“Nhân danh đấng Tiên tri—mứt vả!!”
—Tiếng rao của kẻ bán vả Thổ Nhĩ Kỳ.
Tôi đoán chắc ai cũng đã từng nghe danh tôi. Tên tôi là Signora Psyche Zenobia. Điều này thì rõ như ban ngày. Chẳng có ai ngoài lũ kẻ thù ghét tôi lại gọi tôi là Suky Snobbs cả. Tôi từng được quả quyết rằng Suky chỉ là một từ thông tục bị bóp méo từ Psyche, một từ tiếng Hy Lạp chuẩn xác có nghĩa là “tâm hồn” (chính là tôi đây, tôi toàn là tâm hồn thôi) và đôi khi có nghĩa là “con bướm,” mà nghĩa sau chắc chắn là ám chỉ bộ dạng của tôi trong chiếc váy sa-tanh đỏ thẫm mới tinh, khoác chiếc khăn choàng Ả Rập màu xanh da trời, viền những chiếc khuyết áo bằng đồng xanh, cùng bảy tầng diềm váy thêu hoa anh thảo màu cam. Còn về cái tên Snobbs—bất cứ ai nhìn vào tôi cũng thừa thừa hiểu tên tôi không thể nào là Snobbs được. Chính cô nàng Tabitha Turnip đã phao cái tin đồn đó lên vì lòng ghen tị đỏ mắt. Tabitha Turnip ư, hừ! Ôi cái con mụ khốn kiếp ấy! Nhưng mà chúng ta còn mong đợi gì ở một củ cải chứ? Tự hỏi không biết mụ ta có nhớ câu ngạn ngữ cổ về chuyện “đòi máu ở một củ cải,” vân vân và vân vân không nhỉ? [Ghi nhớ: nhắc mụ ta nhớ lại chuyện đó ngay cơ hội đầu tiên.] [Ghi nhớ lần nữa: vặn mũi mụ ta.] Tôi vừa nói đến đâu rồi nhỉ? À! Tôi đã được đoan chắc rằng Snobbs chỉ là một từ bị biến thể từ Zenobia, và Zenobia là một tên của nữ hoàng—(Tôi cũng thế thôi. Tiến sĩ Moneypenny lúc nào cũng gọi tôi là Nữ hoàng của những Trái tim)—rằng Zenobia, cũng giống như Psyche, là tiếng Hy Lạp xịn, và rằng cha tôi là “một người Hy Lạp,” thế nên tôi hoàn toàn có quyền mang họ của tổ tiên, đó là Zenobia chứ tuyệt đối không phải Snobbs. Chẳng có ai ngoài Tabitha Turnip gọi tôi là Suky Snobbs cả. Tôi chính là Signora Psyche Zenobia.
Như tôi đã nói, mọi người đều biết đến tôi. Tôi chính là vị Signora Psyche Zenobia đó đấy, người nổi tiếng lẫy lừng với tư cách là thư ký đối ngoại cho “Hiệp hội Phổ thông, Thử nghiệm, Thư mục, Phổ biến, Trà đạo, Khoái lạc, Thiếu niên, Văn chương, Trao đổi, Chính thống Philadelphia nhằm Khai hóa Nhân quần.” Tiến sĩ Moneypenny đã đặt cái tên này cho chúng tôi, và ông bảo rằng ông chọn nó vì nghe to tát như cái thùng rum rỗng vậy. (Một kẻ phàm phu có những lúc—nhưng ông ta rất thâm trầm.) Tất cả chúng tôi đều ký tên bằng các chữ cái đầu của hội sau tên mình, theo kiểu của R.S.A., Hoàng gia Hội Nghệ thuật—rất S.D.U.K., Hội Phổ biến Tri thức Hữu ích, vân vân và vân vân. Tiến sĩ Moneypenny bảo rằng chữ S. là viết tắt của từ cũ rích (stale), và D.U.K. đánh vần là con vịt (duck), (dù thực ra không phải vậy), rằng S.D.U.K. là viết tắt của Con Vịt Cũ Rích chứ không phải hội của Lãnh chúa Brougham—nhưng mà tiến sĩ Moneypenny cứ hay đùa cợt kiểu kỳ cục thế đấy nên chẳng bao giờ tôi biết chắc khi nào ông ấy nói thật. Dù thế nào đi nữa, chúng tôi vẫn luôn gắn vào sau tên mình dãy chữ cái P.R.E.T.T.Y.B.L.U.E.B.A.T.C.H.—nghĩa là Hiệp hội Phổ thông, Thử nghiệm, Thư mục, Phổ biến, Trà đạo, Khoái lạc, Thiếu niên, Văn chương, Trao đổi, Chính thống Philadelphia nhằm Khai hóa Nhân quần—mỗi chữ cái cho một từ, đúng là một sự cải tiến vượt bậc so với Lãnh chúa Brougham. Tiến sĩ Moneypenny cứ khăng khăng rằng các chữ cái đầu của chúng tôi thể hiện đúng bản chất thật—nhưng có chết tôi cũng chẳng hiểu ông ấy có ý gì.
Bất chấp sự giúp đỡ nhiệt tình của vị Tiến sĩ và những nỗ lực không mệt mỏi của hiệp hội nhằm gây tiếng vang, chúng tôi chẳng gặt hái được thành công đáng kể nào cho đến khi tôi gia nhập. Sự thật là các hội viên sa đà vào giọng điệu bàn luận quá hời hợt. Những bài luận được đọc vào mỗi tối thứ Bảy mang nặng tính hề hò hơn là chiều sâu. Tất cả chỉ là một thứ bông kem đánh bông hời hợt. Chẳng có sự nghiên cứu nào về nguyên nhân đầu nguồn, về nguyên lý nền tảng. Chẳng có sự đào sâu vào bất cứ thứ gì trên đời. Chẳng ai mảy may quan tâm đến cái điểm mấu chốt vĩ đại gọi là “sự thích ứng của vạn vật.” Tóm lại là chẳng có thứ văn chương kiều diễm nào thế này cả. Toàn là thứ văn hạ lưu—quá sức hạ lưu! Chẳng có chút uyên bác, chẳng có sự đọc rộng, chẳng có siêu hình học—chẳng có nổi thứ mà người học thức gọi là tính tâm linh, còn kẻ thất học lại chọn cách bêu riếu là lời sáo rỗng. [Tiến sĩ M. bảo tôi nên viết hoa chữ “Sáo rỗng” bằng chữ K—nhưng tôi thừa biết đường nào hơn.]
Khi tôi gia nhập hội, tôi đã nỗ lực hết sức để mang lại một lối tư duy và văn phong tao nhã hơn, và cả thế giới đều biết tôi đã thành công rực rỡ thế nào. Giờ đây, chúng tôi soạn ra những bài luận trong hội P.R.E.T.T.Y.B.L.U.E.B.A.T.C.H. hay chẳng kém gì những bài xuất hiện trên tạp chí Blackwood. Tôi nói là Blackwood, bởi vì tôi đã được bảo đảm rằng thứ văn chương tuyệt mỹ nhất về mọi chủ đề đều có thể được tìm thấy trong các trang của tờ tạp chí nổi tiếng lừng lẫy đó. Giờ đây, chúng tôi lấy nó làm khuôn vàng thước ngọc cho mọi đề tài, và nhờ thế mà danh tiếng đang nổi như cồn. Suy cho cùng, việc soạn ra một bài báo mang đậm chất Blackwood chính hiệu cũng chẳng phải chuyện gì quá khó khăn, miễn là người ta tiếp cận nó đúng cách. Dĩ nhiên là tôi không nói đến các bài chính luận. Ai mà chẳng biết chúng được xào nấu ra sao, kể từ khi Tiến sĩ Moneypenny giải thích điều đó. Ông Blackwood có một cái kéo của thợ may, và ba người thợ tập sự luôn túc trực bên cạnh chờ lệnh. Người này đưa cho ông tờ “Times,” kẻ kia đưa tờ “Examiner,” và người thứ ba đưa “Tuyển tập Tiếng lóng mới của Culley.” Ông B. chỉ đơn giản là cắt và dán ghép lẫn lộn vào nhau. Mọi việc xong xuôi nhanh chóng—chẳng có gì ngoài “Examiner,” “Tiếng lóng,” và “Times”—rồi lại “Times,” “Tiếng lóng,” và “Examiner”—và rồi “Times,” “Examiner,” và “Tiếng lóng.”
Nhưng giá trị lớn nhất của tờ Tạp chí nằm ở các bài viết tạp văn; và những bài hay nhất thuộc về loại mà Tiến sĩ Moneypenny gọi là những dị kỳ (dù từ đó nghĩa là gì đi nữa) và những người khác gọi là văn dòng xoáy cường điệu. Đây là một thể loại văn chương mà từ lâu tôi đã biết cách trân trọng, dẫu rằng mãi cho đến chuyến thăm gần đây của tôi tới chỗ ông Blackwood (với tư cách đại diện cho hiệp hội), tôi mới được chỉ cho biết phương pháp sáng tác chính xác của nó. Phương pháp này rất đơn giản, nhưng không đơn giản bằng mảng chính trị. Khi tôi ghé qua văn phòng ông B. và bày tỏ nguyện vọng của hội, ông tiếp đón tôi rất nhã nhặn, dẫn tôi vào phòng làm việc và giảng giải rành mạch toàn bộ quy trình.
“Thưa nữ sĩ kính mến,” ông nói, rõ ràng là bị ấn tượng bởi vẻ uy nghi của tôi, bởi vì tôi đang mặc chiếc váy sa-tanh đỏ thẫm, với những chiếc khuyết áo màu xanh và hoa anh thảo màu cam. “Thưa nữ sĩ kính mến,” ông tiếp lời, “xin hãy ngồi xuống. Sự tình là thế này: Trước hết, người viết văn dòng cường điệu phải có thứ mực thật đen, một cây bút thật to với ngòi thật tẹt. Và hãy ghi nhớ lời tôi, cô Psyche Zenobia!” ông tiếp tục sau một khoảng lặng, với dáng vẻ đầy nhiệt huyết và sự trang nghiêm biểu cảm nhất, “hãy ghi nhớ lấy!—cây bút đó—tuyệt đối—không bao giờ được vót lại! Thưa nữ sĩ, bí mật, linh hồn của dòng văn cường điệu nằm ở chính điểm này. Tôi cả gan khẳng định rằng chưa từng có một cá nhân nào, dù vĩ đại đến đâu, lại có thể viết ra một bài báo hay—xin hãy hiểu cho—bằng một cây bút tốt. Cô có thể đinh ninh rằng khi nào bản thảo còn đọc được thì lúc đó nó chẳng đáng đọc một xu. Đây là một nguyên tắc hàng đầu trong tôn giáo của chúng tôi, nếu cô không thể dễ dàng đồng tình với điều đó, thì cuộc trao đổi của chúng ta đến đây là kết thúc.”
Ông dừng lại. Nhưng dĩ nhiên, vì tôi chẳng có ý định chấm dứt cuộc gặp gỡ, tôi liền đồng ý với một tiền đề rành rành ra đó, và hơn nữa, là một điều mà từ trước đến nay tôi vẫn luôn lờ mờ nhận thức được. Ông có vẻ hài lòng và tiếp tục những lời chỉ bảo.
“Có lẽ hơi kỳ cục khi tôi, cô Psyche Zenobia, lại giới thiệu cho cô một bài báo hay một tập bài báo nào đó làm hình mẫu hay để nghiên cứu, nhưng có lẽ tôi vẫn nên lưu ý cô một vài trường hợp. Để tôi xem nào. Có bài ‘Kẻ Chết Sống Lại,’ một tuyệt tác!—ghi lại cảm giác của một quý ông khi bị chôn sống trước khi hơi thở kịp thoát ra khỏi cơ thể—tràn ngập hương vị, nỗi kinh hoàng, tâm tình, siêu hình học và uyên bác. Cô sẽ thề rằng tác giả sinh ra và lớn lớn lên trong một cỗ quan tài. Rồi chúng ta có ‘Lời thú tội của một kẻ nghiện thuốc phiện’—tuyệt diệu, vô cùng tuyệt diệu!—trí tưởng tượng hào hùng—triết học sâu sắc—suy luận sắc bén—tràn ngập lửa hận thù cuồng nộ, và được gia vị thêm một chút phần hoàn toàn khó hiểu. Đó là một mẩu phỉnh phờ hay ho, và trôi tuột xuống cổ họng công chúng một cách vô cùng thú vị. Họ cứ khăng khăng rằng Coleridge đã viết bài đó—nhưng không phải đâu. Nó được sáng tác bởi con khỉ đột cưng của tôi, Juniper, bên ly rượu gin Hà Lan ‘nóng, không đường.’” [Điều này có lẽ tôi khó lòng tin nổi nếu không phải do chính ông Blackwood quả quyết với tôi.] “Rồi có bài ‘Kẻ thực nghiệm bất đắc dĩ,’ kể về một quý ông bị nướng trong lò sấy, rồi bước ra ngoài vẫn sống nhăn và khỏe mạnh, dẫu cho có hơi chín tới một chút. Rồi có bài ‘Nhật ký của một vị danh y quá cố,’ nơi điểm sáng nằm ở những lời la lối sảng khoái và thứ tiếng Hy Lạp dở tệ—cả hai thứ đó đều rất được lòng công chúng. Và rồi có bài ‘Người đàn ông trong quả chuông,’ nhân tiện đây, thưa cô Zenobia, là một bài báo mà tôi không cách nào tán dương cho đủ để cô chú ý. Đó là câu chuyện về một thanh niên ngủ quên dưới quả lắc chuông nhà thờ, và bị đánh thức bởi tiếng chuông đổ hồi báo tử. Âm thanh ấy khiến anh ta phát điên, và thế là, lôi những tấm bảng sáp ra, anh ta ghi lại cảm xúc của mình. Cảm xúc mới là thứ quan trọng tột bậc xét cho cùng. Nếu sau này cô có bị chết đuối hay bị treo cổ, hãy nhớ ghi chép lại cảm giác của mình nhé—chúng sẽ đáng giá cho cô mười gu-giê một trang đấy. Nếu cô muốn viết cho có sức nặng, thưa cô Zenobia, hãy đặc biệt chú ý đến các loại cảm giác.”
“Chắc chắn tôi sẽ làm vậy, thưa ông Blackwood,” tôi đáp.
“Tốt!” ông đáp lại. “Tôi thấy cô là một học trò đúng gu của tôi đấy. Nhưng tôi phải làm cho cô nắm rõ các chi tiết cần thiết để soạn nên một bài báo chính hiệu kiểu Blackwood mang đậm dấu ấn cảm giác—thể loại mà cô có thể hiểu là tôi coi trọng nhất cho mọi mục đích.
Điều kiện tiên quyết đầu tiên là đẩy bản thân vào một hoàn cảnh khốn cùng chưa từng có ai vướng phải trước đó. Cái lò nướng chẳng hạn—đó là một cú mở màn hay. Nhưng nếu cô không có sẵn cái lò nướng hay chiếc chuông khổng lồ nào quanh đây, và nếu cô không tiện rơi khỏi khinh khí cầu, hay bị nuốt chửng bởi một trận động đất, hoặc bị mắc kẹt cứng ngắc trong ống khói, cô sẽ phải tự bằng lòng với việc tưởng tượng ra một tai nạn tương tự. Tuy nhiên, tôi vẫn thích cô có một sự kiện thực tế để làm điểm tựa hơn. Chẳng có gì hỗ trợ cho trí tưởng tượng tốt bằng một kiến thức thực tế về vấn đề trước mắt. ‘Sự thật thì kỳ lạ,’ cô biết đấy, ‘kỳ lạ hơn cả tiểu thuyết’—hơn nữa lại còn thiết thực hơn nhiều.”
Đến đây tôi quả quyết với ông rằng tôi có một đôi tất rất chắc chắn, và sẽ đi thắt cổ mình ngay lập tức.
“Tốt!” ông đáp, “cứ làm thế đi;—dù rằng việc treo cổ có hơi nhàm một tí. Có lẽ cô có thể làm tốt hơn thế. Hãy uống một liều thuốc viên của Brandreth, rồi sau đó kể cho chúng tôi nghe cảm giác của cô. Dẫu sao đi nữa, những hướng dẫn của tôi cũng áp dụng rất hiệu quả cho bất kỳ tai nạn rủi ro nào, và trên đường về nhà, cô có thể dễ dàng bị đánh bầm đầu, hoặc bị xe buýt chẹt qua, hay bị chó dại cắn, hoặc chết đuối dưới cống nước. Nhưng ta nói tiếp nhé.
Sau khi đã xác định được chủ đề, bước tiếp theo cô phải cân nhắc là giọng điệu, hay phong cách tường thuật của bài viết. Có giọng giáo huấn, giọng nhiệt huyết, giọng tự nhiên—tất cả đều quá đỗi tầm thường. Nhưng bên cạnh đó lại có giọng cô đọng, hay ngắn gọn, gần đây rất được ưa chuộng. Nó bao gồm những câu ngắn ngủn. Cứ đại loại thế này: Không thể ngắn hơn. Không thể cáu kỉnh hơn. Luôn có dấu chấm câu. Và không bao giờ có ngắt đoạn.
Rồi có giọng cao vút, lan man, và đầy thán từ. Một số tiểu thuyết gia cừ khôi nhất của chúng tôi rất chuộng giọng này. Các từ ngữ phải quay cuồng mòng mòng như con quay chóng chóng, và phát ra âm thanh ná ná như thế, điều này đóng vai trò thay thế cực kỳ hiệu quả cho ý nghĩa. Đây là phong cách tuyệt vời nhất trong mọi phong cách có thể khi mà người viết đang quá vội vàng chẳng kịp suy nghĩ.
Giọng siêu hình học cũng là một lựa chọn không tồi. Nếu cô biết bất kỳ từ ngữ to tát nào, thì đây là cơ hội để cô phô diễn chúng. Hãy bàn về các trường phái Ionia và Elea—về Archytas, Gorgias và Alcmaeon. Hãy nói điều gì đó về tính khách quan và tính chủ quan. Hãy nhớ mạt sát một kẻ tên là Locke. Hãy bĩu môi trước vạn vật nói chung, và khi cô lỡ thốt ra điều gì đó hơi ngớ ngẩn một chút, cô chẳng cần phải nhọc công gạch xóa nó đi, mà chỉ việc thêm một chú thích dưới trang và bảo rằng quan sát uyên bác trên là cô mượn từ cuốn ‘Kritik der reinen Vernunft,’ hay từ cuốn ‘Metaphysische Anfangsgründe der Naturwissenschaft.’ Điều này trông sẽ vô cùng uyên bác và—và—và chân thành.
Còn nhiều giọng điệu nổi tiếng khác nữa, nhưng tôi sẽ chỉ kể thêm hai loại—giọng siêu việt và giọng hỗn hợp. Ở giọng đầu tiên, điểm tinh tế nằm ở chỗ nhìn thấu bản chất sự việc sâu sắc hơn bất kỳ ai khác. Khả năng ngoại cảm này cực kỳ đắc lực nếu được vận dụng đúng cách. Đọc lướt qua một chút tờ ‘Dial’ sẽ đưa cô đi được một quãng đường dài. Trong trường hợp này, hãy tránh xa các từ ngữ to tát; hãy thu nhỏ chúng lại hết mức có thể, và viết chúng lộn ngược đầu xuống. Hãy lướt qua các bài thơ của Channing và trích dẫn những gì ông ấy nói về ‘một lão gã lùn mập mạp với vẻ hào nhoáng đánh lừa thị giác của Khả năng.’ Nhém thêm chút gì đó về Sự Hợp Nhất Tối Cao. Đừng hé răng nửa lời về Sự Nhị Nguyên Địa Ngục. Hơn hết thảy, hãy nghiên cứu nghệ thuật ám chỉ. Gợi ý mọi thứ—không khẳng định điều gì. Nếu cô cảm thấy muốn nói ‘bánh mì phết bơ,’ tuyệt đối đừng nói thẳng ra như thế. Cô có thể nói bất cứ thứ gì và mọi thứ tiệm cận với ‘bánh mì phết bơ.’ Cô có thể ám chỉ bánh kếp kiều mạch, hay thậm chí đi xa hơn để ngầm nhắc đến cháo yến mạch, nhưng nếu ý thực sự của cô là bánh mì phết bơ, hãy cẩn thận, cô Psyche thân mến, tuyệt đối không được thốt ra câu ‘bánh mì phết bơ’ dưới bất kỳ hình thức nào!”
Tôi đảm bảo với ông rằng chừng nào còn sống tôi sẽ không bao giờ thốt lại cụm từ đó nữa. Ông hôn tôi và tiếp lời:
“Còn về giọng hỗn hợp, nó chỉ đơn giản là sự pha trộn khéo léo, theo tỷ lệ cân bằng, của tất cả các giọng điệu khác trên đời, và do đó được cấu thành từ mọi thứ thâm trầm, vĩ đại, kỳ quái, cay cay, thích đáng và xinh xắn.
Bây giờ chúng ta hãy giả sử cô đã quyết định xong xuôi các tình tiết và giọng điệu. Phần quan trọng nhất—trên thực tế là linh hồn của toàn bộ công chuyện—vẫn còn phải được chú tâm xử lý—tôi đang muốn nói đến phần lấp đầy nội dung. Không thể cho rằng một tiểu thư, hay ngay cả một quý ông, lại vừa trải qua cuộc đời của một con mọt sách. Thế mà trên hết mọi thứ, bài báo của cô bắt buộc phải phảng phất hơi hướng uyên bác, hay ít nhất cũng phải cung cấp bằng chứng về việc đọc rộng biết nhiều. Giờ tôi sẽ chỉ cho cô cách hoàn thành công đoạn này. Nhìn đây!” (kéo xuống chừng ba bốn cuốn sách trông có vẻ bình thường, và mở ngẫu nhiên ra). “Chỉ cần liếc mắt lướt xuống hầu như bất kỳ trang nào của bất kỳ cuốn sách nào trên thế giới, cô sẽ có thể nhận ra ngay một loạt các mẩu tri thức hoặc châm ngôn dí dỏm nhỏ xíu, đúng là thứ hoàn hảo để làm gia vị cho một bài báo kiểu Blackwood. Cô nên ghi chú lại vài câu trong lúc tôi đọc cho cô nghe đây. Tôi sẽ chia làm hai loại: thứ nhất, Sự thật cay cay để tạo dựng các phép ẩn dụ, và thứ hai, Biểu cảm cay cay được đưa vào tùy theo hoàn cảnh yêu cầu. Viết đi!”—và tôi viết theo lời ông đọc.
“SỰ THẬT CAY CAY ĐỂ TẠO DỰNG PHÉP ẨN DỤ. ‘Ban đầu chỉ có ba nàng Mューズ—Melete, Mneme, Aœde—chiêm nghiệm, trí nhớ và ca hát.’ Cô có thể khai thác rất nhiều từ sự thật nhỏ bé đó nếu biết cách vận dụng. Cô thấy đấy, nó không phải là kiến thức phổ biến và trông rất uyên bác, tinh tế. Cô phải cẩn thận thể hiện điều đó với một vẻ ngẫu hứng hoàn toàn tự nhiên.
Lại nữa. ‘Con sông Alpheus chảy ngầm dưới biển, và trồi lên mà không hề tổn hại đến độ tinh khiết của làn nước.’ Nghe có vẻ hơi nhàu nhĩ rồi đấy, quả thực là vậy, nhưng nếu được trang hoàng và bày biện thỏa đáng, nó trông sẽ tươi mới chẳng kém gì thuở ban đầu.
Đây là thứ khá khẩm hơn. ‘Hoa diên vĩ Ba Tư đối với một số người tỏa hương thơm ngát và cực kỳ nồng nàn, trong khi với những người khác thì hoàn toàn không mùi.’ Hay ho thật đấy, và vô cùng tinh tế! Hãy xoay chuyển nó đi một chút, và nó sẽ làm nên những điều kỳ diệu. Chúng ta sẽ chọn thêm vài thứ thuộc lĩnh vực thực vật học nữa. Chẳng có gì dễ trôi hơn thế, nhất là khi có sự trợ giúp của một chút tiếng Latinh. Viết đi!
‘Loài hoa lan Epidendrum Flos Aeris ở đảo Java mang một bông rất đẹp, và vẫn sống nhăn khi bị nhổ bật cả rễ. Người bản địa treo nó lơ lửng bằng một sợi dây trên trần nhà, và thưởng thức hương thơm của nó ròng rã suốt nhiều năm trời.’ Quá đỉnh! Thế là đủ dùng cho các phép ẩn dụ. Giờ chuyển sang Biểu cảm cay cay.
BIỂU CẢM CAY CAY. ‘Cuốn tiểu thuyết trứ danh của Trung Hoa mang tên Ngọc Kiều Lệ (Ju-Kiao-Li).’ Tuyệt! Bằng cách khéo léo lồng ghép vài từ ngắn ngủn này, cô sẽ chứng tỏ sự am hiểu sâu sắc của mình về ngôn ngữ và văn chương của người Trung Quốc. Nhờ sự trợ giúp của cái này, cô có thể phớt lờ tiếng Ả Rập, tiếng Phạn hay tiếng Chickasaw luôn cũng được. Tuy nhiên, nếu không có tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp thì đừng mong qua cửa ải. Tôi phải kiếm cho cô vài mẫu của từng thứ một mới được. Bất kỳ mảnh vụn nào cũng dùng được tuốt, bởi vì cô phải dựa vào sự tài tình của chính mình để nhét nó sao cho khớp vào bài báo. Giờ thì viết đi!
‘Aussi tendre que Zaire’—mềm mại và dịu dàng như Zaire—tiếng Pháp. Ám chỉ sự lặp đi lặp lại thường xuyên của cụm từ la tendre Zaire trong vở bi kịch tiếng Pháp cùng tên. Nếu được giới thiệu đúng cách, nó sẽ không chỉ cho thấy sự am hiểu ngôn ngữ của cô, mà còn cả kiến thức đọc rộng và óc hài hước nữa. Chẳng hạn, cô có thể nói rằng con gà mà cô đang ăn (hãy viết một bài báo về việc bị hóc xương gà chết ngắc) không hoàn toàn aussi tendre que Zaire. Viết đi!
‘Van muerte tan escondida,
Que no te sienta venir,
Porque el plazer del morir,
No mestorne a dar la vida.’
Đó là tiếng Tây Ban Nha—trích từ Miguel de Cervantes. ‘Hãy đến nhanh lên, hỡi thần Chết! nhưng hãy nhớ đừng để ta thấy ngươi đang đến, kẻo niềm vui sướng ta cảm nhận được trước sự xuất hiện của ngươi lại bất hạnh lôi ta trở lại cuộc đời này.’ Cô có thể chèn câu này vào thật đúng lúc khi cô đang oằn mình giãy giụa trong những cơn hấp hối cuối cùng vì chiếc xương gà. Viết đi!
‘Il pover ‘huomo che non se’n era accorto,
Andava combattendo, e era morto.’
Đó là tiếng Ý, cô thấy đấy—trích từ Ariosto. Nó có nghĩa là một vị anh hùng vĩ đại, giữa lúc chiến trận ác liệt, không nhận ra rằng mình đã thực sự bị giết chết, vẫn tiếp tục chiến đấu một cách anh dũng, dẫu đã là một thây ma. Ứng dụng của câu này vào trường hợp của chính cô là quá rõ ràng—vì tôi tin rằng, thưa cô Psyche, cô sẽ không quên giãy đành đạch ít nhất là trong một tiếng rưỡi đồng hồ sau khi đã bị hóc xương gà cho đến chết đâu nhỉ. Xin hãy viết xuống nhé!
‘Und sterb’ich doch, no sterb’ich denn
Durch sie—durch sie!’’
Đó là tiếng Đức—trích từ Schiller. ‘Và nếu ta có chết, thì ít nhất ta cũng chết—vì nàng—vì nàng!’ Ở đây rõ ràng là cô đang độc thoại hướng về nguyên nhân gây ra thảm họa của mình, chính là con gà. Thật vậy, hỏi có gã đàn ông (hoặc quý cô) có óc phán đoán nào lại không muốn chết, tôi rất muốn biết, vì một con gà trống thiến béo múp míp chuẩn giống xứ Molucca, nhồi nấm và nụ cây caper, được dọn trong thau xà lách kèm thạch cam khảm mosaic cơ chứ. Viết đi! (Cô có thể mua được chúng theo kiểu đó ở tiệm Tortoni)—Làm ơn viết đi!
Đây là một cụm từ tiếng Latinh hay ho nho nhỏ, lại còn hiếm nữa (người ta không thể dùng tiếng Latinh quá tinh tế hay ngắn gọn đâu, vì nó đang dần trở nên quá phổ biến)—ignoratio elenchi. Hắn ta đã phạm phải một ignoratio elenchi—nghĩa là, hắn ta đã hiểu các từ ngữ trong mệnh đề của cô, nhưng lại không hiểu ý nghĩa. Hắn ta là một gã ngốc, cô thấy đấy. Một anh chàng khốn khổ nào đó mà cô đon đả bắt chuyện trong lúc đang nghẹn thở vì cái xương gà đó, và do đó hắn ta đã không hiểu chính xác những gì cô đang lải nhải. Hãy ném thẳng cái ignoratio elenchi vào mặt hắn, và thế là cô triệt tiêu được hắn ngay lập tức. Nếu hắn dám đáp trả, cô có thể trích lời Lucan cho hắn sáng mắt ra (đây này) rằng những bài diễn văn chỉ là anemonae verborum, những đóa hải quỳ ngôn từ. Hoa hải quỳ trông thì rực rỡ đấy, nhưng lại hoàn toàn vô hương. Hoặc nếu hắn ta bắt đầu lớn tiếng hống hách, cô có thể đè bóp hắn bằng câu insomnia Jovis, những giấc mộng của thần Jupiter—một cụm từ mà Silius Italicus (xem đây này!) dùng để chỉ những tư tưởng khoa trương và sáo rỗng. Chiêu này chắc chắn sẽ đâm thấu tim gan hắn. Hắn sẽ chẳng làm được gì ngoài việc lăn quay ra và chết tươi. Cô làm ơn viết lại được chứ?
Bằng tiếng Hy Lạp, chúng ta phải có vài câu thật tao nhã—chẳng hạn trích từ Demosthenes. Ανερο φευων και παλιν μαχεσεται. [Aner o pheugoen kai palin makesetai.] Có một bản dịch khá ổn của nó trong tác phẩm Hudibras—
‘Vì kẻ nào bỏ chạy có thể quay lại chiến đấu lần nữa,
Thứ mà kẻ bị giết rồi chẳng bao giờ làm được nữa.’
Trong một bài báo kiểu Blackwood, chẳng có gì tạo hiệu ứng thị giác tuyệt vời bằng tiếng Hy Lạp của cô cả. Bản thân các con chữ đã phảng phất một vẻ uyên bác thâm trầm rồi. Cứ ngắm mà xem, thưa nữ sĩ, cái vẻ tinh anh sắc sảo của chữ Epsilon đó kìa! Chữ Phi kia chắc chắn phải làm giám mục mất thôi! Đã bao giờ có một gã lanh lợi nào sánh kịp chữ Omicron đó chưa? Hãy tia ngay chữ Tau kìa! Tóm lại, chẳng có gì sánh bằng tiếng Hy Lạp cho một bài báo giật gân chính hiệu. Trong trường hợp hiện tại, việc áp dụng nó của cô là điều hiển nhiên rõ ràng nhất trên đời. Hãy quăng ra câu đó, kèm theo một lời thề nguyền rủa đại trà, xem như tối hậu thư giáng vào cái bản mặt đần độn vô tích sự của gã khốn không thể hiểu nổi tiếng Anh rành mạch của cô liên quan đến chiếc xương gà. Hắn sẽ hiểu ý ngay và cút biến cho mà xem, cô cứ tin tôi đi.”
Đó là toàn bộ những hướng dẫn mà ông B. có thể cung cấp cho tôi về chủ đề đang bàn, nhưng tôi cảm thấy chúng đã quá ư đầy đủ rồi. Cuối cùng tôi cũng có thể tự viết một bài báo đúng chuẩn Blackwood, và hạ quyết tâm thực hiện nó ngay lập tức. Khi chào tạm biệt tôi, ông B. đã đưa ra một lời đề nghị mua lại bài báo sau khi viết xong; nhưng vì ông ta chỉ có thể trả tôi năm mươi gu-giê một trang, tôi nghĩ thà để hiệp hội của chúng tôi giữ lại còn hơn là đem bán nó với một cái giá rẻ mạt như thế. Tuy vậy, bất chấp tinh thần keo kiệt đó, vị quý ông này vẫn thể hiện sự quan tâm chu đáo đến tôi về mọi mặt khác, và quả thực đã đối xử với tôi vô cùng nhã nhặn. Những lời từ biệt của ông đã để lại ấn tượng sâu sắc trong trái tim tôi, và tôi hy vọng mình sẽ luôn ghi nhớ chúng với lòng biết ơn vô hạn.
“Thưa cô Zenobia kính mến,” ông nói, trong khi ngấn lệ rưng rưng khóe mắt, “tôi còn có thể làm gì khác để thúc đẩy sự thành công trong công cuộc đáng khen ngợi của cô nữa không? Để tôi ngẫm xem nào! Rất có thể cô sẽ không kịp thời—để mà—tự kết liễu đời mình bằng cách chết đuối, hay—bị hóc xương gà, hoặc—hoặc bị treo cổ, hay—bị cắn bởi một—nhưng khoan đã! Nghĩ lại thì, ngoài sân có mấy con chó sũng rất cừ—tụi nó tuyệt lắm tôi đảm bảo đấy—hung dữ các thứ—đúng là vừa vặn cho khoản tiền của cô luôn—chúng sẽ ngoạm cô sạch bách, từ hoa anh thảo cho đến tất tần tật chỉ trong vòng chưa đầy năm phút (đồng hồ tôi đang điểm đây!)—và lúc đó cứ thử nghĩ đến cảm giác mà xem! Này! Tôi bảo này—Tom!—Peter!—Dick, cái đồ khốn kiếp kia!—thả mấy con đó ra—” nhưng vì tôi thực sự đang rất vội, và không còn một phút nào để lãng phí nữa, tôi đành miễn cưỡng đẩy nhanh tiến độ rút lui của mình và do đó đã cáo từ ngay lập tức—có phần đột ngột hơn một chút so với phép lịch sự tối thiểu cho phép, tôi xin thừa nhận điều đó.
Mục đích hàng đầu của tôi sau khi rời khỏi chỗ ông Blackwood là lao vào ngay một rắc rối nào đó, tuân theo lời khuyên của ông, và với viễn cảnh đó, tôi đã dành phần lớn thời gian trong ngày để lang thang khắp Edinburgh, tìm kiếm những cuộc phiêu lưu liều lĩnh—những cuộc phiêu lưu tương xứng với cường độ cảm xúc của tôi, và phù hợp với tầm vóc vĩ đại của bài báo mà tôi dự định viết. Trong chuyến du ngoạn này, đi cùng tôi có một người hầu da đen, Pompey, và chú chó cưng nhỏ Diana mà tôi đã mang theo từ Philadelphia. Tuy vậy, mãi cho đến tận chiều muộn tôi mới hoàn toàn thành công trong nhiệm vụ gian nan của mình. Một sự kiện quan trọng sau đó đã xảy ra mà bài báo kiểu Blackwood dưới đây, viết theo giọng hỗn hợp, chính là cốt lõi và kết quả của nó.