Bên bờ đông, các trận đánh vẫn tiếp diễn như trước...
Người ta không còn thì giờ nghỉ lấy hơi nữa. Họ giận dữ bắn trả lại. Chỉ đến tối, khi hỏa lực quân Đức yếu đi, mới bắt đầu tạm yên đôi chút. Trong những phút tạm ngừng giữa các trận đánh, Gu-li-a, trước khi đi ngủ, thường hay đến «làm khách» người nào đấy trong số các bạn mới của mình.
Cả hôm nay cũng thế. Chỉ vừa mới lặng yên một chút, cô đã đến nhà hầm, nơi các chiến sĩ của đại đội một ở. Cô đi theo giao thông hào.
Trong nhà hầm, một ngọn đèn dầu leo lét phun khói. Trong ống khói lò sưởi bằng sát, gió rít từng hồi.
- A, Gu-li-a! - những giọng nói quen thuộc vang lên tứ phía. - Sao lâu không thấy lại? Chúng tôi đã thấy nhớ rồi đấy. Muốn uống nước chè không?
Sau vài phút, trên bếp lò con bằng sắt, chiếc ấm tôn đã sôi sùng sục làm nắp ấm bật lên bật xuống.
Chiếc đàn phong cầm, trong đôi tay thành thạo của người nào đấy, khe khẽ hát lên, mà vẫn không làm trở ngại đến câu chuyện.
Gu-li-a cảm thấy hình như trong đời cô chưa bao giờ ấm cúng và yên tĩnh như ở trong nhà hầm đen ngòm và bé nhỏ này, giữa những con người từ bốn phương của đất nước bao la tập hợp lại đây, những con người vất vả, mệt nhoài vì những trận đánh.
Cô ngồi sát lò, hân hoan được sưởi ấm và chằm chằm nhìn những ngọn lửa nhỏ vui vui chập chờn chạy từ hòn than này đến hòn than kia. Chúng hoàn toàn giống như những ngọn lửa nhỏ ở thành phố U-pha xa xôi. Và cũng vẫn những cái lưỡi lửa vàng kia nhảy nhót trong lò hệt như khi Gu-li-a còn bé tí, và người ta không cho cô cầm chiếc gậy thông lò.
Thật là lạ, hình như việc ấy mới xảy ra cách đây không lâu!
Còn bây giờ, cô đang ở tiền tuyến, ngay giữa lò lửa chiến tranh, và không ai nói với cô: «Gu-li-a, coi chừng bỏng đấy!»
Ngay trên nhà hầm đạn súng cối nổ kèm theo tiếng rít rên rỉ.
- Súng cối chúng bắt đầu rống rồi đấy, - một người nào đấy nói và nhấp cốc nước chè nóng.
Gu-li-a chi im lặng gật đầu.
Cô, cũng như tất cả các chiến sĩ khác, đã phân biệt rất giỏi tiếng nổ của súng cối Đức. Trong những tờ truyền đơn của chúng, bọn Đức huênh hoang bố láo rằng súng cối của chúng hơn đứt «ca-ti-u-sa» của quân ta.
- Không, chẳng hơn quái gì đâu, - một chiến sĩ đứng tuổi mà mọi người gọi là «bố» nói. - Hơn «ca-ti-u-sa» của quân ta thế nào được!
- Đúng thế, - người ngồi cạnh đồng ý và đưa tấm gỗ nhỏ tì vào đầu gối bè ra, vứt vào lửa. - Còn tôi đã nghe nói rằng chúng ta sắp cho ra «ăng-đơ-ri-u-sa» đấy. Nó sẽ dẹp yên đâu vào đấy!
- «Ăng-đơ-ri-u-sa» nào thế? - Gu-li-a hỏi.
- Con trai của «ca-ti-u-sa» ấy mà. Nó mà choảng thì ra choảng đấy! Còn cừ hơn cả mẹ nữa kia. Cách tám mươi thước chỉ riêng sức ép của nó đủ làm cỏ bọn chúng, chứ chưa kể đến mảnh đạn.
Tất cả im lặng trong giây lát, và chiếc đàn phong cầm lại lợi dụng lúc đó chơi to hơn, mạnh hơn, rõ ràng như khêu như gợi người ta ca hát theo.
Trong lò sưởi bập bùng ngọn lừa,
Trên củi hồng lệ nhựa từng hàng, —
Gu-li-a bắt đầu hát, và có người nào đấy ngồi bên cạnh cất cao giọng nam hát theo:
Nhà hầm thanh thót tiếng đàn
Ngợi ca đôi mắt mơ màng của em...
Người ta hát hết bài này đến bài khác. Hát chung và hát từng người một.
- Có thể hát với các đồng chí đến sáng được đấy, —- Gu-li-a đứng dậy nói, - nhưng làm thế nào được, bây giờ tôi phải đi về đây...
- Chị đi đâu?
- Đổi trực cho A-xi-a.
Thật ra thì giờ trực của A-xi-a chưa hết, nhưng Gu-li-a thương xót và giữ gìn cho người bạn gái của mình cùng ở trạm quân y tiểu đoàn - chính là cô gái gầy gầy, giống như cô nữ sinh, đã cùng Gu-li-a và Li-u-đa đi trên đoàn tàu quân sự ra tiền tuyến.
Gu-li-a lớn tuổi hơn cả hai bạn của mình. Cô đã gần hai mươi, còn hai cô kia mới chưa đầy mười tám. Và Gu-li-a tự nhiên đối xử với họ có vẻ hơi che chở, gọi họ là «các cô gái thân yêu của tôi» và, không ngần ngại, dành cho mình những công việc nặng nhọc và nguy hiểm nhất.
Còn công việc thì ngày càng nhiều, đời sống ngày càng khó khăn. Và bây giờ, khi nhớ đến nhà, đền gia đình, thì đời sống ở đấy đối với Gu-li-a thật như trong truyện cổ tích, hầu như không tưởng tượng được. Và hơn nữa, «nhà» ấy của cô ở đâu? Ở U-pha, nơi mẹ và Nhím Con đang tình cờ sống trong một căn phòng của người khác, hay là ở Ki-ép hiện đang bị quân Đức chiếm đóng, hay ở Mát-scơ-va, nơi mà từ đấy bố thường gửi cho cô những bức thư đầy săn sóc và lo âu?...
«Không, có thể mãi cho đến lúc chiến tranh kết thúc, nhà mình là ở đây - ở trong nhà hầm, - Gu-li-a vừa nghĩ vừa chạy từ nhà hầm này đến nhà hầm khác. - Và gia đình mình đây rồi:
Li-u-đa, A-xi-a và tất cả những con người thân yêu này mà mình cùng với họ đang chia sẻ với nhau cuộc sống rất gần cái chết».
Càng ngày Gu-li-a càng gắn bó với gia đình mới to lớn của mình. Cô viết cho mẹ:
«Mẹ hỏi con đã ăn mừng ngày sinh nhật thế nào à. Ở đây, hôm đó đánh nhau dữ lắm, và để tỏ lòng kính mến con, - như người ta nói thế, - cả trung đoàn pháo binh và pháo binh dã chiến của quân ta đã bắn hàng loạt súng vào đầu giặc. Còn đến tối, khi hơi yên một tí, chúng con đã ăn tối trong nhà hầm; hơn nữa, anh nuôi của chúng con nướng vài cái bánh ga-tô và trên một chiếc có viết chữ bằng bột nhào: «Tặng người chiến sĩ cận vệ tương lai». Trong ngày sinh của Nhím Con cũng có bắn vài loạt súng, và khi mọi người tập hợp nhau lại để ăn tối, thì bọn Đức bắt đầu phản công rất dữ dội. Cuộc tấn công bị đánh lùi, ngoài ra, còn chiếm được một vùng dân cư. Sau đó, các chiến sĩ đến gặp con và nói rằng chiến thắng này là để ăn mừng ngày sinh của Nhím Con của con».
Bức thư của Gu-li-a dài và chi tiết, song cô còn có thể viết về nhiều chuyện nữa, nếu trong thư gửi từ tiền tuyến được phép viết về tất cả và được gọi tên người.
Nếu được, thì cô đã viết rằng những chiếc bánh ga-tô đó do đồng chí trung đoàn phó dặn anh nuôi làm, đồng chí ấy thường hay lấy tình bố con quở mắng cô, khi cô không biết giữ mình, và săn sóc trông nom cho cô.
Nếu được, thì Gu-li-a đã viết trong thư rằng «cái bánh ga-tô cận vệ» hôm ấy được một trong những đội viên trinh sát nhỏ tuổi là Xa-sa đưa đến nhà hầm. Chú bưng hai tay cái khay trên để chiếc bánh, cẩn thận và chăm chú, dường như đó không phải là bánh, mà là mìn.
Còn Gơ-ri-sa đi bên cạnh nó, rõ rang có vẻ hơi tị với người bạn của mình, nó cũng muốn được tự tay trao cho Gu-li-a món quà mừng sinh nhật.