Vào mùa thu năm 18—, trong một chuyến du hành qua các tỉnh cực nam nước Pháp, đường đi đã đưa tôi đến cách một vài dặm tính từ Maison de Santé, hay còn gọi là nhà thương điên tư nhân, nơi tôi từng nghe ngóng được rất nhiều điều ở Paris từ những người bạn làm nghề y của mình. Vì chưa từng đặt chân đến một nơi như thế, tôi thấy đây là cơ hội ngàn vàng không thể bỏ lỡ; thế nên tôi liền ngỏ ý với người bạn đồng hành (một quý ông mà tôi tình cờ quen biết cách đó vài ngày) rằng chúng tôi nên rẽ ngang trong khoảng một tiếng đồng hồ để tham quan cơ ngơi ấy. Anh ta liền phản đối—trước hết là viện cớ vội vàng, và thứ hai là nỗi kinh hoàng quen thuộc khi phải đối mặt với những kẻ mất trí. Dù vậy, anh vẫn nức nở khuyên tôi đừng vì chút phép lịch sự với anh mà bỏ lỡ cơ hội thỏa mãn sự tò mò, và bảo rằng anh sẽ thong thả cưỡi ngựa đi trước để tôi có thể bắt kịp anh trong ngày hôm ấy, hoặc chí ít là vào ngày hôm sau. Khi anh cất lời chào tạm biệt, tôi chợt nghĩ rằng có lẽ sẽ gặp chút khó khăn trong việc xin phép bước vào khuôn viên, bèn bèn đem mối lo ấy ra bày tỏ. Anh đáp rằng, thực chất, trừ phi tôi có quen biết cá nhân với viên giám thị, Monsieur Maillard, hoặc có giấy giới thiệu tựa như một bức thư, bằng không rắc rối chắc chắn sẽ xảy ra, bởi các quy định tại những nhà thương điên tư nhân này ngặt nghèo hơn nhiều so với luật áp dụng cho các bệnh viện công. Riêng bản thân anh, anh cho biết, từ vài năm trước đã có dịp quen biết Maillard, và sẽ giúp tôi đến mức cưỡi ngựa đến tận cửa để giới thiệu; dẫu cho cảm xúc của anh đối với đề tài điên loạn không cho phép anh bước chân vào trong nhà.
Tôi gửi lời cảm ơn, rồi rẽ khỏi con đường lớn để bước vào một lối tắt mọc đầy cỏ dại, chỉ nửa giờ sau đã gần như lọt thỏm vào một khu rừng rậm rạp bao trùm chân núi. Qua khu rừng ẩm ướt và âm u ấy, chúng tôi cưỡi ngựa chừng hai dặm thì Maison de Santé hiện ra trước mắt. Đó là một lâu đài kỳ quái, đã xuống cấp trầm trọng và quả thực gần như không thể ở nổi do tuổi tác cùng sự bỏ bê. Vẻ bề ngoài của nó gieo rắc vào lòng tôi một nỗi sợ hãi tột cùng, và khi kìm cương ngựa lại, tôi thoáng chốc định quay đầu đi về. Thế nhưng, chẳng mấy chốc tôi cảm thấy xấu hổ vì sự yếu đuối của mình và tiếp tục tiến bước.
Khi chúng tôi cưỡi ngựa tiến đến cổng lớn, tôi nhận thấy cánh cổng hé mở và gương mặt của một người đang nhòm qua. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, người đàn ông ấy bước ra, gọi tên người bạn đồng hành của tôi, bắt tay anh thật nồng nhiệt và nài nỉ anh xuống ngựa. Đó chính là Monsieur Maillard. Ông là một quý ông đường bệ, khôi ngô theo phong cách cổ điển, với tác phong tao nhã cùng một vẻ nghiêm trang, đĩnh đạc và uy quyền đầy ấn tượng.
Bạn tôi, sau khi giới thiệu tôi và nhắc lại nguyện vọng muốn tham quan cơ ngơi, liền nhận được lời cam kết từ Monsieur Maillard rằng ông sẽ tiếp đón tôi chu đáo nhất, rồi bấy giờ mới cáo biệt, và tôi không gặp lại anh thêm lần nào nữa.
Khi anh đi rồi, viên giám thị dẫn tôi vào một phòng khách nhỏ và cực kỳ ngăn nắp, nơi chứa đựng, bên cạnh những dấu hiệu khác của gu thẩm mỹ tinh tế, rất nhiều sách vở, tranh vẽ, chậu hoa và các nhạc cụ. Một ngọn lửa ấm áp đang bập bùng cháy trong lò sưởi. Ngồi bên chiếc đàn piano và cất tiếng hát một khúc aria của Bellini là một phụ nữ trẻ vô cùng xinh đẹp; khi tôi bước vào, nàng ngừng tiếng hát và đón tiếp tôi bằng một sự tao nhã đầy duyên dáng. Giọng nàng trầm ấm, và toàn bộ cử chỉ đều điềm đạm. Tôi cũng tưởng chừng như mình nhìn thấy những dấu vết của muộn phiền hằn lên gương mặt nàng — một gương mặt trắng xanh quá đỗi, dẫu theo gu của tôi thì không hề khó chịu chút nào. Nàng khoác trên mình bộ tang phục sẫm màu, khơi gợi trong lồng ngực tôi một thứ cảm xúc pha trộn giữa lòng kính trọng, sự tò mò và niềm ái mộ.
Tại Paris, tôi từng nghe nói rằng viện dưỡng trí của Monsieur Maillard được vận hành theo cái gọi là “hệ thống xoa dịu”—rằng mọi hình phạt đều bị tránh né—rằng thậm chí việc giam cầm cũng hiếm khi được dùng tới—rằng các bệnh nhân, dù bị theo dõi ngầm, vẫn được trao cho vẻ ngoài tự do rõ rệt, và phần lớn họ được phép lang thang khắp nhà lẫn khuôn viên trong trang phục bình thường của những người có tâm trí lành lặn.
Ghi nhớ những ấn tượng ấy trong đầu, tôi hết sức cẩn trọng trong từng lời ăn tiếng nói trước mặt người phụ nữ trẻ; bởi tôi không tài nào chắc chắn được nàng có thực sự minh mẫn hay không; và trên thực tế, trong ánh mắt nàng phảng phất một nét rạng rỡ đầy bồn chồn khiến tôi nửa ngờ ngợ rằng nàng không hề bình thường. Do đó, tôi thu hẹp các chủ đề trò chuyện vào những vấn đề chung chung, và những điều mà tôi nghĩ sẽ không gây khó chịu hay kích động dù cho đối phương có là một kẻ mất trí đi chăng nữa. Nàng đáp lại mọi lời tôi nói bằng một phong thái hoàn toàn hợp lý; thậm chí những quan sát nguyên bản của nàng cũng mang dấu ấn của sự minh mẫn sáng suốt bậc nhất, thế nhưng quãng thời gian dài làm quen với môn siêu hình học về chứng cuồng loạn đã dạy tôi không được đặt trọn niềm tin vào những bằng chứng minh mẫn giả tạo ấy, và suốt buổi gặp gỡ, tôi vẫn tiếp tục duy trì sự thận trọng mà mình đã khởi đầu từ phút ban đầu.
Chẳng mấy chốc, một tên đầy tớ bảnh bao mặc áo đồng phục bưng vào một khay đựng trái cây, rượu vang cùng vài món giải khát khác. Tôi dùng qua một ít, và chẳng bao lâu sau người phụ nữ rời khỏi phòng. Khi nàng bước đi, tôi hướng ánh mắt đầy dò hỏi về phía chủ nhà.
“Không,” ông nói, “ồ, không đâu—một thành viên trong gia đình tôi—cháu gái tôi, và là một phụ nữ vô cùng tài sắc.”
“Tôi xin vạn lần thứ lỗi vì sự nghi kỵ ấy,” tôi đáp, “nhưng chắc chắn ngài sẽ hiểu và thông cảm cho tôi. Chính sách quản lý xuất sắc tại cơ ngơi của ngài đây đã nức tiếng gần xa ở Paris, và tôi chỉ nghĩ thoáng qua rằng, ngài biết đấy—”
“Vâng, vâng—đừng nói nữa—hay đúng hơn là chính tôi phải cảm ơn sự thận trọng đáng khen ngợi mà anh đã thể hiện. Chúng ta hiếm khi tìm thấy sự chu đáo dạo trước ở những người trẻ tuổi; và không chỉ một lần, những sự cố tai hại đáng tiếc đã xảy ra chỉ vì sự thiếu suy nghĩ từ phía các vị khách tham quan. Vào thời điểm hệ thống cũ của tôi còn đang vận hành, và các bệnh nhân được phép tự do lang thang khắp nơi tùy ý, họ thường bị kích động đến mức phát cuồng nguy hiểm bởi những kẻ đến tham quan nhà thương mà thiếu đi sự khôn ngoan. Do đó, tôi buộc phải siết chặt một hệ thống loại trừ ngặt nghèo; và không một ai được bước chân vào khuôn viên nếu sự kín đáo của họ không khiến tôi có thể dặt trọn niềm tin.”
“Vào thời điểm hệ thống cũ của ngài còn đang vận hành!” tôi cất lời, lặp lại câu nói của ông—“vậy ra tôi có thể hiểu là ‘hệ thống xoa dịu’ mà tôi từng nghe đồn đại rất nhiều ấy nay không còn được áp dụng nữa sao?”
“Đã vài tuần trôi qua kể từ khi chúng tôi quyết định từ bỏ nó vĩnh viễn,” ông đáp.
“Thật ư! Ngài làm tôi ngạc nhiên đấy!”
“Thưa ngài, chúng tôi nhận thấy việc quay trở lại các lề lối cũ là điều hoàn toàn cấp thiết,” ông nói kèm theo một tiếng thở dài. “Mối hiểm họa từ hệ thống xoa dịu luôn là điều đáng sợ ở mọi thời điểm; và những ưu điểm của nó đã bị thổi phồng quá mức. Tôi tin rằng, thưa ngài, nếu phương pháp này từng được thử nghiệm công bằng ở bất cứ đâu, thì chính là ở ngôi nhà này. Chúng tôi đã làm mọi thứ mà lòng nhân đạo hợp lý có thể gợi ý. Tôi tiếc vì anh không thể ghé thăm chúng tôi sớm hơn, để có thể tự mình đánh giá lấy. Nhưng tôi đoán là anh đã am tường về phương pháp xoa dịu rồi chứ—với những chi tiết của nó ấy.”
“Không hẳn đâu. Những gì tôi nghe được chỉ qua lời kể tam sao thất bản mà thôi.”
“Vậy tôi xin tóm tắt hệ thống ấy bằng những nét đại cương, đó là phương pháp trong đó các bệnh nhân được menagés—tức là được chìu chuộng. Chúng ta không hề mâu thuẫn với bất kỳ hoang tưởng nào xuất hiện trong bộ óc của những kẻ điên. Ngược lại, chúng ta không những dung túng mà còn khuyến khích chúng; và nhiều ca chữa khỏi vĩnh viễn của chúng tôi đã được thực hiện theo cách ấy. Chẳng có lý lẽ nào có thể tác động sâu sắc đến lý trí yếu ớt của kẻ điên bằng lập luận quy về điều vô lý (argumentum ad absurdum). Chẳng hạn, chúng tôi từng có những bệnh nhân tự cho mình là loài gà. Cách chữa trị là: khăng khăng coi điều đó là một sự thật rành rành—buộc tội bệnh nhân vì đã không đủ tinh tế để nhận ra đó là sự thật—và do đó trong suốt một tuần, từ chối cung cấp cho họ bất kỳ loại thức ăn nào khác ngoài thứ vốn dành riêng cho loài gà. Cứ thế, một chút hạt ngô và sỏi đá đã làm nên những điều kỳ diệu.”
“Nhưng liệu thể loại chiều chuộng sự đồng thuận ấy đã là tất cả chưa?”
“Hoàn toàn chưa. Chúng tôi đặt niềm tin lớn vào những trò giải trí đơn giản, chẳng hạn như âm nhạc, khiêu vũ, các bài tập thể dục nói chung, bài bạc, một số thể loại sách vở, vân vân. Chúng tôi giả vờ đối xử với từng cá nhân như thể họ mắc một chứng bệnh thể chất thông thường nào đó; và từ ‘chứng cuồng loạn’ không bao giờ được thốt ra. Một điểm cốt lõi là giao cho mỗi bệnh nhân nhiệm vụ canh chừng hành động của tất cả những người khác. Đặt niềm tin vào sự hiểu biết hay óc phán đoán của một kẻ điên chính là thu phục được cả thân xác lẫn tâm hồn hắn. Bằng cách này, chúng tôi có thể bớt đi một đội ngũ canh gác tốn kém.”
“Và ngài hoàn toàn không áp dụng bất kỳ hình thức trừng phạt nào ư?”
“Không hề.”
“Và ngài chưa từng giam cầm các bệnh nhân của mình?”
“Rất hiếm khi. Thỉnh thoảng, khi cơn bệnh của ai đó tiến đến đỉnh điểm hoặc chuyển biến đột ngột thành sự hung hãn, chúng tôi sẽ đưa họ vào một căn phòng giam bí mật để tránh việc căn bệnh lây lan sang những người khác, và giữ họ ở đó cho đến khi có thể trả họ về với gia đình—bởi chúng tôi không can thiệp gì đến những kẻ cuồng loạn dữ dội. Hắn ta thường được chuyển đến các bệnh viện công.”
“Và giờ thì ngài đã thay đổi tất cả điều này—và ngài nghĩ mọi thứ tốt hơn chứ?”
“Chắc chắn là thế. Hệ thống cũ có những mặt hạn chế, thậm chí cả hiểm họa của nó. Thật may mắn là giờ đây nó đã bị bãi bỏ trên toàn bộ các Maison de Santé của nước Pháp.”
“Tôi vô cùng ngạc nhiên,” tôi nói, “về những điều ngài vừa kể; bởi tôi đinh ninh rằng vào thời điểm này, không hề tồn tại bất kỳ phương pháp điều trị chứng cuồng loạn nào khác ở bất cứ xó xỉnh nào trên đất nước.”
“Anh vẫn còn trẻ lắm, bạn tôi ạ,” chủ nhà đáp lời, “nhưng rồi sẽ đến lúc anh học được cách tự mình đánh giá những gì đang diễn ra trên thế giới này mà không phải đặt trọn niềm tin vào những lời đồn thổi của kẻ khác. Đừng tin vào bất cứ điều gì anh nghe thấy, và chỉ tin một nửa những gì anh tận mắt chứng kiến. Giờ thì bàn về các Maison de Santé của chúng tôi đi, rõ ràng là một kẻ dốt nát nào đó đã dẫn dắt anh đi lạc hướng. Tuy nhiên, sau bữa tối, khi anh đã hồi phục hoàn toàn sau sự mệt mỏi của chuyến đi ngựa, tôi sẽ rất hân hạnh được dẫn anh đi tham quan khắp nhà và giới thiệu cho anh một hệ thống mà theo quan điểm của tôi, cũng như của bất kỳ ai từng chứng kiến nó vận hành, là phương pháp hiệu quả nhất chưa từng có cho đến nay.”
“Của chính ngài ư?” tôi dò hỏi—“một phương pháp do chính ngài phát minh ra sao?”
“Tôi lấy làm tự hào,” ông đáp, “khi thừa nhận rằng đúng là như vậy—ít nhất là theo một chừng mực nào đó.”
Cứ thế, tôi trò chuyện với Monsieur Maillard trong suốt một hoặc hai tiếng đồng hồ, trong khoảng thời gian đó ông dẫn tôi đi tham quan các khu vườn và nhà kính của cơ ngơi.
“Tôi không thể để anh gặp các bệnh nhân của mình,” ông nói, “vào lúc này được. Đối với một tâm hồn nhạy cảm, những cảnh tượng ấy luôn mang ít nhiều sự chấn động; và tôi không muốn làm hỏng cảm giác thèm ăn bữa tối của anh. Chúng ta sẽ dùng bữa. Tôi có thể thết đãi anh món bê hầm kiểu Menehoult, kèm theo súp lơ chan sốt velouté—sau đó là một ly rượu Clos de Vougeot—khi đó các dây thần kinh của anh sẽ đủ bình tĩnh lại.”
Đúng sáu giờ, bữa tối được thông báo; và chủ nhà dẫn tôi vào một phòng ăn lớn (salle à manger), nơi có rất đông người tề tựu—tầm khoảng hai mươi lăm đến ba mươi người. Thoạt nhìn, họ đều là những người thuộc tầng lớp thượng lưu—chắc chắn là có giáo dục cao—dẫu cho trang phục của họ, theo tôi nghĩ, có phần lộng lẫy một cách thái quá, hơi phảng phất vẻ diêm dúa phô trương của triều đình cũ (vielle cour). Tôi nhận thấy có ít nhất hai phần ba số khách này là phụ nữ; và một số vị nữ lưu hoàn toàn không ăn mặc theo thứ mà một người Paris ngày nay có thể coi là có gu thẩm mỹ tốt. Chẳng hạn, nhiều phụ nữ trông tuổi không dưới bảy mươi lại được trưng diện vô số đồ trang sức nào nhẫn, vòng tay, hoa tai, lại còn để lộ ngực và tay trần một cách trơ trẽn. Tôi cũng quan sát thấy rất ít bộ y phục được may khéo léo—hoặc ít ra, rất ít bộ vừa vặn với người mặc. Khi đảo mắt nhìn quanh, tôi phát hiện ra cô gái thú vị mà Monsieur Maillard từng giới thiệu với tôi trong căn phòng khách nhỏ; nhưng tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy nàng mặc một chiếc váy khung vòng và đầm phồng (hoop and farthingale), đi giày cao gót, đội một chiếc mũ ren vùng Brussels dơ bay và quá khổ đến mức khiến khuôn mặt nàng trông nhỏ nhắn một cách kỳ cục. Khi mới gặp, nàng mặc một bộ tang phục sẫm màu vô cùng lịch sự và tôn dáng. Nói tóm lại, trang phục của toàn bộ nhóm người này phảng phất một nét kỳ quặc, thoạt đầu khiến tôi quay lại với ý tưởng ban đầu về “hệ thống xoa dịu,” và tưởng rằng Monsieur Maillard đã cố ý đánh lừa tôi cho đến sau bữa tối, để tôi không phải trải qua bất kỳ cảm giác khó chịu nào trong suốt bữa ăn khi phát hiện ra mình đang dùng bữa cùng những kẻ tâm thần; nhưng rồi tôi nhớ ra mình từng được thông báo ở Paris rằng cư dân các tỉnh miền nam là một cộng đồng vô cùng kỳ quặc, mang trong đầu rất nhiều quan niệm lỗi thời; và rồi, khi trò chuyện với một vài thành viên trong nhóm, những mối hoang mang của tôi đã hoàn toàn tan biến ngay lập tức.
Bản thân phòng ăn, dẫu có lẽ đủ thoải mái và rộng rãi, lại chẳng có lấy chút vẻ tinh tế nào. Chẳng hạn, sàn nhà không được trải thảm; tuy nhiên ở Pháp, thảm thường hay được lược bỏ. Các cửa sổ cũng không có rèm; những tấm chớp thì đóng kín và được kẹp chặt bằng các thanh sắt đặt chéo, theo kiểu cửa hàng thông thường của chúng ta. Tôi quan sát thấy căn phòng này vốn là một cánh của lâu đài, vì vậy các cửa sổ nằm ở ba mặt của hình bình hành, còn cửa ra vào nằm ở mặt kia. Có tổng cộng không dưới mười chiếc cửa sổ.
Bàn ăn được bày biện vô cùng xa hoa. Nó ngập tràn đồ bạc, và ngập tràn hơn thế nữa là những món ngon vật lạ. Sự xa hoa ấy quả thực mang nét hoang dã. Thức ăn nhiều đến mức có thể thiết tiệc cả dòng tộc người khổng lồ Anakim. Chưa bao giờ trong đời tôi được chứng kiến một sự chi tiêu hoang phí và bạt mạng cho những vật phẩm tốt đẹp của cuộc đời đến thế. Dẫu vậy, dường như có rất ít gu thẩm mỹ trong cách bày biện; và đôi mắt tôi, vốn đã quen với những ánh sáng dịu nhẹ, lại bị tổn thương nghiêm trọng bởi thứ ánh sáng chói lọi đến cùng cực của một loạt nến sáp cắm trong các chân đèn bằng bạc được đặt trên bàn và khắp phòng, bất cứ chỗ nào có thể tìm được một chỗ trống. Có một vài người hầu năng nổ đang đứng túc trực; và trên một chiếc bàn lớn ở phía cuối phòng, có bảy hoặc tám người đang ngồi với đàn vĩ cầm, sáo ngang, kèn trombone và một cái trống. Những kẻ này thỉnh thoảng lại làm phiền tôi rất nhiều trong suốt bữa ăn bằng vô số những thứ âm thanh hỗn độn được ngụy trang thành âm nhạc, và chúng dường như đem lại rất nhiều niềm vui cho tất cả những ai có mặt ở đó, ngoại trừ tôi.
Nhìn chung, tôi không khỏi nghĩ rằng có rất nhiều điều kỳ quái ở mọi thứ mình nhìn thấy—nhưng suy cho cùng, thế giới này vốn được cấu thành từ đủ loại người, với đủ kiểu tư duy và mọi thói quen ước lệ khác nhau. Hơn nữa, tôi đã đi du lịch nhiều đến mức trở thành một chuyên gia thành thạo với phương châm nil admirari (không ngạc nhiên trước điều gì); thế nên tôi rất bình tĩnh ngồi xuống phía bên phải chủ nhà, và vì có mộtσ chiếc bụng đói tốt, tôi đã thưởng thức trọn vẹn bữa tiệc thịnh soạn được bày trước mặt.
Trong khi đó, bầu không khí trò chuyện diễn ra sôi nổi và cởi mở. Những phụ nữ, như thường lệ, nói rất nhiều. Tôi nhanh chóng nhận ra hầu như tất cả mọi người trong bữa tiệc đều có học thức; và bản thân chủ nhà là một kho tàng giai thoại hài hước. Ông tỏ ra khá cởi mở khi nói về vị trí giám thị của mình tại một Maison de Santé; và quả thật, chủ đề về chứng cuồng loạn lại là một chủ đề ưa thích của tất cả mọi người có mặt ở đây, khiến tôi vô cùng ngạc nhiên. Rất nhiều câu chuyện thú vị xoay quanh những thói kỳ quặc của các bệnh nhân đã được kể lại.
“Chúng tôi từng có một gã ở đây,” một quý ông mập mạp ngồi bên tay phải tôi lên tiếng,—“một gã cứ ngỡ mình là một cái ấm trà; mà nhân tiện đây, chẳng phải thật kỳ lạ khi cái chứng hoang tưởng cụ thể này cứ hay xuất hiện trong bộ óc của những kẻ mất trí hay sao? Hầu như chẳng có nhà thương điên nào ở nước Pháp lại không thể cung cấp lấy một con người-ấm-trà cả. Quý ông của chúng tôi là một cái ấm trà bằng kim loại Britannia, và ngày nào hắn cũng cẩn thận đánh bóng bản thân bằng da sơn dương và phấn thợ quét vôi.”
“Và rồi,” một người đàn ông cao kều ngồi ngay đối diện tiếp lời, “cách đây không lâu, chúng tôi có một người nảy ra ý định rằng mình là một con lừa—nếu nói theo nghĩa bóng thì anh sẽ bảo điều đó hoàn toàn chính xác. Hắn ta là một bệnh nhân phiền phức; và chúng tôi đã tốn bao công sức mới kìm hẹp được hắn trong khuôn khổ. Suốt một thời gian dài, hắn chẳng chịu ăn gì ngoài cây kế; nhưng chúng tôi đã chữa khỏi ý tưởng này rất nhanh chóng bằng cách khăng khăng bắt hắn chẳng được ăn gì khác ngoài thứ đó. Rồi thì hắn cứ liên tục đá thốc gót chân ra phía sau—thế này—thế này—”
“Ông De Kock! Tôi xin ông hãy tự trọng!” một bà cụ ngồi cạnh người nói lớn tiếng ngắt lời. “Làm ơn giữ cái chân của ông lại cho! Ông đã làm hỏng tấm vải gấm của tôi rồi đấy! Bộ nhất thiết phải minh họa một lời nói bằng phong cách thực tế đến thế sao? Bạn của chúng ta ở đây chắc chắn có thể hiểu được ông mà chẳng cần phải thông qua tất cả những trò này. Thề có chúa, ông suýt soát là một con lừa chẳng kém gì kẻ khốn khổ tội nghiệp kia tưởng tượng đâu. Diễn xuất của ông trông tự nhiên quá thể, khi mà tôi hãy còn sống.”
“Mille pardons! Ma’m’selle!” Monsieur De Kock đáp lại lời chất vấn ấy,—“ngàn lần xin lỗi! Tôi hoàn toàn không có ý định xúc phạm. Ma’m’selle Laplace—Monsieur De Kock xin vinh hạnh được nâng ly cùng cô.”
Đến đây, Monsieur De Kock cúi đầu chào thật thấp, hôn gió đầy vẻ nghi thức, và nâng ly cùng Ma’m’selle Laplace.
“Cho phép tôi nhé, mon ami,” bấy giờ Monsieur Maillard quay sang hướng về phía tôi mà nói,—“cho phép tôi gắp mời anh một miếng bê hầm kiểu St. Menehoult này—anh sẽ thấy nó ngon đặc biệt đấy.”
Ngay lúc ấy, ba tên hầu bàn lực lưỡng vừa vặn đặt thành công lên bàn một chiếc đĩa hoặc thớt gỗ khổng lồ, chứa đựng thứ mà tôi đoán là “monstrum, horrendum, informe, ingens, cui lumen ademptum” (quái vật gớm ghiếc, dị hợm, khổng lồ, kẻ đã bị móc mắt). Tuy nhiên, quan sát kỹ hơn mới thấy đó chỉ là một chú bê nhỏ được quay nguyên con, đặt ở tư thế quỳ, ngậm một quả táo trong miệng, theo phong cách chế biến món thỏ của người Anh.
“Cảm ơn, tôi không dùng đâu,” tôi đáp; “thú thật là tôi không mấy mặn mà với món bê hầm kiểu St.—gì ấy nhỉ?—bởi tôi thấy nó không hợp với dạ dày mình cho lắm. Tuy nhiên, tôi sẽ đổi đĩa và thử một chút thịt thỏ.”
Trên bàn có vài món phụ chứa thứ trông giống như thịt thỏ kiểu Pháp thông thường—một món vô cùng ngon miệng mà tôi hoàn toàn có thể giới thiệu.
“Pierre,” chủ nhà cất tiếng gọi, “hãy đổi đĩa cho vị khách này và gắp cho ngài ấy một phần thịt thỏ au-chat.”
“Thỏ gì cơ?” tôi hỏi.
“Thỏ au-chat này.”
“Ôi, cảm ơn ngài—nhưng nghĩ lại thì thôi vậy. Tôi sẽ tự lấy một ít thịt giăm bông.”
Chẳng thể nào biết nổi người ta đang ăn cái quái gì, tôi thầm nghĩ trong bụng, tại những bàn tiệc của đám người xứ tỉnh này. Tôi sẽ không đụng đến món thỏ au-chat của họ đâu—và nhân tiện, món mèo-hầm-thỏ (cat-au-rabbit) cũng dẹp luôn.
“Và rồi,” một nhân vật có diện mạo phờ phạc hốc hác ngồi gần phía cuối bàn tiếp tục nối lại câu chuyện còn đang dang dở,—“và rồi, giữa vô vàn những điều kỳ quặc khác, chúng tôi từng có một bệnh nhân, thuở xửa thuở xưa, cứ khăng khăng một mực cho rằng mình là một miếng phô mai Cordova, và đi vòng quanh với con dao trên tay, nài nỉ bạn bè nếm thử một lát nhỏ từ chính giữa đùi hắn.”
“Hắn ta quả là một tên ngốc tuyệt đối, khỏi phải bàn cãi,” một ai đó chen vào, “nhưng vẫn chưa thấm vào đâu so với một cá nhân nào đó mà tất cả chúng ta đều biết, ngoại trừ vị khách lạ mặt này. Ý tôi là kẻ tự cho mình là một chai champagne, và lúc nào cũng bật tung nắp với tiếng phóc và tiếng xèo xèo, theo kiểu thế này.”
Đến đây, người nói, theo cách mà tôi cho là vô cùng bất lịch sự, bèn đút ngón cái tay phải vào má trái, rút ra với một âm thanh tựa như tiếng bật nút chai, rồi bằng một cử động lanh lẹ của chiếc lưỡi lướt qua hàm răng, tạo ra một tiếng xèo xèo sắc lẹm kéo dài vài phút, nhái theo tiếng bọt sủi tăm của champagne. Rõ ràng tôi thấy hành vi này không hề làm Monsieur Maillard hài lòng chút nào; nhưng vị quý ông ấy chẳng nói gì cả, và cuộc trò chuyện lại được tiếp nối bởi một gã đàn ông gầy đét đội chiếc tóc giả to sụ.
“Và rồi có một kẻ dốt nát,” hắn ta cất lời, “tự nhận mình là một con ếch, nhân tiện nói luôn, hắn giống loài này đến kỳ lạ. Ước gì anh được nhìn thấy hắn, thưa ngài,”—đến đây người nói hướng về phía tôi—“sẽ mát lòng mát dạ làm sao khi chứng kiến những điệu bộ tự nhiên mà hắn trổ tài. Thưa ngài, nếu gã đó không phải là một con ếch, thì tôi chỉ có thể nhận xét rằng thật đáng tiếc cho hắn vì đã không phải là một con ếch. Tiếng kêu éc oạp của hắn thế này—o-o-o-o-gh—o-o-o-o-gh! chính là nốt nhạc tuyệt vời nhất trên đời—nốt Si giáng; và khi hắn chống khuỷu tay lên bàn thế này—sau khi nốc một hai ly rượu—rồi dang rộng miệng thế này, trợn ngược mắt thế này, và chớp chớp chúng với tốc độ chóng mặt thế này, thì này ngài ơi, tôi xin mạo muội khẳng định một cách chắc chắn rằng, anh sẽ phải ngây ngất trước thiên bẩm của gã này cho mà xem.”
“Tôi không mảy may nghi ngờ điều đó,” tôi nói.
“Và rồi,” một ai đó khác tiếp lời, “sau đó là Petit Gaillard, kẻ tưởng mình là một nhúm thuốc hít, và vô cùng đau khổ vì không tài nào nhón nổi bản thân giữa ngón cái và ngón trỏ của chính mình.”
“Và rồi có Jules Desoulières, một thiên tài thực sự kỳ lạ, phát điên với ý tưởng rằng mình là một quả bí ngô. Hắn tra tấn người đầu bếp bắt phải chế biến mình thành các món bánh nướng—một điều mà người đầu bếp phẫn un kiên quyết từ chối. Về phần tôi, tôi không hề chắc chắn rằng một chiếc bánh bí ngô kiểu Desoulières lại không thể trở thành một món ăn cực kỳ tuyệt hảo đấy chứ!”
“Ngài làm tôi ngạc nhiên đấy!” tôi nói; và tôi nhìn Monsieur Maillard với ánh mắt đầy vẻ dò xét.
“Ha! ha! ha!” vị quý ông đó cất tiếng cười—“he! he! he!—hi! hi! hi!—ho! ho! ho!—hu! hu! hu!—thật quá đỗi tuyệt vời! Anh đừng nên ngạc nhiên, mon ami; bạn của chúng ta ở đây là một kẻ hóm hỉnh—một gã hề (drôle)—anh không nên hiểu lời hắn theo nghĩa đen đâu.”
“Và rồi,” một thành viên khác trong nhóm cất lời,—“sau đó là Bouffon Le Grand—một nhân vật phi thường khác theo cách riêng của ông ta. Ông ta phát trí vì yêu, và ảo tưởng rằng bản thân sở hữu tới hai cái đầu. Một trong số đó được ông đinh ninh là cái đầu của Cicero; còn cái kia thì ông tưởng tượng là một cái đầu hỗn hợp, gồm nửa trên từ trán đến miệng là của Demosthenes, và từ miệng xuống cằm là của Lãnh chúa Brougham. Không loại trừ khả năng ông ta đã sai; nhưng ông sẽ thuyết phục được anh rằng ông hoàn toàn đúng; bởi ông là một người có tài hùng biện tuyệt đỉnh. Ông có một niềm đam mê mãnh liệt với nghệ thuật diễn thuyết, và không thể kìm ném việc trổ tài. Chẳng hạn, ông thường nhảy chồm lên bàn ăn thế này, và—và—”
Đến đây, một người bạn ngồi cạnh người nói liền đặt tay lên vai hắn và thì thầm vài câu vào tai; lập tức hắn ngừng bặt giọng nói một cách đột ngột rồi tụt ngã người xuống ghế.
“Và rồi,” người bạn vừa thì thầm tiếp lời, “có Boullard, cái con quay (tee-totum). Tôi gọi hắn là con quay bởi vì, thực ra, hắn bị ám ảnh bởi một chứng hoang tưởng kỳ quặc nhưng không hẳn là vô lý, rằng bản thân đã bị hóa phép thành một con quay. Anh sẽ cười lăn cười bò khi thấy hắn xoay tít. Hắn sẽ quay tròn trên một gót chân suốt hàng giờ liền, theo kiểu thế này—cứ như là—”
Đến lượt người bạn vừa bị hắn ngắt lời bằng một tiếng thì thầm liền thực hiện một động tác y hệt cho chính mình.
“Nhưng này,” bà cụ cất cao hết cỡ giọng nói của mình vang lên, “cái gã Boullard của các người chẳng qua chỉ là một kẻ điên, và xét cho cùng thì là một tên điên ngốc nghếch; bởi xin phép cho tôi được hỏi, có ai từng nghe nói về một con quay bằng xương bằng thịt bao giờ chưa? Thật là vô lý. Madame Joyeuse là một người tỉnh táo hơn, như các anh cũng biết. Bà ấy mắc một chứng hoang tưởng, nhưng nó chan chứa sự khôn ngoan thông thường, và mang lại niềm vui cho tất cả những ai vinh dự làm quen với bà. Sau khi suy tính kỹ lưỡng, bà phát hiện ra rằng do một tai nạn nào đó, bản thân đã biến thành một con gà trống; nhưng với tư cách là gà trống, bà cư xử vô cùng đúng mực. Bà vỗ cánh với hiệu ứng vô cùng hoành tráng—thế này—thế này—thế này—và còn về tiếng gáy của bà, thật là tuyệt cú mèo! Gáy vang ó o!—gáy vang ó o!—gáy vang óoooooo-o-o-o-o-o-o!”
“Madame Joyeuse, tôi xin cô hãy tự trọng!” chủ nhà của chúng tôi bỗng ngắt lời với giọng điệu vô cùng giận dữ. “Cô có thể tự hành xử như một quý cô nên làm, hoặc cô có thể xéo khỏi bàn ăn ngay lập tức—tự mà chọn lấy.”
Người phụ nữ (khiến tôi vô cùng ngạc nhiên khi nghe được gọi là Madame Joyeuse, sau đúng cái mô tả về Madame Joyeuse mà bà vừa trình diễn) đỏ bừng mặt lên tận chân mày, và trông có vẻ cực kỳ bẽn lẽn trước lời quở trách. Bà cúi gằm đầu xuống và không thốt nổi một lời nào để đáp lại. Nhưng một phụ nữ khác trẻ tuổi hơn lại tiếp tục chủ đề. Đó chính là cô gái xinh đẹp trong phòng khách nhỏ.
“Ồ, Madame Joyeuse chỉ là một kẻ ngốc!” nàng thốt lên, “nhưng rốt cuộc thì vẫn có rất nhiều lý lẽ sâu sắc trong quan điểm của Eugénie Salsafette. Nàng là một thiếu nữ vô cùng xinh đẹp và cực kỳ e thẹn, người luôn cho rằng lối mặc y phục thông thường là thiếu tế nhị, và ao ước được ăn mặc bằng cách chui ra bên ngoài thay vì chui vào bên trong quần áo của mình. Rốt cuộc thì đó là một việc vô cùng dễ làm. Anh chỉ cần làm thế này—rồi thế này—thế này—thế này—rồi thế này—thế này—thế này—rồi thế này—thế này—rồi—”
“Mon dieu! Ma’m’selle Salsafette!” bấy giờ hàng tá giọng nói cùng lúc ré lên. “Cô đang làm trò gì thế?—dừng lại ngay!—thế là đủ rồi!—chúng tôi thấy rõ mồn một cách người ta làm rồi!—khoan đã! khoan đã!” và một vài người đã bắt tay vào việc nhổm dậy khỏi ghế để ngăn chặn Ma’m’selle Salsafette không tự hạ thấp mình ngang hàng với bức tượng Nữ thần Vệ nữ thành Medici, thì sự việc bỗng được giải quyết một cách vô cùng hiệu quả và đột ngột bởi một loạt những tiếng thét hoặc tiếng hú inh ỏi vang lên từ một góc nào đó ở khu nhà chính của lâu đài.
Quả thực các dây thần kinh của tôi đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi những tiếng hú ấy; nhưng tôi thực sự cảm thấy thương hại cho những người còn lại trong nhóm. Chưa bao giờ trong đời tôi lại chứng kiến một lũ người tỉnh táo nào lại hoảng sợ đến độ tận cùng thế này. Tất cả bọn họ đều tái mét mặt cắt không còn giọt máu như những thây ma, và co ro trên ghế, ngồi run lẩy bẩy cùng những tiếng lẩm bẩm trong sự khiếp sợ, lắng tai ngóng chờ âm thanh ấy lặp lại. Nó lại vang lên—lớn hơn và có vẻ như đến gần hơn—rồi lần thứ ba thật to, và lần thứ tư với một sức sống rõ ràng đã suy giảm. Trước sự lịm dần có vẻ như đã tắt hẳn của tiếng ồn ấy, tinh thần của đám đông ngay lập tức hồi phục trở lại, và mọi thứ lại tràn đầy sức sống cùng những giai thoại như trước. Bấy giờ tôi mới dám mạo muội hỏi nguyên nhân của sự xáo trộn.
“Chỉ là một chuyện vặt vãnh,” Monsieur Maillard thản nhiên nói. “Chúng tôi đã quen với những chuyện này, và thực sự chẳng bận tâm mấy đến chúng. Thỉnh thoảng, lũ người điên lại hùa nhau cất lên một tiếng hú đồng thanh; kẻ này khởi xướng người kia, hệt như trường hợp của một bầy chó vào ban đêm. Tuy nhiên, đôi khi những bản hòa tấu tiếng hú ấy lại được nối tiếp bởi một nỗ lực đồng loạt nhằm phá xiềng thoát ra ngoài; khi đó, dĩ nhiên, chúng ta phải đề phòng đôi chút hiểm họa.”
“Và hiện tại ngài đang quản lý bao nhiêu người?”
“Tính đến lúc này, chúng tôi có không quá mười người, tính tổng cộng.”
“Chủ yếu là nữ giới, tôi đoán thế nhỉ?”
“Ồ, không đâu—toàn bộ đều là nam giới cả, và tôi xin cam đoan với anh, toàn là những gã vạm vỡ cường tráng.”
“Thật ư! Tôi vẫn luôn đinh ninh rằng đa số những kẻ mất trí đều thuộc phái yếu chứ.”
“Thường thì là thế, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Cách đây không lâu, ở đây có khoảng hai mươi bảy bệnh nhân; và trong số đó, có không dưới mười tám người là phụ nữ; nhưng dạo gần đây, mọi thứ đã thay đổi rất nhiều, như anh thấy đấy.”
“Vâng—đã thay đổi rất nhiều, như anh thấy đấy,” vị quý ông từng đá vào cẳng chân của Ma’m’selle Laplace bỗng cất lời chen vào.
“Vâng—đã thay đổi rất nhiều, như anh thấy đấy!” cả đám đông đồng thanh họa theo.
“Câm hết cái miệng lại cho tôi!” chủ nhà cất tiếng quát tháo với cơn thịnh nộ tột cùng. Lập tức toàn bộ nhóm người duy trì sự im lặng chết chóc trong suốt gần một phút. Riêng về phần một vị nữ lưu, bà tuân thủ tuyệt đối mệnh lệnh của Monsieur Maillard đến từng chữ, thè chiếc lưỡi vốn dài quá khổ ra ngoài, và cứ thế kiên nhẫn dùng cả hai tay giữ chặt lấy nó cho đến tận khi buổi tiệc kết thúc.
“Và thưa quý cô này,” tôi quay sang Monsieur Maillard, cúi người xuống và thì thầm nhỏ giọng với ông,—“bà cụ tốt bụng vừa lên tiếng lúc nãy, người đã đem lại cho chúng ta tiếng gáy ó o—tôi đoán là bà ấy vô hại chứ—hoàn toàn vô hại phải không ngài?”
“Vô hại!” ông thốt lên với vẻ ngạc nhiên không chút giả trân, “sao cơ—sao cơ, anh đang ám chỉ điều gì thế?”
“Chỉ hơi dở hơi một chút thôi phải không?” tôi nói, vừa đưa tay chỉ lên đầu mình. “Tôi cứ đinh ninh rằng bà ấy không bị ảnh hưởng quá nặng—không đến mức nguy hiểm chứ, phải không?”
“Mon dieu! Anh đang tưởng tượng ra cái quái gì thế hả? Vị nữ lưu này, người bạn già tri kỷ của tôi, Madame Joyeuse, hoàn toàn minh mẫn y hệt như tôi vậy. Đành rằng bà ấy có đôi chút tính cách kỳ cục—nhưng rồi anh biết đấy, tất cả phụ nữ già—những bà già lớn tuổi đều ít nhiều mang trong mình sự kỳ cục!”
“Chắc chắn rồi,” tôi nói,—“chắc chắn rồi—và thế còn những quý ông quý bà còn lại thì sao—”
“Đều là bạn bè và là những người canh gác của tôi,” Monsieur Maillard ngắt lời, ưỡn ngực đầy kiêu hãnh,—“những người bạn rất đỗi thân thiết và là trợ lý đắc lực của tôi.”
“Cái gì! Tất cả bọn họ ư?” tôi hỏi,—“cả mấy người phụ nữ kia nữa á?”
“Chắc chắn rồi,” ông đáp,—“chúng tôi không tài nào xoay sở nổi nếu thiếu đi phụ nữ; họ là những y tá chăm sóc người điên tuyệt vời nhất trên đời; anh biết đấy, họ có những mánhnhé riêng của mình; đôi mắt sáng ngời của họ có một sức mạnh kỳ diệu—tựa như sự quyến rũ của loài rắn vậy, anh hiểu chứ.”
“Tất nhiên rồi,” tôi nói,—“tất nhiên rồi! Họ cư xử hơi kỳ cục một chút nhỉ?—họ hơi bất thường một chút nhỉ?—ngài không nghĩ thế sao?”
“Kỳ cục!—bất thường!—sao chứ, anh thực sự nghĩ vậy ư? Đành rằng chúng ta không phải là những kẻ quá mức câu nệ, ở miền Nam này mà—cứ làm những gì mình thích—tận hưởng cuộc sống, và đủ mọi thứ loại như thế, anh biết đấy—”
“Chắc chắn rồi,” tôi nói,—“chắc chắn rồi.”
“Và rồi, có lẽ chai rượu Clos de Vougeot này hơi nặng đô một chút, anh biết đấy—hơi mạnh—anh hiểu chứ, phải không?”
“Chắc chắn rồi,” tôi nói,—“chắc chắn rồi. Nhân tiện thưa ngài Monsieur, có phải tôi đã hiểu lầm khi nghe ngài nói rằng hệ thống mà ngài áp dụng để thay thế cho hệ thống xoa dịu nổi tiếng, thực chất là một chế độ vô cùng nghiêm ngặt khắt khe?”
“Hoàn toàn không. Việc giam cầm của chúng tôi dĩ nhiên là phải ngặt nghèo; nhưng phương pháp điều trị—ý tôi là điều trị y tế—lại khiến các bệnh nhân cảm thấy dễ chịu hơn là ngược lại.”
“Và hệ thống mới này là do chính ngài phát minh ra ư?”
“Không hoàn toàn thế. Một số phần trong đó bắt nguồn từ Giáo sư Tarr, người mà chắc chắn anh đã từng nghe danh; và mặt khác, có những sự điều chỉnh trong kế hoạch của tôi mà tôi rất đỗi tự hào khi thừa nhận thuộc về quyền sở hữu chính đáng của Giáo sư Fether lừng danh, người mà nếu tôi không nhầm, anh có vinh dự quen biết rất thân.”
“Tôi cảm thấy vô cùng hổ thẹn khi phải thú nhận,” tôi đáp, “rằng trước nay tôi chưa từng nghe qua tên tuổi của bất kỳ vị nào trong hai người bọn họ cả.”
“Lạy chúa trên cao!” chủ nhà thốt lên, giật lùi ghế ra phía sau một cách đột ngột và giơ cao hai bàn tay. “Chắc chắn là tôi nghe nhầm rồi! Ý anh không phải là chưa từng nghe nói về cả Bác sĩ Tarr uyên bác lẫn Giáo sư Fether lừng danh đó chứ?”
“Tôi buộc phải thừa nhận sự dốt nát của mình,” tôi đáp; “nhưng sự thật trên hết vẫn phải được giữ gìn bất khả xâm phạm. Dẫu vậy, tôi cảm thấy nhục nhã cúi gằm mặt xuống đất vì không được biết đến các tác phẩm của những con người phi thường này, điều đó là không thể chối cãi. Tôi sẽ lập tức đi tìm các tác phẩm của họ và nghiền ngẫm chúng một cách thật cẩn trọng. Monsieur Maillard, ngài quả thực—tôi phải thú nhận điều đó—ngài quả thực—đã khiến tôi phải xấu hổ với chính mình!”
Và đó chính là sự thật.
“Đừng nói nữa, người bạn trẻ tuổi tốt bụng của tôi,” ông nói đầy ân cần, siết chặt bàn tay tôi,—“hãy cùng tôi nâng một ly Sauterne nào.”
Chúng tôi cạn ly. Đám đông hùa theo không chút e dè. Họ tán gẫu—họ đùa giỡn—họ cười hô hố—họ thực hiện hàng ngàn trò ngớ ngẩn—tiếng vĩ cầm réo rắt—tiếng trống dồn râm ran—những chiếc kèn trombone gầm rú tựa như hàng lũ bò bằng đồng ở Phalaris—và toàn bộ khung cảnh ấy, dần dần trở nên tồi tệ hơn khi hơi men bắt đầu chiếm ưu thế, cuối cùng biến thành một thứ địa ngục thu nhỏ (pandemonium in petto). Trong lúc đó, Monsieur Maillard và tôi, với vài chai Sauterne và Vougeot đặt giữa hai người, vẫn tiếp tục cuộc trò chuyện với giọng nói to hết cỡ. Một lời nói thốt ra bằng tông giọng bình thường chẳng có lấy một cơ hội nhỏ nhoi nào được nghe thấy chứ đừng nói là giọng của một con cá dưới đáy thác Niagara.
“Và thưa ngài,” tôi hét vào tai ông, “lúc trước bữa ăn ngài có nhắc thoáng qua về mối hiểm họa phát sinh từ hệ thống xoa dịu cũ. Điều đó là thế nào vậy?”
“Đúng thế,” ông đáp, “đôi khi hiểm họa thực sự rất lớn. Không tài nào lường trước được những cơn hứng chí của lũ người điên; và theo quan điểm của tôi cũng như của Tiến sĩ Tarr và Giáo sư Fether, việc thả lỏng chúng đi lại tự do mà không có người kèm cặp chưa bao giờ là an toàn cả. Một kẻ điên có thể được ‘xoa dịu,’ theo cách gọi như thế, trong một khoảng thời gian, nhưng rốt cuộc, hắn ta rất dễ trở nên lộng hành hung hãn. Sự ranh ma của hắn cũng cực kỳ nổi tiếng và to lớn. Nếu ôm ấp một âm mưu nào đó trong đầu, hắn sẽ che giấu kế hoạch của mình bằng một sự khôn ngoan kỳ diệu; và sự lanh lẹ mà hắn dùng để ngụy trang sự minh mẫn đã bày ra trước mắt các nhà siêu hình học một trong những bài toán kỳ lạ nhất trong việc nghiên cứu tâm trí. Thật vậy, khi một kẻ điên trông có vẻ hoàn toàn minh mẫn, đó chính là lúc thích hợp nhất để tống hắn vào chiếc áo tế bào (straitjacket).”
“Nhưng thưa ngài kính mến, còn về mối hiểm họa mà ngài vừa đề cập, dựa trên chính trải nghiệm của ngài—trong suốt khoảng thời gian ngài kiểm soát ngôi nhà này—ngài đã có lý do thực tế nào để cho rằng sự tự do là điều nguy hiểm đối với một kẻ tâm thần chưa?”
“Ở đây ư?—trong chính trải nghiệm của tôi ư?—chà, tôi có thể nói là có. Chẳng hạn: cách đây chưa lâu lắm, một tình huống kỳ lạ đã xảy ra chính tại ngôi nhà này. ‘Hệ thống xoa dịu,’ anh biết đấy, lúc bấy giờ đang được vận hành, và các bệnh nhân được tự do đi lại. Bọn họ cư xử cực kỳ ngoan ngoãn—đặc biệt là thế—bất kỳ ai có chút óc phán đoán đều phải nhận ra rằng có một âm mưu quỷ quái nào đó đang được nung nấu từ chính cái thực tế đặc biệt ấy, rằng lũ người lại cư xử ngoan ngoãn đến khó tin. Và quả đúng như thế, vào một buổi sáng đẹp trời, đám canh gác phát hiện bản thân bị trói chặt tay chân từ đầu đến cuối và bị ném vào các phòng giam, nơi họ được chăm sóc hệt như những kẻ mất trí bởi chính những kẻ mất trí, những kẻ đã cướp đoạt vị trí của đội ngũ canh gác.”
“Ngài không đùa tôi chứ! Chưa bao giờ trong đời tôi lại nghe về một chuyện ngớ ngẩn đến thế!”
“Sự thật đấy—tất cả chuyện đó xảy ra là nhờ một gã đần độn—một kẻ tâm thần—bằng một cách nào đó đã nảy ra ý định rằng hắn phát minh ra một hệ thống cai trị tốt hơn bất kỳ hệ thống nào từng được nghe tới trước đó—ý tôi là hệ thống cai trị của loài người mất trí. Chắc là hắn muốn đem phátียว kiến của mình ra thử nghiệm, thế nên hắn đã thuyết phục những bệnh nhân còn lại hùa theo một âm mưu lật đổ những thế lực đang trị vì.”
“Và hắn thực sự thành công ư?”
“Không phải bàn cãi gì nữa. Đám canh gác và kẻ bị giam nhanh chóng đổi chỗ cho nhau. Nói thế cũng không hẳn là chính xác hoàn toàn—bởi những kẻ điên thì được thả tự do, nhưng đội ngũ canh gác thì lập tức bị nhốt vào các xà lim và bị đối xử, tôi lấy làm tiếc phải nói điều đó, theo một cách vô cùng trịch thượng cao ngạo.”
“Nhưng tôi đoán là một cuộc phản cách mạng đã sớm được thực hiện. Tình trạng này không thể kéo dài lâu được. Cư dân vùng quê xung quanh—những vị khách ghé thăm cơ ngơi—sẽ phát chuông báo động chứ.”
“Đoạn này thì anh đoán trật lất rồi. Tên đầu sỏ phiến loạn quá ranh ma để sơ hở chuyện đó. Hắn không hề cho phép bất kỳ vị khách nào bước chân vào—ngoại trừ một ngày nọ, một vị công tử trẻ tuổi trông vô cùng đần độn mà hắn chẳng có lý do gì phải sợ hãi. Hắn cho gã đó vào tham quan cơ ngơi—chỉ cốt để đổi gió cho vui—để đùa giỡn chút đỉnh với hắn ta. Ngay khi đã lừa gạt gã đó đủ đường, hắn liền tống cổ gã ra ngoài và bảo gã cút về lo việc của mình.”
“Và thế là, lũ người điên đã thống trị trong bao lâu?”
“Ồ, thực sự là một khoảng thời gian rất dài—chắc chắn là một tháng—còn lâu hơn nữa thì tôi không dám nói chính xác. Trong thời gian đó, lũ người điên đã có một khoảng thời gian vô cùng sung sướng—anh có thể thề là thế. Bọn chúng cởi bỏ những bộ quần áo rách rưới tơi tả của mình, và tha hồ vơ vét tủ quần áo cùng trang sức của gia đình. Các hầm rượu của lâu đài được tích trữ đầy ắp rượu ngon; và đám người điên đó chính là những con quỷ biết cách thưởng thức chúng nhất. Phải nói là chúng sống rất sung túc đấy.”
“Và còn phương pháp điều trị—loại hình điều trị cụ thể nào mà thủ lĩnh của đám phiến loạn đã đưa vào áp dụng?”
“Chà, về khoản đó, một kẻ mất trí không nhất thiết phải là kẻ ngốc, như tôi đã đề cập từ trước; và tôi thành thật cho rằng phương pháp điều trị của hắn tốt hơn rất nhiều so với thứ mà nó thay thế. Đó thực sự là một hệ thống xuất sắc—đơn giản—gọn gàng—chẳng phiền toái chút nào—thực tế là nó vô cùng tuyệt vời—nó là—”
Đến đây những lời nhận xét của chủ nhà bị cắt đứt bởi một loạt tiếng hú khác, có cùng đặc trưng với những âm thanh từng khiến chúng ta bối rối trước đó. Tuy nhiên, lần này, chúng có vẻ phát ra từ những con người đang lao đến với tốc độ chóng mặt.
“Lạy chúa nhân từ!” tôi thốt lên—“lũ người điên chắc chắn đã phá xiềng xổng chuồng rồi.”
“Tôi vô cùng lo sợ là đúng như thế,” Monsieur Maillard đáp, lúc này đã tái xanh cắt không còn giọt máu. Ông vừa dứt câu thì những tiếng hò hét và chửi rủa vang lên ầm ĩ ngay dưới các cửa sổ; và ngay khoảnh khắc tiếp theo, rõ mồn một là có một số kẻ ở bên ngoài đang tìm cách phá cửa xông vào phòng. Cánh cửa bị đập thình thịch bởi thứ trông giống như một chiếc búa tạ, còn các khung cửa chớp thì bị giật tung và rung chuyển với một lực bạo tàn khủng khiếp.
Một khung cảnh hỗn loạn kinh hoàng bao trùm. Monsieur Maillard, khiến tôi kinh ngạc tột độ, liền phi thân chui ùm xuống gầm tủ đựng bát đĩa. Tôi đã kỳ vọng ở ông ta một sự kiên quyết lớn lao hơn thế. Các thành viên trong ban nhạc, những kẻ trong mười lăm phút qua có vẻ đã quá say xỉn không thể làm tròn nhiệm vụ, nay đồng loạt vùng dậy chồm lên chân và nhào đến các nhạc cụ của mình, leo lên bàn và nhất loạt cất vang bản “Yankee Doodle,” họ chơi không hẳn là đúng nhịp, nhưng ít nhất với một năng lượng siêu phàm trong suốt tiếng gầm thét hỗn loạn.
Trong khi đó, ngay trên chiếc bàn ăn chính, giữa đám chai lọ và ly tách, vị quý ông từng phải kìm chế chật vật mới không nhảy lên đó lúc trước, nay đã nhảy chồm lên bàn. Ngay khi vừa đứng vững chãi, ông ta bèn bắt đầu một bài diễn văn, mà chắc chắn là một bài diễn văn xuất sắc biết bao nếu như người ta có thể nghe nổi nó. Cùng lúc đó, gã đàn ông mang sở thích con quay bắt đầu xoay tít thò lò quanh căn phòng với một năng lượng khổng lồ, hai tay dang rộng tạo thành góc vuông với cơ thể; thế nên hắn ta trông hệt như một con quay thực thụ bằng xương bằng thịt, hất văng bất cứ kẻ nào vô tình đứng cản đường hắn. Và lúc này đây, nghe thấy những tiếng phóc và xèo xèo khó tin của champagne, cuối cùng tôi cũng phát hiện ra rằng âm thanh đó phát ra từ gã từng đóng vai chai rượu quý phái ấy trong bữa tối. Rồi tiếp đó, gã-người-ếch lại oạp oạp cất tiếng kêu cứu mạng cho linh hồn hắn phụ thuộc vào từng nốt nhạc thốt ra. Và giữa lúc hỗn chiến, tiếng bong bong chói tai của một con lừa cất lên lấn át tất cả. Về phần người bạn già của tôi, Madame Joyeuse, quả thực tôi đã có thể khóc cho người phụ nữ tội nghiệp ấy, bà trông bối rối đến tột cùng. Tuy nhiên, tất cả những gì bà làm chỉ là đứng lù lù trong góc, sát cạnh lò sưởi, và không ngừng cất cao giọng hét vang, “Ó-o-o-o-óoooooh!”
Và giờ thì cao trào đã đến—cỗ đại thảm họa của vở kịch. Do không có sự kháng cự nào ngoài những tiếng hú hét và tiếng gà gáy được đưa ra để chống lại sự xâm lấn của đám người bên ngoài, mười chiếc cửa sổ nhanh chóng bị đập vỡ tan tành và gần như đồng thời. Nhưng tôi sẽ không bao giờ có thể quên được những cảm xúc ngỡ ngàng và kinh hoàng khi tôi trố mắt nhìn, khi mà lao qua những khung cửa sổ này và nhảy bổ xuống giữa chúng tôi một cách hỗn loạn (pêle-mêle), vừa đánh đấm, giậm chân, cào cấu vừa tru tréo, một binh đoàn thực thụ xuất hiện mà tôi tưởng là loài tinh tinh, đười ươi, hay những con khỉ đầu chó đen to lớn từ Mũi Hảo Vọng.
Tôi đã hứng chịu một trận đòn nhừ tử—sau đó tôi lăn cù xuống gầm ghế sofa và nằm im bất động. Sau khi nằm đó chừng mười lăm phút, trong suốt khoảng thời gian ấy tôi giỏng tai nghe ngóng mọi chuyện đang diễn ra trong phòng, cuối cùng tôi cũng đi đến một cái kết cục thỏa mãn cho vở kịch bi trắc này. Hóa ra Monsieur Maillard, khi kể cho tôi nghe câu chuyện về kẻ điên từng xúi giục đồng bọn nổi dậy, chẳng qua chỉ đang kể lại chính những chiến tích của bản thân hắn. Vị quý ông này quả thực, độ chừng hai hoặc ba năm trước, từng là giám thị của cơ ngơi, nhưng rồi tự hắn phát điên và thế là trở thành một bệnh nhân. Sự thật này hoàn toàn bị che giấu với người bạn đồng hành đã giới thiệu tôi. Mười tên canh gác, sau khi bị đánh úp bất ngờ, thoạt đầu bị trét hắc ín đầy người, sau đó được cẩn thận đính lông vũ lên, rồi bị tống giam vào các ngục thất dưới lòng đất. Bọn họ đã bị giam cầm như thế trong hơn một tháng, khoảng thời gian mà Monsieur Maillard đã rộng lượng ban ơn không chỉ cho phép họ nhận hắc ín cùng lông vũ (thứ cấu thành nên “hệ thống” của ông ta), mà còn có thêm chút bánh mì cùng một lượng nước dồi dào. Nước được bơm lên người họ mỗi ngày. Cuối cùng, một kẻ trốn thoát qua đường cống ngầm đã đem lại sự tự do cho tất cả những người còn lại.
“Hệ thống xoa dịu,” với những cải tiến quan trọng, đã được tái thiết lập tại lâu đài; dẫu vậy tôi không tài nào ngừng việc đồng tình với Monsieur Maillard, rằng “phương pháp điều trị” của chính ông ta thực sự là một phương pháp xuất sắc theo cách riêng của nó. Đúng như ông đã nhận xét đầy chuẩn xác, nó “đơn giản—gọn gàng—và chẳng hề gây chút phiền toái nào—dù chỉ là một chút.”
Tôi chỉ muốn bổ sung thêm rằng, dẫu tôi đã lục tung mọi thư viện ở châu Âu để tìm kiếm các tác phẩm của Bác sĩ Tarr và Giáo sư Fether, thì cho đến tận ngày nay, tôi vẫn hoàn toàn thất bại trong mọi nỗ lực tậu cho mình một ấn bản nào.