Mây đấy, - một chú thiếu niên tiền phong da rám nắng, mắt đen, đầu đội chiếc mũ thêu con.
- Ôi, chúng mình lên cao quá! - bọn trẻ tranh nhau nói. - Cao hơn cả mây!
Chiếc ô-tô-buýt chạy vòng quanh sườn đá và bắt đầu hãm phanh từ từ chạy xuống thấp. Khi đi qua khỏi cổng Bai-đa-rư, thì ở phía dưới liền mở ngay ra một khoảng xanh mênh mông.
- Biển! - bọn trẻ con reo lên.
- Biển, Hắc-hải! - cô bé ngồi cạnh Gu-li-a trầm ngâm nói. Chỉ sáng nay, lần đầu tiên, cô mới được trông thấy biển ở Xê-va-stô-pôn, khi tàu lửa đưa cô từ Mát-scơ-va đến đó.
- Vì sao gọi là biển đen nhỉ, khi chính nó màu xanh?
- Khi trời sáng sủa, thì nó xanh, - Gu-li-a nói, - còn khi có bão táp, nó thường như hoàn toàn đen.
Và bây giờ con đường đã chạy đến gần, rất gần biển, bắt đầu nghe rõ tiếng sóng ầm ầm và rào rạt vỗ vào bờ rồi rút ra, kéo theo sỏi đá.
- Đến nơi rồi! - người tài xế nói và lái xe vào cổng mở rộng.
Phảng phất thơm mùi nhựa cây trắc bá lẫn mùi hoa.
... Ngay ngày hôm đó, Gu-li-a cùng một vài bạn trẻ chạy đến xem vườn hoa.
Trẻ con từ bốn phương kéo về A-rơ-tếch. Nào là trẻ con Xi-bê-ri, Cáp-ca-dơ, cả trẻ con Bi-ê-lô-rút-xi, U-dơ-bê-ki-stăng. Giọng nói như hát của U-cơ-ren hòa lẫn với thổ âm ồ ồ của những người ở vùng sông Vôn-ga.
Vườn hoa thật lớn. Những đường đi, những lối mòn dẫn lên núi, rồi lại đưa xuống thấp, đến tận bờ biển và chạy tản đi các phía. Trong vườn hoa, ở dưới thấp trồng những cây cọ lá to rộng tua tủa những đầu nhọn, những cây mộc lan lá dày như da, những cụm phong lan to màu hồng. Còn ở cao hơn, trên các sườn đồi, óng ánh lá xanh vàng nhạt của những cây trăn, vươn trên những chùm lá nhọn hình tháp của các cây tùng.
Từ đằng xa nổi lên một ngọn núi cao, thẫm màu vì lá cây xanh. Nó giống như một con thú to, màu nâu xám, nằm phù phục sát biển và uống nước.
- Ay-u Đác - Hòn Gấu! - một đứa nào đó trong bọn trẻ nói. - To thật!
- Không to lắm. Ở Cáp-ca-dơ, chỗ chúng mình, có nhiều núi còn cao hơn, - chú bé da rám nắng, mắt đen nói, chính nó đã giải thích rằng không phải khói mà là mây, khi xe chạy trên núi. Nhưng lúc đó, đi đường, đầu nó đội chiếc mũ thêu con, còn bây giờ nó đội mũ pa-na-ma trắng, như tất cả các trẻ khác.
- Thế cậu ở đâu đến? - Gu-li-a hỏi.
- Cậu có biết Ca-bác-đa không? - chú thiếu niên tóc đen hỏi lại Gu-li-a, thay câu trả lời. - Cậu có biết làng Ken-gie không? - Rồi nó nhìn thẳng vào mắt Gu-li-a.
- Không, mình chưa hề nghe nói bao giờ, - Gu-li-a đáp, - Ca-bác-đa mình có nghe, chứ Ken-gie bây giờ mình mới nghe lần đầu.
Rồi, im lặng một tí, cô lại hỏi:
- Thế vì sao cậu được thưởng phiếu đi nghỉ?
Gu-li-a cũng đã biết trước rằng đợt đi nghỉ này đặc biệt, hầu hết các trẻ đều được thưởng phiếu đi nghỉ do có công gì đấy với Tổ quốc. Trong số bọn trẻ đến đây có những thiếu niên tiền phong mà cả nước đều biết tiếng.
- Mình nuôi ngựa, - chú bé ở Ca-bác-đa vui vẻ trả lời, lộ những hàm răng trắng bóng. Ba con: Cô-stích, Ca-dơ-bếch và Da-ua-bếch.
- Nuôi cho ai? - một đứa nào đó trong bọn hỏi.
- Còn cho ai nữa? Cho đội Kỵ binh đỏ. Chính mình cũng là «kỵ sĩ» đấy.
- Thế cậu là Ba-ra-sbi à? - Gu-li-a vui mừng hỏi, cô nhớ là cô đã đọc về cậu bé đó trong tờ Sự thật thiếu niên tiền phong. - Ba-ra-sbi Kham-gô-cốp!
Và cô giương mắt nhìn chú bé có thân hình cân đối, gầy gầy, mắt sắc mà hoàn toàn cô không ngờ lại được gặp mặt.
- Mình cũng yêu ngựa, - cô nói. - Và cũng biết cưỡi ngựa.
Ba-ra-sbi nhìn cô tỏ ý không tin. Nhưng chẳng bao lâu, chúng đã trò chuyện với nhau, và Gu-li-a có cảm tưởng hình như cô đã quen biết cậu «kỵ sĩ» nhỏ tuổi ở một làng miền núi tên là Ken-gie này từ lâu rồi.
Nửa giờ sau, bọn trẻ con đã biết đứa nào ở đâu đến, tên là gì. Trong số bọn trẻ, té ra có những anh hùng thật, như một thiếu niên tiền phong đã cứu được chiếc máy bay (chú đốt lửa lên, và người phi công hiểu là không thể hạ cánh được), một chú khác đã bắn được hai con chó sói, và một chú thứ ba đã cứu được một đứa bé con ra khỏi đám cháy...
- Thế cậu cũng đã cứu được người nào đấy chứ? - Gu-li-a hỏi một cô bé thấp thấp, mắt đen láy.
- Không, mình nhặt bông. - cô bé trả lời, khó nhọc lắm mới nói lên được những tiếng Nga. - Cậu có biết Tát-gi-ki-stăng không?
Gu-li-a chăm chú nhìn khuôn mặt tròn, hơi rộng và ngăm ngăm đen.
- Mam-la-cát! - cô nhận ra. - Na-khan-gô-va! Tất nhiên mình biết. Mình thấy ảnh cậu đăng trên tất cả các báo. Về cậu mình đã biết tất cả, tất cả, cả việc cậu nhặt bông bằng hai tay, cả việc cậu được tặng thưởng huân chương Lê-nin do thành tích của cậu. Và cả lúc cậu ở điện Cơ-rem-lanh, mình cũng đã nghe kể rồi.
Từ ngày đó, Gu-li-a kết bạn với Mam-la-cát và Ba-ra-sbi.
Gu-li-a dạy cho Mam-la-cát những bài ca và điệu múa Nga. Còn Ba-ra-sbi cuối cùng đã tin rằng cô bé Mát-scơ-va tóc vàng này biết cưỡi ngựa thật và bắt đầu dạy cho cô cưỡi ngựa theo kiểu «kỵ sĩ».
«Chà, giá bây giờ mình được đóng phim phải vượt qua vật chướng ngại thế nào nhỉ! - Gu-li-a suy nghĩ, nhớ lại bao nhiêu khó khăn cô đã gặp phải trong khi vượt qua hàng rào chắn đầu tiên. - Mình sẽ tỏ ra cưỡi ngựa lành nghề như thế nào! »
Chính vì muốn «cưỡi ngựa lành nghề» đó mà Gu-li-a đã một lần phải láu cá. Cô bí mật trốn giờ yên lặng buổi trưa, và giờ yên lặng của cô đã trở thành giờ hoạt động nhất trong ngày.
Nhưng ở đây lại gặp một trở ngại bất ngờ. Mam-la-cát nhận thấy sự vắng mặt bí mật của cô và nhất định từ chối không chịu nghỉ trưa, trong lúc những người khác không nghỉ. Cô ấy cũng chẳng thích gì giờ yên lặng cả.
Điều đó làm cho Gu-li-a lúng túng. Nhất là khi có hai cô bé nữa cũng theo gương cô, không chịu nằm ngủ trưa. Nhưng có thể nào vì thế mà bỏ cuộc cưỡi ngựa đi chơi trên núi tuyệt vời được!
Và thế là Gu-li-a nghĩ cách thoát ra khỏi tình thế khó khăn này. Cùng với tất cả bọn trẻ, cô ngoan ngoãn nằm lên giường. Nhưng khi các cô bạn láng giềng đã ngủ rồi, thỉ cô nhè nhẹ ngồi dậy và len lén đi trên đầu ngón chân đến cửa, ờ ngoài cửa mặt trời miền Nam tỏa ánh nắng chói chang.
Trên con đường chạy thi của Vườn hoa Trên, Ba-ra-sbi Kham-gô-cốp đã đợi cô. Nó cưỡi trên mình con ngựa tía và tay nắm dây cương giữ một con ngựa khác màu lông sáng hơn một ít.
Khắp mình vàng rực lên dưới ánh nắng, con ngựa sốt ruột giậm móng và vươn cổ, hình như thì thầm điều gì đó vào tai con ngựa của Ba-ra-sbi.
Gu-li-a nhảy phóc lên yên ngựa, cảm thấy một niềm vui vẻ tự hào rằng bây giờ cô làm việc đó chẳng cần phải cố gắng tí nào cả.
Ba-ra-sbi thì không nói không rằng, giật cương, và chúng phi trên con đường chạy thi, sau đó lại phóng ra ngoài hàng rào vườn hoa, chạy trên đường núi.
Gió nhẹ thoảng hơi mát và thổi mùi thơm của cây ngải cứu vào mặt chúng, về phía bên phải, sau vực sâu thẳm và tối, vịnh của Hắc-hải xanh ánh lên như thép, về phía bên trái lờm chởm nổi lên những tảng đá dựng đứng phủ đầy rêu.
- Phải về trại sơm sớm, - Gu-li-a nói và hãm ngựa lại đi chậm hơn trên con đường hẹp. - Nếu người ta biết chúng mình trốn khỏi giờ yên lặng, thì chúng mình sẽ khốn khổ đấy.
Và trước khi ở phía dưới vang lên tiếng kèn đồng, bọn trẻ đã kịp phóng ngựa nhanh về trại. Buộc ngựa vào chỗ, chúng chạy luồn về nhà mình mà ở đây - ở A-rơ-tếch người ta gọi là «lều». Gu-li-a len lén chui tọt lên giường.
Mam-la-cát nằm cạnh, mắt nhắm, thở đều. «Hay quá! - Gu-li-a nghĩ bụng. - Chẳng người nào biết gì cả. Chu rồi! »
Nhưng, bỗng nhiên trên mặt của Mam-la-cát dang ngủ, nở ra một nụ cười láu lỉnh.
- Mình nằm mơ lạ quá! - cô ta duỗi dài chân tay và nói.
- Mơ thế nào? - Gu-li-a thì thào hỏi để khỏi đánh thức các bạn láng giềng.
- Mình nằm mơ thấy... hình như là tất cả bọn trẻ đều ngủ, còn cậu và Ba-ra-sbi thì cưỡi ngựa... Giấc mơ xấu, không thành thực.
- Do đâu cậu biết thế, Mam-la-cát?
- Mình biết thế. Cậu dậy, mình cũng dậy. Cậu vào công viên, mình cũng vào công viên. Và sau đó, cậu phóng di, còn mình vẫy tay chào cậu và quay trở về.
- Mam-la-cát thân yêu! Đây là lần cuối cùng. Nhất định là lần cuối cùng. Chính mình cũng biết thế là không tốt. Nhưng cậu biết đấy, mình rất cần học cưỡi ngựa! Rất cần! Nhưng học vào lúc nào được? Ở đây thì mọi lúc đều đã ghi vào thời gian biểu cả rồi: ăn sáng, ăn trưa, điểm danh, tắm, bơi thuyền, đi tham quan, lửa trại... Còn ở nhà thì càng bận.
- Thế cậu đánh lừa mình làm gì? - Mam-la-cát buồn rầu trách.
- Đấy, chính là điều xấu! - Gu-li-a hối hận nói. - Mình không muốn lừa ai cả... Và sẽ không bao giờ! Cả cậu, cả các anh chị phụ trách, cả mọi người! Cậu tin mình không, Mam-la-cát?
- Mình tin, - Mam-la-cát nói. - Đừng giận mình nhé... Và cũng đừng tự giận mình đấy!
Và cô vỗ vỗ vào má Gu-li-a.