Thảo nguyên ven sông Đông, với những gò đồi và những lùm cây hiếm hoi, thưa thớt, chạy dài mênh mông bát ngát. Nếu không có chiến tranh, thì ở đây, trong những ngày này, các cây bạc hà, ngải cứu và các loại cỏ sẽ ngạt ngào thơm nức. Trên bầu trời cao không một gợn mây sẽ nghe thấy tiếng hót trong trẻo của chim sơn ca. Những hồ kia - Hồ Tròn, Hồ Cong - sẽ êm đềm phản chiếu bầu trời cao trong làn nước biếc, và dòng sông Đông sẽ thanh bình lặng lờ trôi giữa bờ tây dựng đứng và bờ đông thoai thoải.
Nhưng bây giờ trên thảo nguyên sặc sụa mùi khói. Những mìn, bom và đạn đại bác nổ tung, bốc lên những cột khói cao đen ngòm. Chốc chốc những tràng đại liên, trung liên, tiểu liên lại vang lên mạnh mẽ. Và nhìn ở đâu cũng chỉ thấy toàn là công sự, chiến hào, giao thông hào, khắp nơi mọc lên những ụ chiến đấu và những nấm mộ còn mới.
...«Trong thời gian này, con trông thấy rất nhiều và cảm xúc rất nhiều, - ngồi trong nhà hầm, Gu-li-a viết cho bố. - Quân ta đánh hăng lắm. Các chiến sĩ thật là anh dũng tuyệt vời. Nhiều bạn chiến đấu bị hy sinh, nhưng do đó lòng căm thù địch lại càng mãnh liệt hơn. Nếu còn sống, con sẽ thử viết một cuốn sách về những chiến sĩ anh dũng bảo vệ sông Đông.
Trên đầu chúng con, chỉ vừa mới nổ ra một trân không chiến ác liệt. Các phi công cừ khôi của chúng ta đã vặt cánh lũ quạ phát-xít. Mới đây, các đội viên trinh sát đã đưa về một tên phi công phát-xít bị bắn rơi tại trận.
Con lại sắp ra tiền duyên. Bây giờ ngồi viết thư cho bố, nhưng mọi ý nghĩ của con đều để ở đấy, ở cạnh các bạn của con, ở nơi đang đánh nhau kịch liệt. Bây giờ con ở cách họ khoảng năm cây số.
Bố ạ, bố biết không, không có gì thích hơn là sau cuộc chiến đấu ác liệt được tập hợp lại tất cả và, trong những phút tạm ngừng giữa các trận đánh, ba hoa xích đế, đùa cợt với nhau một chút. Giá hôm nay con không bị nhức đầu, thì sáng nay con đã đi ra tiền duyên rồi, nhưng mà đầu con đau lắm. Bọn Đức có súng cối bắt chước «ca-ti-u-sa» của quân ta. Thế là đạn ấy nổ làm long óc con. Đạn nổ cách con khoảng chừng mười lăm thước, mà cũng có thể gần hơn. Nhưng bố đừng lo, mọi việc sẽ qua khỏi thôi...»
Gu-li-a viết, tay chống vào đầu, nhè nhẹ lắc lư. Cơn đau càng ngày càng nhức nhối không chịu được. Nhưng nói với người nào đấy trong các bạn về điều đó, thì cô không muốn. Vì người ta sẽ đưa cô về trạm quân y thì còn gì nữa.
Một bận, trong lúc tạm yên ngắn ngùi mà Gu-li-a đã kể trong thư, những con người mệt phờ, lấm lem bụi bặm tập hợp nhau lại trong nhà hầm sau một trận chiến đấu.
Một người trong bọn, da mặt rám nắng như đồng, tóc nâu hạt dẻ, bạc màu vì ánh mặt trời, Xô-mi-ôn Phơ-rô-lô-vích Scô-len-cô, trước làm thợ mỏ, bây giờ là đội viên trinh sát, vừa cố hút điếu thuốc sâu kèn sắp tắt, vừa chậm rãi kể lại việc anh đi trinh sát cách đây không lâu như thế nào.
- Sáng sớm, tiểu đoàn trưởng gọi mình đến và nói: «cần phải kiếm một cái lưỡi[16]». - «Có! - mình đáp. - Tôi sẽ kiếm». Mình chuẩn bị lên đường, cẩn thận thử lại khẩu tiểu liên, bỏ lựu đạn vào bao - cả loại thường và loại chống tăng, rồi ra đi.
Scô-len-cô kể lại việc anh lọt vào vị trí bọn Đức thế nào - nơi thì chống khuỷu tay trườn, nơi thì cúi gập người lại, cố ẩn mình sau một bụi cây rậm, còn Gu-li-a ngồi nghe và nghĩ thầm:
«Đấy, đi trinh sát phải như thế chứ. Chỉ có can đảm không thôi thì không xong...»
Và cô nín thở lắng nghe câu chuyện kể lại rằng người chiến sĩ trinh sát của ta đã bí mật lén đến gần bọn. Đức, đã diệt bằng lựu đạn chống tăng sáu thằng ngồi trên mặt đất, còn thằng thứ bảy đứng gác bị anh tước vũ khí, tóm cổ và dẫn về ban chỉ huy.
Sau đó chưa đầy vài giờ, Scô-len-cô lại được giao nhiệm vụ mới: lần này do trung đoàn trưởng giao.
«Súng cối bọn Đức làm rầy rà quân ta rất dữ, - trung đoàn trưởng nói. - Phải tìm xem chúng đặt ở đâu>. - «Tôi sẽ tìm, - Scô-len-cô đáp và hỏi thêm: - Đi một mình hay với ai?» - «Tùy đồng chí», - trung đoàn trưởng đáp. «Tôi sẽ đi một mình! - Scô-len-cô nói. - Tôi đã đi rồi nên biết đường».
Ăn no, hút xong, quấn lại vải bọc chân, anh thử lại khẩu tiểu liên và ra đi. Chiều tối, anh trở về với mười bảy chiến sĩ Hồng quân. Tóc râu xồm xoàm, máu me bê bết, đi chân đất, khó nhọc lắm họ mới đứng vững được.
- Tôi giải thoát tù binh, đưa về đấy. Chút nữa họ qua đời rồi, - Scô-len-cô nói. - Họ đã đào huyệt cho mình.
Và anh kể lại rằng anh đã dùng lựu đạn chống tăng diệt ngay tại trận bảy thằng Đức, còn thằng thứ tám, lúc đó đứng ở xa, thì anh tóm cổ bắt làm tù binh. Anh còn kể rằng khi hai thằng xạ thủ súng máy nghe tiếng lựu đạn anh nổ và lệnh hô của anh: «Toàn đại đội theo tôi!», chúng liền ba chân bốn cẳng tẩu thoát, còn từ sau bụi cây, những chiến sĩ Hồng quân bị bắt làm tù binh vụt chạy ra. Đấy, chính là những người sắp bị bắn đấy. Vài phút sau, Scô-len-cô đã dẫn về đơn vị mình những người bị hành hạ đến gần chết kia, dường như họ vừa từ âm phù trở về, và cùng với họ có tên Đức bị bắt làm tù binh vừa lấm la lấm lét khiếp sợ nhìn những người lính Nga, vừa khó nhọc lê bước. Những người đã cầm chắc cái chết trong tay đang khiêng những khẩu súng cối chiến lợi phẩm. Nhưng sau khi chịu tất cả mọi sự tra tấn hành hạ, sống dở chết dở, họ vẫn sẵn sàng vác những thứ còn nặng hơn nữa. Còn tên tù binh Đức thì vất vả lắm mới vác được khẩu trung liên.
«Đấy, những anh hùng thường như thế! - Gu-li-a nghe xong câu chuyện của người chiến sĩ trước làm thợ mỏ và ngẫm nghĩ. - Bề ngoài giản dị thế kia: bộ mặt hơi rộng, dày dạn gió mưa và rám bỏng vì ánh nắng, với những giọt mồ hôi lăn tăn trên trán, mặc chiếc áo va-rơ đã bạc màu, đội chiếc mũ ca-lô hơi nhàu... Một chiến sĩ Hồng quân bình thường nhất, nhưng hai chiến công trong một ngày! Trước chiến tranh phải chăng mình đã hình dung được họ như thế?...»
Cô nhìn Scô-len-cô hồi lâu không rời mắt, hình như lần đầu tiên thấy anh ta vậy. Mà thực ra thì hai người vẫn gặp nhau luôn. Và mới cách đây không lâu, trong thời gian tạm ngừng giữa các trận đánh, anh đã kể cho cô nghe về cuộc đời của mình. Bố anh cũng là thợ mỏ đã chiến đấu bảo vệ Xa-ri-xưn trong thời kỳ nội chiến cũng như anh, Xê-mi-ôn Scô-len-cô, bây giờ đang bảo vệ Sta-lin-gơ-rát, trên những tiến lộ xa để vào thành phố này. Ông bố đã hy sinh và được chôn cất ở xóm Sia-scai-a Dưới, không xa vùng này lắm.
Tất nhiên, không phải tất cả các chiến sĩ đều như Xê-mi-ôn Scô-len-cô cả. Gu-li-a còn được thấy cả những trường hợp khác. Đôi khi con người không đù tự chu và dũng cảm.
Sau đó, vào tháng chín, đã xảy ra một trường hợp thế này. Trong trận đánh, khi tất cả đã lăn xả vào cuộc tấn công, Gu-li-a thấy một chiến sĩ trẻ, mới được bổ sung đến, đã dừng lại. Tất cả mọi người chạy lên, còn anh ta cứ đứng đực người ra. Gu-li-a không do dự gì, nắm lấy cổ áo anh ta, đây về phía trước và thét lên:
- Sợ à?
Người chiến sĩ hình như tỉnh lại, chạy bên cạnh Gu-li-a, trong tay cầm khẩu tiểu liên.
Vài ngày sau, khi đi ra trạm quân y tiểu đoàn, Gu-li-a gặp người lính Hồng quân có bộ mặt trông quen quen.
- Hình như tôi đã gặp anh đâu đấy thì phải, - Gu-li-a nói. - Tôi chỉ không nhớ ở đâu thôi.
- Còn tôi nhận ra chị ngay, - anh mỉm cười và hơi lúng túng. - Chị nhớ không, tất cả mọi ngươi xông vào trận, còn tôi thì vì chưa quen với... nói thẳng là tôi hơi nhát. Lúc đó, chị tóm gáy tôi, thúc cho tôi một đạp nên thân, thế là tôi ngoan ngoãn chạy lên phía trước.
Gu-li-a bật cười.
- Thế bây giờ thì sao? Anh không nhát nữa chứ?
- Tôi cố gắng không nhát. Cảm ơn chị!
...Sư đoàn không ở lâu tại chỗ. Chẳng bao lâu lại được lệnh mới: chuyển thành đơn vị dự bị của mặt trận và tiến về phía đông-bắc, vào vùng Cốt-lu-ban - về hướng sông Vôn-ga.
Gần sáng ngày 18 tháng tám, sau những lần chuyển quân đêm, vượt hai trăm năm mươi cây số đường trường theo chế độ hành quân, sư đoàn đã tập trung ở vùng Cốt-lu-ban - Xa-mô-pha-lốp-ca. Nhưng cả ở đây nữa, mọi người cũng không được nghỉ ngơi dù chỉ trong ít lâu. Lúc gần tối lại được lệnh: tiến ngay từ Cốt-lu-ban sang hướng tây. Như thế là cần thiết, vì ngay từ đêm 16 rạng 17, bọn Đức đã từ bờ tây sông Đông chuyển qua bờ đông ở vùng ấp Pan-si-nô. Sư đoàn phải tiến đến đấy, đến Pan-si-nô, để hắt quân thù xuống sông Đông và phá hủy chỗ qua sông của chúng.
Tảng sáng ngày 19 tháng tám, sư đoàn đã tới đây, vừa đi vừa triển khai và lao vào chiến đấu với quân thù cách Pan-si-nô không xa.
Sau đó, vào tháng mười, Gu-li-a viết thư cho bố, nhớ lại những việc đã xảy ra trong những ngày và đêm tháng tám đáng ghi nhớ đối với cô và tất cả các chiến sĩ khác:
«Vào một ngày nắng, quân ta đến thôn N. Lúc rạng đông, chúng con chui vào một chuồng ngựa lớn - cả xe tải đồ lẫn người. Nằm và ngủ thiếp đi. Ngủ bao lâu, không nhớ. Tất cả choàng dậy vì những hồi còi và bom nổ. Kính tung ra, vôi trát ở trần nhà, ở tường bay lả tả. Cả cái nhà lắc lư rất mạnh... Đợt tấn công bằng máy bay đã qua. Con nhảy ra, đi nhặt thương binh và băng bó. Chỉ vừa mới kéo được một số - người thì vào hầm nhà, người thì vào chiến hào - bỗng máy bay lại đến. Và chúng đều bay từng đàn. Và khi chúng bắt đầu choảng quân ta từ năm giờ sáng, thì lúc đó quân ta xông lên tấn công. Con đi cùng với tiểu đoàn. Chỉ vừa ra đến trạm quan sát, thì lại thấy chúng bay nữa. Còn trạm quân y đầu tiên của chúng con thì vừa vặn ở trên đồi và lại ngụy trang tồi. Chúng con bò vào chiến hào. Còn lũ máy bay thì dàn ra và bắt dầu nện dữ dội. Chúng con nhìn - một chiếc bổ nhào thẳng xuống chúng con. Và thêm nữa, để tác động tinh thần quân ta, chúng cho còi rú len. Tiếng còi rú rất khó chịu. Thằng phát-xít liệng một quả bom - một cột bụi tung lên. Bụi tung lên chúng con đến nỗi không còn nhìn rõ gì nữa. Chỉ còn nghe tiếng rống trên đầu và tiếng bom rơi xuống rít lên. Khi bom nổ ầm một tiếng, chúng con cười vang: «Trượt rồi!». Thế là hết. Trời xẩm tối. Quân ta đi tiếp. Đạn réo lên. Đạn súng cối khi nổ còn rên ri rít lên: «Vi-ù-ù...» Và đến đêm, quân ta rơi vào tình trạng bị đứt liên lạc hoàn toàn. Những người từ sườn bên phải đến báo rằng: «Nhóm xạ thủ súng máy của địch đã chọc thùng phòng tuyến và đang đi về phía sau lưng của các anh». Từ sườn bên trái tình hình cũng không ổn lắm. Các chiến sĩ thông tin đã được phái đi các nơi tất cả rồi. Không còn người nào ở lại cả. Thế là con xung phong xin đi khôi phục đường dây. «Tôi sẽ đến nơi», - con nói. Rồi con đi. Trên đầu lưới đạn lửa đan thành một cảnh tượng thật đẹp mắt. Trên đường, con nhặt được một thương binh với súng. Con kéo anh ta, và cả khẩu súng nặng của anh, thêm nữa con còn đeo bên sườn khẩu tiểu liên. Nhưng con đã kéo đến nơi được. Đường dây lại được khôi phục (con tìm ra được chỗ dây đứt và nối lại). Mà đêm thì tối như bưng. Địa điểm ở đây thì lạ. Con đã trở về được đến tiểu đoàn. Quân ta tóm được một tù binh. Con lại dẫn nó đi. Trong đêm ấy thật là nhiều việc, nhiều lắm, nhưng không thể kể hết được...»
Còn một việc nữa mà Gu-li-a đã kể trong thư của mình: việc cô đã băng bó cho một em bé bị thương như thế nào. Về điều đó, cô đã kể lại trong thư gửi mẹ:
«Ngày 19 tháng tám, trong một vùng dân cư, bom rơi vào một túp nhà đất, trong đó cả nhà đang ngồi. Bà mẹ bị chết, còn lại hai đứa con: một đứa lên một năm bảy tháng, còn đứa kia sáu tháng. Đứa bé này bị mảnh bom vào lưng. Con đang nhặt và băng bó thương binh, thì bỗng một bà cụ mang đến nhờ con băng bó cho đứa bé ấy. Con vừa băng cho nó vừa khóc, nước mắt rơi lã chã. Còn nó thì nhìn con bằng đôi mắt đau đớn mờ to, mà không khóc gì cả, chỉ rên rỉ thôi...»
Chắc là không phải chỉ một lần cô đã nhớ đến Nhím Con của mình khi mảnh băng trắng rộng, hết lớp này đến lớp khác, vấn chặt lấy cái ngực và cái lưng bé tí của dứa bé bị thương, giống như một chiếc gi-lê trắng.
«Không thể nào kể tất cả được, - Gu-li-a viết, - Giá bắt đầu viết tỉ mỉ tất cả những chuyện đã xảy ra trong những ngày ấy, thì một vài ngày cũng không đủ».
Đúng, Gu-li-a còn có thể kể nhiều nữa, nếu cô có thì giờ.
Giá được thì cô đã kể thêm rằng: sau một trong những trận tấn công bằng máy bay của bọn phát-xít, một hố bom to đã được đào ngay giữa đường rộng của ấp Pan-si-nô (đó chính là «thôn N» mà Gu-li-a đã viết trong thư trên). Đường kính của hố bom ấy không dưới mười thước, còn chiều sâu khoảng ba thước. Nhưng những ngôi nhà ở hai bên đường, chẳng hiểu do phép mầu nhiệm nào, mà vẫn còn nguyên. Một bà cụ từ trong nhà chạy ra. Nghe thấy các chiến sĩ đang đứng ở mép hố bom, nói chuyện với nhau và ngạc nhiên vì sao không ngôi nhà nào bị hư hỏng cả, bà cụ nói:
- Ông nhà tôi cũng sống sót đấy. Chính ông ngồi ngay gần cửa sổ.
Lúc đầu, Gu-li-a cũng không tài nào hiểu được làm sao các ngôi nhà này vẫn còn nguyên được. Sau đó người ta giải thích cho cô: bom rơi sâu vào tầng đất cát. Một phần mảnh bom rúc vào cát, còn phần khác thì tung lên không, theo góc lớn.
Trận đánh diễn ra không ngớt, chẳng lúc nào yên. Hai trung đoàn - của Su-mê-ép và Khô-khơ-lốp - dưới sự yểm hộ của pháo binh, đã cùng tấn công mãnh liệt và cuối cùng đã đánh bật được bọn Hít-le ra khỏi ấp Pan-si-nô, phá tan chỗ qua sông của địch, hắt chúng xuống sông Đông, và nhờ sự hỗ trợ của trung đoàn Goóc-ba-si-ốp đã quét sạch chúng ở bờ đông. Tuy thế, bọn địch vẫn mạnh hơn ta nhiều về binh lực và không quân. Bốn trăm máy bay phóng pháo lồng lộn công kích kịch liệt sư đoàn quân ta. Cùng một lúc từ hai phía - từ khu ấp Véc-tia-si ở phía nam nhưng cũng là bờ đông, và từ bờ đối diện, bờ tây - trọng pháo và súng cối địch thẳng cánh nã vào các trung đoàn quân ta rất ác liệt. Và đến đêm, sau những trận đánh dữ dội chưa từng thấy, các đơn vị của quân ta bắt buộc phải dừng lại ở vùng Pan-si-nô. Dù thế nào cũng không đến được những chỗ qua sông chính ở phía nam - ở vùng ấp Véc-tia-si. Không đủ lực lượng. Sư đoàn được lệnh chuyển sang phòng ngự. Không lùi một bước. Giữ vững đến chết. Và mọi người đã dừng lại.