Toàn Tập Edgar Allan Poe, Ấn Bản Con Quạ

Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Câu Chuyện Thứ Một Ngành Lẻ Hai Của Scheherazade

❊ ❊ ❊

Sự thật lạ lùng hơn hư cấu.—Tục ngữ cổ

Gần đây, nhân dịp thực hiện một số nghiên cứu về phương Đông, tôi có dịp tra cứu cuốn Tellmenow Isitsöornot, một tác phẩm (cũng giống như bộ Zohar của Simeon Jochaides) hầu như chẳng ai biết đến, ngay cả ở châu Âu; và theo tôi được biết, chưa từng được bất kỳ học giả Mỹ nào trích dẫn—nếu chúng ta không tính đến tác giả của cuốn “Những điều kỳ thú trong văn học Mỹ”;—như tôi đã nói, do có dịp lật giở vài trang của tác phẩm vô cùng đặc biệt vừa nêu, tôi đã không khỏi kinh ngạc khi phát hiện ra bấy lâu nay giới văn chương đã lầm tưởng một cách kỳ lạ về số phận của nàng công chúa Scheherazade, con gái tể tướng, đúng như số phận ấy được miêu tả trong “Nghìn lẻ một đêm”; và rằng cái kết được đưa ra ở đó, dẫu chưa hẳn là hoàn toàn sai lệch tính đến thời điểm ấy, thì ít ra cũng đáng trách ở chỗ đã không chịu tiến xa hơn nữa.

Để có thông tin đầy đủ về chủ đề thú vị này, tôi xin phép hướng dẫn độc giả tò mò tìm đọc chính cuốn “Isitsöornot”; nhưng trong lúc chờ đợi, mong độc giả tha thứ cho việc tôi xin được tóm tắt lại những gì mình đã khám phá ra ở đó.

Ai nấy đều nhớ rằng, theo phiên bản thông thường của các câu chuyện, có một vị quân vương nọ vì có lý do chính đáng để ghen tuông với hoàng hậu của mình, nên chẳng những đã xử tử bà, mà còn thề trước bộ râu của mình và đấng tiên tri rằng, cứ mỗi đêm sẽ cưới người thiếu nữ đẹp nhất trong vương quốc, để rồi sáng hôm sau đem giao nộp cho đao phủ.

Sau khi thực hiện lời thề ấy suốt nhiều năm ròng một cách không sai một ly, với sự tận tụy và nguyên tắc tôn giáo nghiêm ngặt mang lại cho ông ta rất nhiều tiếng tam như là một người sùng đạo và vô cùng khôn ngoan, ông ta bỗng bị cắt ngang vào một buổi chiều nọ (chắc hẳn là đang lúc cầu nguyện) bởi chuyến ghé thăm của vị đại tể tướng—người mà hình như con gái ông đang ấp ủ một ý định.

Nàng tên là Scheherazade, và ý định của nàng là hoặc sẽ cứu lấy đất khỏi thứ thuế hủy diệt nhan sắc đang tàn phá thần dân, hoặc sẽ tuân theo lề lối muôn thuở của mọi nữ anh hùng mà bỏ mạng trong gang tấc.

Thế là, dù chẳng phải năm nhuận (điều khiến sự hy sinh càng trở nên cao cả hơn), nàng liền ủy thác cho người cha là đại tể tướng đến cầu hôn nhà vua thay mình. Nhà vua mừng rỡ đón nhận bàn tay ấy—(thực ra ngài vốn đã định lấy nàng từ lâu, và chỉ chần chừ hết ngày này qua ngày khác vì e ngại tể tướng mà thôi),—nhưng khi đồng ý lúc này, ngài cũng nói cho tất cả các bên hiểu rõ một cách dứt khoát rằng, dù có là tể tướng hay không đi nữa, ngài tuyệt đối không có ý định nhượng bộ dù chỉ một chút trong lời thề hay những đặc quyền của mình. Do đó, khi nàng Scheherazade xinh đẹp khăng khăng đòi kết hôn với nhà vua, và quả thực đã kết hôn với ngài bất chấp lời khuyên can hết mực sáng suốt của người cha—khi nàng muốn và đã kết hôn với ngài, xin thưa, dù muốn hay không, thì đôi mắt đen láy tuyệt trần của nàng cũng đã mở to hết mức có thể trước hoàn cảnh lúc bấy giờ.

Tuy nhiên, có vẻ như nàng thiếu nữ khôn ngoan này (chắc chắn là đã đọc Machiavelli) đang ấp ủ một âm mưu nhỏ vô cùng tinh vi. Vào đêm tân hôn, với một cái cớ hợp lý nào đó mà tôi đã quên mất, nàng đã khéo léo sắp xếp để em gái mình nằm trên một chiếc giường đủ gần với chiếc giường của đôi uyên ương nhằm tiện bề chuyện trò qua lại; và, một chút trước lúc gà gáy, nàng đã cẩn thận đánh thức vị quân vương nhân hậu, người chồng của mình (kẻ chẳng mảy mai căm ghét nàng vì hắn vốn định vặn cổ nàng vào sáng hôm sau)—nàng tìm cách đánh thức ngài, tôi xin nhắc lại, (mặc dù nhờ có một lương tâm trong sạch và hệ tiêu hóa tốt, ngài vẫn ngủ rất say) bằng sự lôi cuốn sâu sắc của một câu chuyện (về một con chuột và một con mèo đen, thì phải) mà nàng đang kể (tất nhiên là bằng giọng thì thầm) cho em gái nghe. Khi trời hửng sáng, ngài lại thấy câu chuyện này hãy còn dang dở, và theo lẽ tự nhiên, Scheherazade không thể nào kể tiếp được nữa, bởi đã đến lúc nàng phải đứng dậy để chịu siết cổ bằng dây cung—một hình phạt chẳng mấy dễ chịu hơn việc treo cổ là mấy, chỉ có điều thanh lịch hơn một chút mà thôi!

Tuy nhiên, ngặt nỗi sự tò mò của nhà vua, tôi lấy làm tiếc phải nói điều này, lại lấn át cả những nguyên tắc tôn giáo vững chắc của ngài, khiến ngài lần này đành hoãn việc thực hiện lời thề lại cho đến sáng hôm sau, với mục đích và hy vọng được nghe tiếp đoạn kết về con mèo đen (hình như là một con mèo đen) và con chuột vào đêm hôm đó.

Thế nhưng, khi đêm đến, nàng Scheherazade không chỉ kết thúc gọn ghẽ câu chuyện về con mèo đen và con chuột (con chuột ấy hóa ra màu xanh lam), mà trước khi kịp nhận ra mình đang làm gì, nàng đã lún sâu vào những khúc chiết phức tạp của một câu chuyện khác, có liên quan (nếu tôi không nhầm lẫn hoàn toàn) đến một con ngựa màu hồng (mang đôi cánh xanh lá cây) di chuyển một cách dữ dội nhờ dây cót, và được lên dây cót bằng một chiếc chìa khóa màu chàm. Nhà vua còn cảm thấy bị cuốn hút sâu sắc bởi câu chuyện này hơn cả câu chuyện trước—và, khi trời hửng sáng trước khi câu chuyện kịp kết thúc (bất chấp mọi nỗ lực của hoàng hậu nhằm kể cho xong kịp giờ chịu trảm), ngài lại chẳng còn cách nào khác ngoài việc tiếp tục hoãn nghi thức ấy lại thêm hai mươi tư tiếng đồng hồ như trước. Đêm hôm sau lại xảy ra một sự cố tương tự với kết quả y hệt; rồi đêm tiếp theo—và cứ thế lặp lại; rốt cuộc, vị quân vương nhân hậu, vì bị tước đoạt mọi cơ hội thực hiện lời thề trong suốt khoảng thời gian không dưới một nghìn lẻ một đêm, cuối cùng hoặc là đã quên bẵng nó đi khi thời hạn kết thúc, hoặc được ban ơn tha miễn theo thủ tục thông thường, hoặc (điều này có vẻ hợp lý hơn) là đã phá bỏ nó hoàn toàn, đồng thời đập luôn cả đầu vị cha xứ giải tội của mình. Dù thế nào đi nữa, Scheherazade, vì là hậu duệ trực hệ của Eva, có lẽ đã thừa hưởng trọn vẹn cả bảy giỏ chuyện trò mà người phụ nữ ấy, như chúng ta đều biết, đã nhặt được dưới mấy tán cây trong vườn địa đàng; Scheherazade, tôi xin nhắc lại, cuối cùng đã chiến thắng, và sắc thuế đánh vào nhan sắc đã bị bãi bỏ.

Giờ đây, cái kết này (chính là cái kết của câu chuyện mà chúng ta được lưu truyền trong sử sách) quả là vô cùng hợp lẽ và thú vị—nhưng hỡi ôi! Giống như rất nhiều điều thú vị khác, nó thú vị hơn là có thật, và tôi hoàn toàn phải nhờ đến cuốn “Isitsöornot” mới có được phương tiện để đính chính sai lầm ấy. Người Pháp có câu ngạn ngữ: “Le mieux est l’ennemi du bien” (Cái tốt là kẻ thù của cái hoàn hảo), và khi nhắc đến việc Scheherazade đã thừa hưởng bảy giỏ chuyện trò, lẽ ra tôi phải nói thêm rằng nàng đã đem chúng đi gửi tiết kiệm lãi kép cho đến khi chúng tăng lên thành bảy mươi bảy giỏ.

“Em yêu của chị,” nàng cất lời vào đêm thứ một nghìn lẻ hai, (đoạn này tôi trích nguyên văn từ “Isitsöornot”), “em yêu của chị,” nàng nói, “giờ đây khi mọi rắc rối nhỏ nhặt quanh chiếc dây cung ấy đã qua đi, và thứ thuế đáng ghét kia đã được bãi bỏ một cách tốt đẹp, chị cảm thấy mình đã vô cùng bất cẩn khi giấu kín không cho em và nhà vua (người mà tôi lấy làm tiếc phải nói rằng đang ngáy—một điều mà không một quý ông nào lại làm) biết phần kết trọn vẹn của chàng Thủy thủ Sinbad. Con người này đã trải qua vô số cuộc phiêu lưu khác kỳ thú hơn nhiều so với những gì chị từng kể; nhưng sự thật là vào đêm kể những chuyện đó, chị cảm thấy buồn ngủ, nên đã bị dụ dỗ cắt ngắn chúng đi—đó là một hành vi sai trái trầm trọng, mà chị chỉ biết hy vọng Allah sẽ tha thứ cho mình. Nhưng dù sao thì vẫn chưa quá muộn để khắc phục sự thiếu sót lớn lao này—và ngay sau khi chị véo nhà vua một hai cái để đánh thức ngài dậy cho đến khi ngài chịu ngưng cái thứ âm thanh khủng khiếp đó lại, chị sẽ lập tức chiêu đãi em (và cả ngài ấy nếu ngài muốn) phần tiếp theo của câu chuyện vô cùng đặc biệt này.”

Nghe vậy, em gái của Scheherazade, theo như tôi đọc được từ cuốn “Isitsöornot”, không hề tỏ ra quá mức phấn khích; nhưng nhà vua, sau khi bị véo đủ đau, cuối cùng cũng ngừng ngáy và thốt lên một tiếng: “Hừm!”, rồi tiếp đó là “Hô!”, và khi hoàng hậu hiểu những từ ấy (chắc chắn là tiếng Ả Rập) có nghĩa rằng ngài đang hoàn toàn chú lắng nghe và sẽ cố gắng hết sức để không ngáy nữa—hoàng hậu, tôi xin nhắc lại, sau khi đã thu xếp ổn thỏa mọi chuyện theo ý mình, liền lập tức quay trở lại với câu chuyện về chàng Thủy thủ Sinbad:

“‘Cuối cùng, khi tuổi đã xế chiều,’ [đây là lời của chính Sinbad, được Scheherazade thuật lại]—‘cuối cùng, khi tuổi đã xế chiều, và sau khi tận hưởng nhiều năm tháng bình yên tại quê nhà, trong tôi lại trỗi dậy khao khát được viếng thăm những xứ sở tha hương; và một ngày nọ, chẳng thèm hé lộ dự định của mình với bất kỳ ai trong gia đình, tôi gói ghém vài bọc hàng hóa vừa quý giá vừa gọn nhẹ, rồi thuê một người phu vác đi theo mình ra bờ biển, để chờ đợi bất kỳ con thuyền ngẫu nhiên nào có thể đưa tôi rời khỏi vương quốc đến một vùng đất nào đó mà tôi chưa từng đặt chân tới.’

‘Sau khi đặt đống hành lý xuống bãi cát, chúng tôi ngồi xuống dưới bóng cây, dõi mắt ra đại dương với hy vọng nhìn thấy một con thuyền, nhưng suốt mấy tiếng đồng hồ liền chẳng thấy bóng dáng chiếc nào. Cuối cùng, tôi tưởng như mình nghe thấy một âm thanh vo ve hoặc ù ù kỳ lạ; và người phu vác, sau khi lắng nghe một lúc, cũng tuyên bố rằng anh ta có thể phân biệt được tiếng động ấy. Chẳng mấy chốc âm thanh lớn dần lên, rồi lại càng lớn hơn nữa, khiến chúng tôi không còn nghi ngờ gì rằng thứ tạo ra nó đang tiến về phía mình. Cuối cùng, ở tận đường chân trời, chúng tôi phát hiện ra một đốm đen, thứ này lớn nhanh đến mức chẳng mấy chốc chúng tôi nhận ra đó là một con quái vật khổng lồ, bơi với phần lớn cơ thể nhô lên trên mặt nước. Nó lao về phía chúng tôi với tốc độ không thể tưởng tượng nổi, tung lên những con sóng bạc cuồn cuộn quanh lồng ngực, và thắp sáng cả một vùng biển mà nó lướt qua bằng một vệt lửa dài kéo dài tận đằng xa tắp.’

‘Khi sinh vật ấy đến gần, chúng tôi nhìn thấy nó vô cùng rõ ràng. Chiều dài của nó bằng ba ngọn cây cao nhất hợp lại, và bề ngang rộng bằng cả đại sảnh thiết triều trong cung điện của ngài, hỡi Đấng Caliph tối cao và hào phóng nhất. Thân hình của nó, không giống như loài cá thông thường, cứng như đá và mang một màu đen tuyền ở toàn bộ phần nổi lên trên mặt nước, ngoại trừ một đường sọc đỏ như máu hằn sâu ôm trọn lấy nó. Phần bụng chìm dưới mặt nước, nơi chúng tôi chỉ có thể thoáng thấy chớp nhoáng mỗi khi con quái vật nhô lên hụp xuống theo những con sóng, được bao phủ hoàn toàn bởi lớp vẩy kim loại, có màu sắc tựa như ánh trăng trong những ngày trời sương mù. Phần lưng phẳng và gần như trắng tinh, mọc nhô lên hơn sáu chiếc gai, dài bằng khoảng nửa chiều dài của cả cơ thể.’

‘Sinh vật gớm ghiếc này không có cái miệng nào mà chúng tôi có thể nhìn thấy; nhưng như để bù đắp cho sự thiếu sót đó, nó lại được trang bị ít nhất tám mươi con mắt lồi hẳn ra khỏi hốc giống như mắt của loài chuồn chuồn xanh, được sắp xếp dọc theo thân thành hai hàng, hàng nọ nằm trên hàng kia, và song song với đường sọc đỏ như máu dường như đóng vai trò như một chiếc lông mày. Hai hoặc ba trong số những con mắt đáng sợ ấy lớn hơn hẳn những con khác, và có vẻ ngoài giống như vàng ròng.’

‘Mặc dù con mãnh thú này tiến về phía chúng tôi, như tôi đã nói từ trước, với tốc độ tối đa, nhưng chắc chắn nó hoàn toàn di chuyển bằng tà thuật—bởi nó chẳng có vây như cá, chẳng có chân màng như vịt, chẳng có cánh giống như loài ốc biển trôi nổi bồng bềnh như thuyền bè; cũng chẳng uốn éo trườn tới phía trước giống loài lươn. Đầu và đuôi của nó có hình dáng y hệt nhau, chỉ có điều, không xa phần đuôi lắm là hai cái lỗ nhỏ đóng vai trò là lỗ mũi, nơi con quái vật thổi ra hơi thở đặc quánh của nó với một lực vô cùng khủng khiếp, kèm theo tiếng kêu rít chói tai khó chịu.’

‘Nỗi kinh hoàng của chúng tôi khi chứng kiến sinh vật gớm ghiếc này là vô cùng lớn, nhưng nó thậm chí còn bị lấn át bởi sự kinh ngạc khi nhìn cận cảnh hơn, chúng tôi nhận ra trên lưng sinh vật ấy có vô số loài động vật kích thước và hình dáng cỡ con người, trông hệt như con người, chỉ có điều chúng không mặc trang phục (như loài người vẫn mặc), mà được (chắc chắn là do tự nhiên ban tặng) khoác lên mình một lớp vỏ bọc xấu xí khó chịu, trông khá giống vải vóc, nhưng lại ôm sát vào da đến mức khiến những kẻ khốn tội nghiệp ấy trông vụng về một cách buồn cười, và dường như phải chịu đựng nỗi đau đớn tột cùng. Ngay trên đỉnh đầu chúng là những chiếc hộp vuông vức, mà Thoạt nhìn tôi cứ ngỡ được thiết kế để làm khăn vấn đầu, nhưng tôi nhanh chóng nhận ra chúng vô cùng nặng nề và cứng nhắc, thế nên tôi kết luận đó là những vật dụng được thiết kế nhằm mục đích dùng trọng lượng nặng để giữ cho đầu của những con vật này luôn thẳng thắn và an toàn trên vai. Quanh cổ những sinh vật ấy buộc những chiếc vòng màu đen, (chắc chắn là dấu hiệu của sự nô lệ), giống như loài chúng ta đeo cho chó, chỉ có điều rộng hơn nhiều và cứng hơn vô cùng, khiến cho những nạn nhân tội nghiệp này hoàn toàn không thể cử động đầu theo bất kỳ hướng nào nếu không cử động cả thân mình; và cứ thế, chúng bị kết án phải luôn ngước nhìn chiếc mũi của chính mình—một cái mũi tẹt và hếch một cách kỳ lạ, nếu không muốn nói là đáng sợ.’”

‘Khi con quái vật đã đến gần sát bờ biển nơi chúng tôi đứng, nó đột ngột đẩy một con mắt của mình lồi ra một khoảng rất lớn, và phóng ra từ đó một tia lửa kinh hoàng, kèm theo một đám mây khói dày đặc và một tiếng động mà tôi chẳng thể so sánh với gì ngoài tiếng sấm. Khi làn khói tan đi, chúng tôi nhìn thấy một trong những gã người-động vật kỳ quặc ấy đang đứng gần đầu con quái vật lớn với một chiếc kèn trên tay, qua chiếc kèn đó (đưa lên miệng), gã ngay lập tức cất tiếng nói với chúng tôi bằng giọng điệu lớn, chói tai và khó chịu, mà có lẽ chúng tôi đã nhầm tưởng là ngôn ngữ, nếu như chúng không phát ra hoàn toàn qua đường mũi.’

‘Bởi vì rõ ràng đang được nói chuyện với mình, tôi đành chịu chết không biết phải đáp lời ra sao, vì hoàn toàn không thể hiểu nổi những gì được nói; và trong tình huống khó khăn này, tôi quay sang người phu vác—kẻ đang suýt ngất vì sợ hãi, và hỏi ý kiến anh ta xem đây là loài quái vật gì, nó muốn gì, và loại sinh vật nào lại bám lúc nhúc trên lưng nó như vậy. Đáp lại, người phu vác run lẩy bẩy hết mức có thể, nói rằng anh ta từng nghe kể về con quái vật biển này; rằng đó là một con ác quỷ tàn độc, với ruột làm bằng lưu huỳnh và máu bằng lửa, do các linh hồn tà ác tạo ra như một phương tiện giáng họa khổ đau lên nhân loại; rằng những thứ trên lưng nó chỉ là lũ sâu bọ, giống như loại thỉnh thoảng ám ảnh mèo và chó, chỉ có điều to hơn và hung dữ hơn một chút; và rằng lũ sâu bọ này cũng có công dụng của chúng, dù tẻ nhạt xấu xa—bởi vì thông qua sự tra tấn mà chúng gây ra cho con thú bằng những cú gặm nhấm và đốt chích, nó bị chọc tức đến mức độ giận dữ cần thiết để gầm thét và làm điều ác, từ đó hoàn thành những mưu đồ báo thù và hiểm độc của các ác linh.’

Câu chuyện này khiến tôi quyết định ba chân bốn cẳng chạy trốn, và chẳng thèm ngoảnh đầu lại dù chỉ một lần, tôi cắm cổ chạy thục mạng lên những ngọn đồi, trong khi người phu vác cũng chạy nhanh không kém nhưng lại theo hướng gần như ngược lại, nhờ vậy mà cuối cùng anh ta đã tẩu thoát thành công cùng đống hành lý của tôi, và tôi chắc chắn anh ta đã chăm sóc chúng cực kỳ chu đáo—dù đây là điều tôi không thể xác định được, vì tôi chẳng nhớ là mình còn gặp lại anh ta lần nào nữa hay không.’

‘Về phần tôi, tôi bị một bầy lũ sâu bọ-người (đã lên bờ bằng thuyền) truy đuổi gắt gao đến mức chẳng mấy chốc đã bị bắt kịp, bị trói giật tay chân, và áp giải lên con quái vật, thứ mà ngay lập tức bơi ngược trở ra giữa lòng đại dương.’

‘Lúc này tôi cay đắng hối hận vì sự dại dột của mình khi rời bỏ tổ ấm thoải mái để chuốc lấy hiểm nguy trong những cuộc phiêu lưu thế này; nhưng việc hối hận chẳng ích gì, tôi đành phải thích nghi với hoàn cảnh và nỗ lực lấy lòng gã người-động vật cầm chiếc kèn, kẻ có vẻ nắm quyền chỉ huy những kẻ khác. Tôi đã thành công mĩ mãn trong nỗ lực này đến mức chỉ vài ngày sau, sinh vật ấy đã ban cho tôi various tín vật thể hiện sự sủng ái, và cuối cùng thậm chí còn nhọc công dạy cho tôi những vỡ lòng về thứ ngôn ngữ mà nó vô cùng tự phụ gọi là ngôn ngữ của mình; nhờ đó, cuối cùng tôi đã có thể trò chuyện với nó một cách dễ dàng, và khiến nó hiểu được khao khát mãnh liệt muốn được nhìn ngắm thế giới của tôi.’

“Washish squashish squeak, Sinbad, hey-diddle diddle, grunt unt grumble, hiss, fiss, whiss,” nó bảo tôi thế vào một ngày nọ sau bữa tối—nhưng tôi xin ngàn lần thứ lỗi, tôi quên bẵng mất là bệ hạ không thông thạo phương ngữ của loài Cock-neigh (lũ người-động vật ấy được gọi như vậy; tôi đoán là vì ngôn ngữ của chúng tạo thành nhịp cầu nối giữa tiếng ngựa và tiếng gà trống). Được phép của ngài, tôi xin dịch lại. “Washish squashish,” và cứ thế:—tức là, “Tôi rất vui mừng khi nhận ra, Sinbad thân mến, ngài quả thực là một tay chơi cừ khôi; chúng ta hiện đang sắp thực hiện một việc gọi là đi vòng quanh quả địa cầu; và vì ngài rất khao khát muốn nhìn ngắm thế giới, tôi sẽ cố gắng hết sức để ban cho ngài một vé đi nhờ miễn phí trên lưng con quái vật.”

Khi Nàng Scheherazade vừa kể đến đây, theo lời thuật lại của cuốn “Isitsöornot”, nhà vua liền trở mình từ nằm nghiêng bên trái sang bên phải và phán rằng:

“Thực ra thì rất ngạc nhiên đấy, hoàng hậu yêu quý của trẫm, tại sao bấy lâu nay nàng lại bỏ sót những cuộc phiêu lưu sau này của Sinbad cơ chứ? Nàng có biết là trẫm thấy chúng vô cùng giải trí và kỳ lạ không?”

Người ta kể rằng, sau khi nhà vua thổ lộ như vậy, nàng Scheherazade xinh đẹp liền tiếp tục câu chuyện của mình với những lời sau:

“Sinbad tiếp tục câu chuyện của mình như thế này—‘Tôi cảm ơn gã người-động vật vì lòng tốt của nó, và chẳng mấy chốc cảm thấy vô cùng thoải mái trên lưng con quái vật, thứ đang bơi với tốc độ phi thường băng qua đại dương; mặc dù bề mặt của đại dương ở vùng đó trên thế giới hoàn toàn không phẳng lì, mà tròn vo như quả lựu, khiến chúng ta—có thể nói vậy—hoặc là đang đi lên dốc hoặc đi xuống dốc suốt dọc đường.’”

“Trẫm nghĩ điều đó thật kỳ lạ,” nhà vua cắt ngang.

“Tuy nhiên, đó lại là sự thật,” Scheherazade đáp.

“Trẫm hãy còn hoài nghi lắm; nhưng, xin nàng cứ tiếp tục câu chuyện đi,” nhà vua đáp lời.

“Thiếp xin tuân lệnh,” hoàng hậu nói. “‘Con quái vật,’ Sinbad tiếp tục kể với Caliph, ‘bơi, như tôi đã thuật lại, lên dốc rồi xuống dốc cho đến khi cuối cùng chúng tôi đặt chân đến một hòn đảo, rộng hàng trăm dặm vuông, nhưng tuy nhiên, lại được xây dựng giữa lòng đại dương bởi một thuộc địa gồm những sinh vật nhỏ bé giống như loài sâu róm.’” (*1)

“Hừm!” nhà vua lẩm bẩm.

“‘Rời khỏi hòn đảo này,’ Sinbad kể—(bởi vì phải hiểu rằng Scheherazade hoàn toàn phớt lờ tiếng kêu thiếu lịch sự của chồng mình) ‘rời khỏi hòn đảo này, chúng tôi đến một nơi khác mà những khu rừng mọc toàn đá tảng rắn chắc, cứng đến nỗi chúng đập tan tành cả những chiếc rìu được tôi luyện bén ngót nhất mà chúng tôi dùng để chặt phá chúng.’” (*2)

“Hừm!” nhà vua lại thốt lên lần nữa; nhưng Scheherazade chẳng thèm đếm xỉa đến ngài, vẫn tiếp tục bằng giọng điệu của Sinbad.

“‘Đi qua hòn đảo cuối cùng đó, chúng tôi đến một vùng đất có một hang động đâm sâu tới ba mươi hoặc bốn mươi dặm vào lòng đất, bên trong chứa đựng vô số cung điện rộng lớn và tráng lệ hơn bất cứ nơi nào có thể tìm thấy ở khắp Damascus và Baghdad. Từ mái vòm của những cung điện ấy treo lủng lẳng hàng vạn viên bảo ngọc, tựa như kim cương, nhưng to hơn cả con người; và đan xen giữa những dãy tháp, kim tự tháp cùng đền đài ấy là những dòng sông khổng lồ đen như gỗ mun, chi chít loài cá không có mắt.’” (*3)

“Hừm!” nhà vua kêu lên.

“‘Sau đó chúng tôi bơi vào một vùng biển nơi có một ngọn núi cao ngất ngưởng, dọc theo sườn núi tuôn chảy những dòng dung nham kim loại nóng chảy, có dòng rộng tới mười hai dặm và dài sáu mươi dặm (*4); trong khi từ một vực thẳm trên đỉnh núi phun trào một lượng tro tàn khổng lồ đến nỗi che khuất hoàn toàn mặt trời khỏi bầu trời, khiến không gian tối mịt mù hơn cả đêm đen sâu thẳm nhất; đến mức ngay cả khi chúng tôi ở cách ngọn núi ấy một khoảng cách lên tới một trăm năm mươi dặm, việc nhìn thấy dù là vật có màu trắng tinh đi chăng nữa cũng là điều bất khả thi, cho dù ta có đưa nó lại gần sát mắt đến đâu đi nữa.’” (*5)

“Hừm!” nhà vua lại lẩm bẩm.

“‘Sau khi rời khỏi vùng bờ biển đó, con quái vật tiếp tục hải trình cho đến khi chúng tôi gặp một vùng đất mà bản chất vạn vật dường như đảo lộn—bởi vì ở đây chúng tôi nhìn thấy một hồ nước lớn, ở tận đáy hồ, sâu hơn một trăm feet dưới mặt nước, một khu rừng rậm rạp với những tán cây cao lớn xanh tốt đang vươn mình sinh sôi nảy nở đầy sức sống.’” (*6)

“Hô!” nhà vua thốt lên.

“‘Đi thêm vài trăm dặm nữa đưa chúng tôi đến một vùng khí hậu có bầu không khí đặc quánh đến mức có thể nâng đỡ cả sắt hoặc thép, y hệt như không khí của chúng ta nâng đỡ một chiếc lông chim vậy.’” (*7)

“Nhảm nhí hết chỗ nói,” nhà vua phán.

“Vẫn tiếp tục di chuyển theo hướng đó, chúng tôi chẳng mấy chốc đã đến được vùng đất tráng lệ nhất trong toàn thế giới. Chảy uốn lượn qua nơi đây là một dòng sông tuyệt mỹ kéo dài tới hàng nghìn dặm. Dòng sông này sâu khôn lường, với độ trong suốt còn phong phú hơn cả hổ phách. Nó rộng từ ba đến sáu dặm; và đôi bờ sông dựng đứng cao tới một nghìn hai trăm feet ở hai bên, được bao phủ bởi những hàng cây nở hoa quanh năm cùng hương thơm ngào ngạt bất tận, biến toàn bộ lãnh thổ thành một khu vườn rực rỡ lộng lẫy; nhưng tên của vùng đất trù phú này lại là Vương quốc Kinh hoàng, và bước chân vào đó đồng nghĩa với cái chết không thể tránh khỏi.’” (*8)

“Hừm phu!” nhà vua càu nhàu.

“‘Chúng tôi vội vã rời khỏi vương quốc này, và sau vài ngày, đến với một nơi khác, nơi chúng tôi vô cùng kinh ngạc khi trông thấy vô số loài động vật quái dị mang trên đầu những chiếc sừng giống hệt lưỡi hái. Những con quái thú gớm ghiếc này tự đào cho chúng những cái hang khổng lồ dưới lòng đất hình chiếc phễu, và lót thành hang bằng những tảng đá được sắp chồng lên nhau khéo léo đến mức chúng sẽ đổ sập ngay lập tức khi bị động vật khác dẫm lên, từ đó hất văng con mồi rơi thẳng xuống hang ổ của quái vật, nơi máu của chúng ngay lập tức bị hút cạn và những cái xác sau đó bị ném đi một cách khinh miệt ra tận khoảng cách xa tít tắp khỏi “những cái hang tử thần.”’” (*9)

“Xí!” nhà vua bĩu môi.

“‘Tiếp tục hành trình, chúng tôi phát hiện ra một vùng đất có những loài thực vật không mọc trên bất kỳ thứ đất nào mà lại sống lơ lửng trong không khí. (*10) Lại có những loài khác mọc lên từ thân thể của các loài thực vật khác; (*11) những loài khác nữa thì hút dưỡng chất từ cơ thể của các động vật đang sống; (*12) rồi lại có những loài phát sáng rực rỡ bởi ngọn lửa dữ dội; (*13) những loài tự do di chuyển từ nơi này sang nơi khác theo ý thích, (*14) và điều kỳ diệu hơn nữa là chúng tôi phát hiện ra những bông hoa biết sống, biết thở, biết cử động các chi theo ý muốn, hơn thế nữa lại mang cái bản tính đáng ghét của loài người là thích bắt các sinh vật khác làm nô lệ và giam cầm chúng trong những nhà tù đơn độc đáng sợ cho đến khi hoàn thành xong những công việc được giao.’” (*15)

“Phẻo!” nhà vua gạt đi.

“‘Rời khỏi vùng đất này, chúng tôi chẳng mấy chốc đến được một nơi khác mà loài ong và loài chim đều là những nhà toán học vô cùng thiên tài và bác học, đến mức chúng hằng ngày mở lớp giảng dạy về khoa học hình học cho các bậc hiền triết của đế quốc. Khi vị vua của xứ sở này treo giải thưởng cho việc giải quyết hai bài toán hóc búa, chúng đã được giải ngay tại chỗ—một bài do loài ong giải, và bài kia do loài chim giải; nhưng vì nhà vua giữ kín lời giải của chúng, nên phải trải qua những nghiên cứu cùng công sức vô cùng sâu sắc, viết ra vô số những cuốn sách dày cộp suốt một chuỗi dài năm tháng, các nhà toán học loài người mới cuối cùng đi đến được những đáp án y hệt đã từng được loài ong và loài chim đưa ra ngay tại chỗ.’” (*16)

“Ôi chao!” nhà vua kêu lên.

“‘Chúng tôi vừa mới khuất tầm mắt khỏi đế quốc này thì đã thấy mình áp sát ngay một vùng đất khác, từ bờ biển của nó bay vụt qua đầu chúng tôi một đàn chim rộng tới một dặm và dài hai trăm bốn mươi dặm; đến mức dù chúng bay được một dặm mỗi phút, cũng phải mất không dưới bốn tiếng đồng hồ thì toàn bộ đàn chim mới bay qua hết đầu chúng tôi—trong đó có tới hàng triệu triệu con chim.’” (*17)

“Ôi dào!” nhà vua la lên.

“‘Chúng tôi vừa mới thoát khỏi bầy chim gây phiền toái lớn ấy, thì lại phải kinh hoàng trước sự xuất hiện của một loài chim khác, to lớn hơn vô cùng so với cả những con chim Roc mà tôi từng gặp trong các chuyến hải trình trước đây; bởi vì nó to hơn cả mái vòm lớn nhất trong hậu cung của ngài, hỡi Đấng Hào phóng nhất trong các vị Caliph. Con chim khủng khiếp này chẳng có cái đầu nào mà chúng tôi có thể nhìn thấy, mà được cấu tạo hoàn toàn bằng cái bụng, vô cùng béo tròn mập mạp, làm bằng một chất liệu trông mềm mại, nhẵn nhụi, sáng bóng và vằn vện đủ màu sắc. Trong bộ móng vuốt của mình, con quái vật đang quắp bay về tổ của nó tít trên trời cao một ngôi nhà vừa bị nó giật tung mái, và ở bên trong đó, chúng tôi nhìn thấy rõ mồn một những con người, chắc chắn đang chìm trong nỗi tuyệt vọng kinh hoàng trước số phận khủng khiếp đang chờ đón họ. Chúng tôi gào thét hết sức bình sinh với hy vọng hù dọa cho con chim chịu buông con mồi ra, nhưng nó chỉ khịt mũi hoặc phì hơi ra vẻ giận dữ rồi thả rơi bịch xuống đầu chúng tôi một chiếc bao tải nặng trĩu hóa ra lại đựng đầy cát!’”

“Vớ vẩn!” nhà vua phán.

“‘Chính ngay sau cuộc phiêu lưu này, chúng tôi chạm trán một lục địa có quy mô vô cùng rộng lớn và độ rắn chắc đáng kinh ngạc, nhưng tuy nhiên, lại được nâng đỡ hoàn toàn trên lưng một con bò màu xanh da trời có không dưới bốn trăm cái sừng.’” (*18)

“Cái đó thì trẫm tin,” nhà vua nói, “bởi vì trẫm từng đọc được điều gì đó tương tự thế này trong một cuốn sách rồi.”

“‘Chúng tôi đi ngang qua ngay bên dưới lục địa đó (bơi lách vào giữa bốn chân con bò), và sau vài giờ, thấy mình bước vào một xứ sở thực sự kỳ diệu, theo lời gã người-động vật kể lại thì đó chính là quê hương bản quán của nó, nơi cư ngụ của những sinh vật cùng loài với hắn. Điều này đã nâng tầm gã người-động vật lên rất nhiều trong lòng tôi, và trên thực tế, lúc bấy giờ tôi bắt đầu cảm thấy xấu hổ vì sự quen thuộc trịch thượng mà tôi từng đối xử với hắn; bởi vì tôi nhận ra rằng nhìn chung loài người-động vật là một quốc gia của những bậc thầy phù thủy hùng mạnh nhất, sống cùng với những con giun trong não của chúng, (*19) chắc chắn những con giun đó dùng những cú quằn quại và ngoằn ngoèo đau đớn của mình để kích thích chúng tạo ra những nỗ lực tưởng tượng kỳ diệu nhất!’”

“Xàm ngôn!” nhà vua quát.

“‘Trong số các bậc phù thủy ấy, có nuôi thuần hóa vài loài động vật với những chủng loại vô cùng kỳ lạ; chẳng hạn như, có một con ngựa khổng lồ mang bộ xương bằng sắt và dòng máu là nước sôi. Thay vì ăn ngô, món ăn quen thuộc của nó là những hòn đá đen; thế nhưng, dẫu phải ăn một chế độ khắc khổ như vậy, nó vẫn vô cùng khỏe mạnh và phi nhanh đến mức có thể kéo một trọng lượng nặng hơn cả ngôi đền vĩ đại nhất trong thành phố này, với tốc độ vượt qua cả cú vỗ cánh của hầu hết các loài chim.’” (*20)

“Nói nhảm!” nhà vua gạt phăng.

“‘Tôi cũng nhìn thấy, giữa những con người này, một con gà không có lông, nhưng to lớn hơn cả lạc đà; thay vì thịt và xương, nó được làm bằng sắt và gạch; máu của nó, giống như loài ngựa (với loài này, thực ra nó có họ hàng gần), là nước sôi; và cũng giống như ngựa, nó chẳng ăn gì ngoài gỗ hoặc đá đen. Con gà này đẻ trứng rất thường xuyên, tới một trăm con gà con một ngày; và sau khi nở ra, chúng sẽ dọn vào sinh sống suốt vài tuần lễ bên trong dạ dày của người mẹ.’” (*21)

“Lừa đảo!” nhà vua chế nhạo.

“‘Một kẻ thuộc quốc gia của những pháp sư hùng mạnh ấy đã tạo ra một người đàn ông làm bằng đồng thau, gỗ và da thuộc, ban cho hắn sự khéo léo đến mức hắn có thể đánh bại ở bộ môn cờ vua toàn bộ nhân loại, ngoại trừ vị Caliph vĩ đại Haroun Alraschid. (*22) Một kẻ khác trong số những pháp sư ấy chế tạo ra (từ chất liệu tương tự) một sinh vật khiến cho ngay cả thiên tài của kẻ chế tạo ra nó cũng phải hổ thẹn; bởi vì năng lực suy luận của nó lớn lao đến mức chỉ trong một giây, nó thực hiện những phép tính có quy mô khổng lồ đến mức đòi hỏi sự lao động hợp sức của năm mươi nghìn con người bằng da bằng thịt trong suốt một năm trời. (*23) Nhưng một pháp sư còn kỳ diệu hơn nữa đã tự tạo ra cho mình một vật khổng lồ không phải người cũng chẳng phải thú, nhưng có bộ não bằng chì, pha lẫn với một chất màu đen giống như hắc ín, cùng những ngón tay hoạt động với tốc độ và sự khéo léo đến khó tin, đến mức nó có thể chép ra hai mươi nghìn bản kinh Koran trong vòng một tiếng đồng hồ mà chẳng gặp chút khó khăn nào, và với độ chính xác tinh xảo đến mức trong tất cả các bản chép ấy không hề có một bản nào lệch nhau dù chỉ bằng bề rộng của một sợi tóc mỏng manh nhất. Vật này sở hữu sức mạnh phi thường, đến mức nó có thể dựng lên hoặc lật đổ những đế chế hùng mạnh nhất chỉ bằng một hơi thở; nhưng năng lực của nó được sử dụng công bằng cho cả điều ác lẫn điều thiện.’”

“Thật nực cười!” nhà vua phán.

“‘Trong số quốc gia của những kẻ đồng cốt ấy, còn có một người mang trong huyết quản dòng máu của loài kỳ nhông; bởi vì hắn chẳng mảy điều gì khi ngồi xuống hút tẩu chibouc trong một cái lò nướng đỏ rực cho đến khi bữa tối của hắn được nướng chín hoàn toàn trên sàn lò. (*24) Một người khác có khả năng biến các kim loại thông thường thành vàng mà thậm chí chẳng cần phải nhìn ngó gì đến chúng trong suốt quá trình. (*25) Một người khác sở hữu xúc giác tinh tế đến mức làm ra được một sợi dây mảnh đến độ tàng hình. (*26) Một người khác lại có khả năng nhận thức nhanh nhạy đến mức đếm được mọi chuyển động riêng lẻ của một vật thể đàn hồi, khi nó đang bật qua bật lại với tốc độ chín trăm triệu lần trong một giây.’” (*27)

“Hoang đường!” nhà vua thốt lên.

“‘Một pháp sư khác trong số đó, nhờ vào một thứ chất lỏng mà chưa từng ai nhìn thấy bao giờ, có thể khiến thây ma của những người bạn mình vung tay vung chân, tung cước, chiến đấu, hoặc thậm chí vùng dậy và khiêu vũ theo ý muốn của hắn. (*28) Một người khác đã luyện giọng của mình đạt đến mức độ lớn lao đến nỗi có thể khiến người ta nghe thấy tiếng mình từ đầu này cho đến đầu kia thế giới. (*29) Một người khác có cánh tay dài đến mức có thể ngồi ở Damascus mà viết thư gửi tận Baghdad—hoặc thậm chí ở bất kỳ khoảng cách nào đi chăng nữa. (*30) Một người khác ra lệnh cho tia chớp giáng xuống từ bầu trời, và nó lập tức tuân lệnh giáng xuống; rồi dùng nó làm đồ chơi khi nó xuất hiện. Một người khác lấy hai âm thanh lớn rồi từ đó tạo ra một sự tĩnh lặng. (*31) Một người khác tạo ra băng giá ngay trong một cái lò nướng đỏ rực. (*32) Người khác nữa chỉ đạo mặt trời tự vẽ chân dung cho mình, và mặt trời đã làm thế. (*33) Người khác lấy thiên thể ấy cùng mặt trăng và các hành tinh, sau khi đã cân chúng bằng sự chính xác tuyệt đối, liền dò dẫm vào sâu trong thẳm thẳm của chúng để tìm ra độ đặc của chất liệu tạo nên chúng. Nhưng quả thực toàn bộ quốc gia ấy sở hữu năng lực tà thuật đáng kinh ngạc đến mức ngay cả những đứa trẻ sơ sinh của họ, hay những con mèo con chó bình thường nhất của họ cũng chẳng gặp chút khó khăn nào trong việc nhìn thấy những sự vật hoàn toàn không tồn tại, hoặc những thứ mà suốt hai mươi triệu năm trước khi bản thân quốc gia ấy ra đời đã bị xóa sổ khỏi bề mặt của tạo hóa.’” (*34)

“Thật là ngớ ngẩn!” nhà vua phán.

“‘Vợ và con gái của những bậc pháp sư vĩ đại và khôn ngoan vô song ấy,’” Scheherazade tiếp tục, hoàn toàn không bị làm phiền chút nào bởi những lời cắt ngang thường xuyên và vô cùng bất lịch sự từ phía người chồng của mình—‘“vợ và con gái của những nhà ảo thuật lỗi lạc ấy đều là những người tài sắc vẹn toàn và tinh tế; và sẽ trở nên vô cùng thú vị và xinh đẹp tuyệt trần, ngặt nỗi họ lại vướng phải một lời nguyền bất hạnh, thứ mà ngay cả năng lực kỳ diệu của chồng và cha họ cho đến nay vẫn chưa đủ khả năng cứu giúp. Một số tai ương giáng xuống dưới hình hài này, số khác dưới hình hài khác—nhưng thứ tai ương mà tôi đang nhắc đến lại mang hình hài của một cơn quẫn trí.’”

“Cơn gì cơ?” nhà vua hỏi.

“‘Một cơn quẫn trí,’ Scheherazade đáp. ‘Một trong những ác linh, kẻ luôn rình rập để giáng họa, đã tiêm vào đầu những người phụ nữ tài sắc ấy ý niệm rằng thứ mà chúng ta gọi là nhan sắc cá nhân hoàn toàn nằm ở phần nhô ra của vùng cơ thể nằm cách không xa phía dưới eo lưng. Họ cho rằng vẻ đẹp hoàn mỹ nằm ở tỷ lệ thuận với kích thước của khối u lồi ấy. Bị ám ảnh bởi ý niệm này suốt một thời gian dài, và vì bông gòn ở xứ sở đó lại rẻ, nên đã từ lâu lắm rồi người ta không còn cách nào phân biệt nổi một người phụ nữ với một con lạc đà—’”

“Dừng lại!” nhà vua quát—“Trẫm không thể chịu đựng nổi nữa, và trẫm sẽ không nhịn thêm đâu. Nàng đã ném vào đầu trẫm một cơn đau nửa đầu khủng khiếp bằng những lời nói dối của nàng rồi đấy. Trẫm nhận thấy trời cũng đang hửng sáng rồi. Chúng ta đã cưới nhau bao lâu rồi nhỉ?—lại thêm lương tâm trẫm bắt đầu dở chứng phiền phức nữa rồi. Và cả cái đoạn nhắc đến con lạc đà kia nữa—nàng coi trẫm là đồ ngốc đấy phỏng? Nói chung, tốt hơn hết là nàng hãy đứng dậy và đi nhận lấy sợi dây siết cổ đi thôi.”

Những lời này, theo như tôi được biết từ cuốn “Isitsöornot”, vừa khiến Scheherazade đau buồn vừa ngạc nhiên; nhưng vì biết nhà vua là một người vô cùng nguyên tắc và khó lòng nuốt lời, nàng đành vui vẻ đón nhận số phận của mình. Tuy nhiên, nàng tìm thấy niềm an ủi lớn lao (trong lúc chiếc dây cung đang dần thắt chặt) ở suy nghĩ rằng vẫn còn rất nhiều phần của câu chuyện chưa được kể hết, và sự cáu kỉnh của gã chồng cục súc đã giáng trả cho hắn một phần thưởng đích đáng, đó là tước đi của hắn vô số những cuộc phiêu lưu kỳ lạ không thể tưởng tượng nổi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.