Xuân đã đến, đó là một mùa xuân sôi nổi, nắng ấm ở Bát-skia. Trên đường phố nghe rộn ràng tiếng dòng nước chảy. Đó là ngày mồng Một tháng năm. Ngày mồng Một tháng năm đầu tiên của chiến tranh... Gu-li-a chạy vội về nhà. Cô mặc quân phục, một chiếc áo ca-pốt dài thắt đai. Từ lâu, cô đã làm việc ở sở chỉ huy sư đoàn, và khi thấy cô mặc quân phục, bà mẹ chẳng ngạc nhiên gì.
- Sao về sớm thế? - bà hỏi.
- Mẹ ạ, - Gu-li-a nói giọng run run, - con về để từ biệt mẹ. Con ra tiền tuyến.
- Lẽ nào người ta động viên cả con nữa ư? Con có con mọn kia mà...
- Con tình nguyện đi, mẹ ạ. Con không thể làm khác được. Mẹ sẽ chăm sóc cho Nhím Con còn tốt hơn con. Mẹ tha lỗi cho con vì con đã để lại cho mẹ một mối bận rộn ấy.
Bà mẹ lặng im nhìn Gu-li-a dường như không hiểu lời nói của con. Sau đó, bà hỏi khẽ, thậm chí không cãi lại con:
- Thế bao giờ con đi?
- Đoàn tàu quân sự sẽ chuyển bánh sau một giờ rưỡi. Nhưng cần phải có mặt ở sờ chỉ huy sớm hơn.
Và, cố gắng để nói vui vẻ hơn, cô thêm:
- Mẹ ạ, nướng cho con vài chiếc bánh rán để đi đường.
Sau đó, cô đến bên chiếc giường đan.
Nhím Con lúc đó không ngủ mà đang đứng thẳng người, tay nắm chặt thành giường và một chân giẫm lên gối.
- Mẹ! - nó nói bằng một giọng trầm trẻ con và toàn thân chìa về phía Gu-li-a.
Đó mới là lần thứ ba hay thứ tư trong đời nó gọi chữ «mẹ» ấy.
Gu-li-a cảm thấy rằng chỉ suýt nữa những giọt nước mắt của cô đã trào ra rồi. Cô im lặng bế Nhím Con trong tay và cùng với con ngồi bên cửa sổ.
Khi bà mẹ đã chuẩn bị hành lý cho cô lên đường, Gu-li-a đặt Nhím Con ngồi trên đầu gối và ngắm nhìn con hồi lâu. Nhím Con cau đôi mày trắng lông tơ, sờ ngôi sao trên chiếc mũ ca-lô của mẹ và bập bẹ nói cái gì đấy bằng thứ tiếng riêng của mình, không ai hiểu được. Còn Gu-li-a thì cố ghi nhớ kỹ hơn đôi bàn tay con của nó với nhũng chiếc móng tí hon, cái trán tròn và hơi dô, cái gáy vái những mớ tóc mịn màng màu sáng.
Đấy là những phút cuối cùng ở nhà.
Luôn luôn trước mắt cô hiện ra buổi sáng ấy, buổi sáng khi cô đến cửa tòa nhà bằng đá trắng hai tầng. Ban chỉ huy của sư đoàn bộ binh thứ 214 chỉ vừa mới thành lập đóng ở đấy.
Mới cách đây không lâu, tòa nhà này chính là trường học.
Trong các lớp, buổi học đều đặn trôi qua, và đến giờ giải trí, ở ngoài hành lang rộng lại vang lên tiếng ồn ào đủ giọng..,
Bất ngờ Gu-li-a được gặp người mà cô mong đợi: sư đoàn trưởng thiếu tướng Bi-ri-u-cốp. Ông ở trong xe đi ra. Đó là một người vạm vỡ, mập mạp, tuổi trạc bốn mươi, Gu-li-a đã thấy sư đoàn trưởng một vài lần trong các buổi ca nhạc của đội tuyên truyền. Cô nhớ lại rằng ông rất chăm chú nghe khi cô biểu diễn ở các đơn vị bộ đội, ngâm thơ hay là hát, và sau đó ông vỗ tay rất lâu.
- Thưa đồng chí thiếu tướng, - Gu-li-a đi đến gần ông cạnh cửa sở chỉ huy và nói, - xin phép trình bày với đồng chí một yêu cầu.
Và lấy hơi, cô nói thêm:
- Tôi muốn được ghi tên tình nguyện ra tiền tuyến, Thiếu tướng chằm chằm nhìn cô, ngạc nhiên hỏi:
- Ra tiền tuyến? Làm gì? Ở đây, ở hậu phương, cũng cần người.
- Tôi biết, - Gu-li-a cứng cáp nói, - nhưng tôi đã quyết định thế.
Thiếu tướng tò mò nhìn cô.
- Sao chúng ta lại đứng ngoài cửa thế này nhỉ? - ông nói. - Chúng ta vào sở chỉ huy đi và ở đó sẽ nói chuyện.
Cả hai người leo lên cầu thang đến tầng hai và đi dọc theo hành lang trường học. Ở ngoài cửa còn giữ lại các tấm biển con với dòng chữ:
Lớp năm «A», «B», «C» ..
Thiếu tướng mở cửa có tấm biển đề «Phòng giáo viên».
Trong phòng hầu như trống không. Chắc là người ta mới cất bàn ghế trường học đi và chưa kịp bày biện đồ đạc mới. Chiếc bàn văn phòng, vài ba cái ghế, chiếc máy điện thoại trên bàn, đó là tất cả những thứ có ở đây. Gu-li-a tưởng tượng rằng cô sẽ thấy ở đây những tấm bản đồ quân sự, nhưng phía trên chiếc bàn chỉ treo độc một tấm bản đồ: nước Bát-skia.
Còn ở phần tường giữa hai cửa sổ lớn, Lê-nin - dường như có ý thử thách và chằm chằm - nhìn Gu-li-a.
Thiếu tướng đầy chiếc ghế mời cô ngồi, bình tĩnh và ân cần hỏi:
- Thế nào, sao chị lại nhất định muốn ra tiền tuyến, để làm gì?
- Tôi muốn trả thù, - Gu-li-a đáp, cố gắng nói cứng cáp và ngắn gọn. - Trả thù cho Ki-ép, cho chồng tôi đã hy sinh, cho các trẻ thơ mà chúng nó đã bẳn ở A-na-pa, cho tất cả...
Thiếu tướng niềm nở và thân mật chăm chú nghe cô nói. Và trong giây lát, cô hình dung ra ông ta như thế nào cách đây không lâu, trong thời bình. Chậm rãi, rất bình tĩnh, với giọng nói khe khẽ, có lẽ ông có thể ngồi hàng giờ ở đâu đấy trên bờ sông với chiếc cần câu...
«Con người giản dị, dễ gần thế này mà lại là sư đoàn trưởng, - trong óc cô thoáng qua ý nghĩ. - Và rõ ràng là rất nhiệt tình. Không, đồng chí sẽ không nhận mình ra tiền tuyến mất. Đồng chí ấy sẽ thương hại...»
Sư đoàn trưởng im lặng. Ông ngập ngừng. Cuối cùng ông nói:
- Chị cũng hiểu đấy, chúng tôi không lấy người ngoài được. Chúng tôi không có quyền. Các phòng quân vụ cấp người cho chúng tôi. Cấp theo mệnh lệnh.
Và im lặng một lát, ông nói thêm:
- Và để phục vụ trong quân đội cần phải có chuyên môn.
- Tôi cũng có chuyên môn! - Gu-li-a chộp lấy. - Tôi là y tá. Tôi đã làm việc trong bệnh viện... Thưa đồng chí thiếu tướng, tôi hiểu rằng tất cả điều đó không phải giản đơn, tôi hiểu việc tôi làm. Nhưng tôi không thể làm khác. Đồng chí hãy tin tôi, tôi không thể!
Và thiếu tướng tin. Tin rằng đó không phải vì tính nông nổi của tuổi trẻ, không phải là sự bồng bột lửa rơm, mà là một quyết định có cân nhắc chín chắn, có suy nghĩ sâu sắc.
- Thôi, thế thì còn làm sao với chị được nữa! - khẽ thờ dài, ông nói. - Chị hãy đến phòng quân vụ khu phố. Đưa đơn. Cả các giấy tờ chứng nhận. Và khi nào giấy tờ xong xuôi rồi, chị hãy đến gặp tôi một lần nữa...
...Và bây giờ tất cả những cái đó đã lùi về quá khứ rồi. Người ta phiên chế cô vào tiểu đoàn quân y, và thêm vào đó, nhận cô vào đội tuyên truyền của ban chính trị sư đoàn, coi như nữ nghệ sĩ. Cô lên đường ra tiền tuyến cùng với đội tuyên truyền.
- Mẹ thân yêu, - cô đứng dậy và nói, - thôi, đến lúc con đi rồi. Hẹn gặp lại ở Ki-ép, mẹ nhé!
Và, đưa Nhím Con cho mẹ, Gu-li-a ôm hôn mẹ; tay với cái gói nhỏ mà mẹ đã vội vàng chuẩn bị cho cô, cô ra đi. Đến cửa, cô ngoái cổ lại một lần nữa, nhắm mắt, rồi quay phắt và gần như chạy đi.
Khi đằng sau lưng cô cánh cửa đóng ập lại rồi, bà mẹ cảm thấy hình như trong phòng lập tức vắng ngắt, trống trải. Tất cả vẫn nguyên vẹn như lúc có Gu-li-a - trên bệ cửa sổ chiếc ví da cũ của cô còn nằm đấy, trong góc dựng đứng những thanh gỗ trượt tuyết của cô, trên bàn còn cuốn vở cô bỏ quên, trong đó chép những bài thơ ở các báo chí. Và thật là lạ, khi nghĩ rằng cô gái mà cách đây không lâu đã chép thơ vào vở, đã hát những bài ca U-cơ-ren vui tươi khi rửa mặt dưới vòi nước, bây giờ lại ra tiền tuyến, sẵn sàng đón lấy tất cả những khó khăn, thiếu thốn và nguy hiểm của chiến tranh.