LYSANDER CẢM THẤY KHÓ CHỊU VÀ hoang mang một cách lạ lùng về bản thân anh khi đến ngày diễn ra triển lãm Vernissage của Udo Hoff. Anh ngủ không ngon và ngay cả khi cạo râu sáng hôm đó, anh vẫn cảm thấy kì dị và bồn chồn - sự căng thẳng thường thấy khi sắp đi dự triển lãm, và lần này, sắp được gặp lại Hettie Bul. Anh nhúng cây cọ nhỏ vào chén kem cạo râu và bắt đầu bôi kem lên hai má, cằm và xung quanh miệng. Khi mím môi và đưa dao cạo xuống dưới mũi, anh lại tự hỏi mình có nên để ria mép không. Không, cứ bình thường mà đến thôi, câu trả lời đến ngay lập tức. Anh đã từng thử một lần nhưng thấy không hợp; anh nghĩ nó khiến anh cảm thấy bẩn thỉu, như thể anh đã quên lau sạch đi một vết súp đuôi bò ở môi trên. Màu tóc nâu của anh lẽ ra phải là màu của ria mép mới đúng: Mày cần một sự tương phản nổi bật, anh nghĩ. Nó sẽ biện minh cho hàng ria mép trên khuôn mặt non choẹt này như thằng cha Munro ở đại sứ quán ấy, đen và gọn, như thể lão dán nó vào mép vậy.
Anh ăn diện có chừng mực, lựa chọn một bộ đồ nhẹ nhàng màu xanh hải quân, giày chuyên leo núi màu đen và một chiếc sơ mi trắng cổ cứng đi kèm với một cà vạt màu tím, có chấm tròn, thắt nhanh trong bốn bước. Thêm mấy mảng màu táo bạo để chứng tỏ tính nghệ sĩ trong anh. Cha anh hẳn sẽ không hài lòng - bản thân ông là người ăn mặc rất bảnh bao và đặc biệt, Halifax Rief luôn cho rằng năm phút là khoảng thời gian cần có để ai đó nhận ra phong cách của bạn, sự tỉ mỉ của bạn, và họ phải hiểu rằng điều ấy ẩn đằng sau lớp trang phục của một người đàn ông. Bất kì sự phô trương nào cũng đều trở nên khiếm nhã.
Lysander quyết định đến thăm Bảo tàng Lịch sử Nghệ thuật Vienna trên đường Burgring. Anh hiểu đó là một thử nghiệm hoàn toàn vô ích, nhưng nhờ đó, anh có thể tưởng tượng mình đang ở triển lãm của Hoff, một căn phòng đầy người, tất cả đều là chuyên gia bảo thủ về nghệ thuật, cổ điển lẫn hiện đại. Anh có thể nói gì với những con người trí thức, những nhà phê bình nghệ thuật, những nhà sưu tập và các chuyên gia ấy? Một lần nữa anh lại nhận thức được những lỗ hổng lớn trong phông văn hóa chung của mình. Anh có thể trích dẫn các trang thơ của Shakespeare, Marlowe, Sheridan, Ibsen, Shaw - hay ít nhất là những trích đoạn trong tác phẩm của các nhà soạn kịch anh đã học thuộc lòng trong sự nghiệp của mình. Anh đã đọc rất nhiều thơ ca thế kỉ XIX - những bài thơ anh yêu thích - nhưng anh biết rất ít về những gì được ca tụng là những người tiên phong”. Anh mua báo chí cập nhật các sự kiện trên thế giới, các hoạt động chính trị ở châu Âu chỉ ở chừng mực nhất định. Và anh nhận ra rằng ngay từ ấn tượng đầu tiên, anh đã là đại diện cho một hình mẫu cực kì hợp lí của một người đàn ông khôn ngoan, uyên bác và có giáo dục - nhưng anh cũng hiểu lớp ngụy trang này mỏng manh đến thế nào khi chạm trán với những người có trí tuệ thực sự. Mày là một diễn viên, anh tự rủa mình, thế nên hãy diễn cho thông minh vào! Anh nghĩ còn khối thời gian để trau dồi kiến thức, anh không phải là thằng ngu, có rất nhiều chất xám có sẵn ở ngoài kia. Trình độ học vấn thấp không phải lỗi của anh khi phải chuyển hết trường này sang trường khác. Quãng đời trưởng thành anh đã tập trung vào sự nghiệp ca hát - những buổi thử giọng, diễn tập, những vai nhỏ ngày càng chiếm phần quan trọng hơn. Chỉ trong vở cuối cùng, Bức Tối Hậu thư Si Tình, anh mới có thể được chính thức thừa nhận là một diễn viên chính - dù là thứ chính đi chăng nữa - tên anh cũng xuất hiện với cỡ chữ to không kém so với tên bà Cicely Brightwell trên áp phích quảng cáo. Một dấu ấn không thể tốt hơn cho thấy anh đã tiến xa đến đâu chỉ trong một vài năm, Cha anh hằn phải rất tự hào về anh.
Trong bảo tàng, anh thả bước qua các phòng trưng bày tranh lớn trên tầng một, nhìn những hình ảnh tối tăm, u ám được quét sơn dầu của các vị Thánh và Đức mẹ Đồng trinh, những vị thần tưởng tượng và những bức vẽ Chúa bị đóng đinh trên thập tự sầu muộn. Anh bước lại gần, đọc tên người nghệ sĩ phía dưới khung tranh, Cố gắng ghi nhớ. Caravaggio, Titian, Bonifazio, Tintoretto, Tiepolo. Đương nhiên anh biết những cái tên này và bây giờ anh có thể nói, “Ông có biết bức tranh Thần Vệ nữ và Adonis của Bordone không? Cả ngày hôm nay tôi chỉ nhìn chằm chằm vào nó - ồ vâng thật kì quặc - trong Bảo tàng Lịch sử Nghệ thuật này. Thật tuyệt vời, rất xúc động”. Anh bắt đầu thư giãn một chút. Rốt cuộc đó chỉ là một màn diễn, và đó là nghề của anh, biệt tài của anh, xu hướng của anh.
Anh tiếp tục thả bộ. Bây giờ tất cả các họa sĩ đều là người Hà Lan - Rembrandt, Franz Hals, Hobbema và Memling. Và đây là gì? Vụ Tấn công của những Tên trộm của Philip Wouverman. Tăm tối và mạnh mẽ, đám kẻ cướp da ngăm đen có trang bị những thanh đoản kiếm bạc và những mũi kích sắc nhọn. “Ông có biết tác phẩm của Wouverman không? Rất đáng kinh ngạc”. Các nghệ sĩ Đức đâu rồi nhỉ? À, họ đây rồi - Cranach, D’Pfenning Albrecht Durer… - Nhưng những cái tên bắt đầu nhảy múa lung tung và biến dạng trong đầu khiến anh cảm thấy một cơn mệt mỏi bất thần ào đến tấn công mình. Quá nhiều thứ nghệ thuật - phát ốm vì bảo tàng. Đã đến lúc hút thuốc và uống cà phê Capuchino. Trong đầu anh đã có đủ những cái tên để đứng vững trong bất kì cuộc nói chuyện phiếm thoáng qua nào - không giống như kiểu anh sắp được phỏng vấn xin việc làm quản lí bảo tàng, vì Chúa.
Anh thấy một quầy cà phê gần đường vành đai, ngả người tựa vào quẩy, hút một điếu Virgina và nhấp ngụm cà phê. Đúng là một đại lộ tuyệt vời, anh nghĩ - chẳng có đại lộ nào như thế ở London, Con phố mua sắm là đối thủ duy nhất nhưng so ra vẫn không bằng - những con đường lượn tròn dành cho xe chạy bao quanh thành phố cổ, sự quy hoạch thận trọng giữa các tòa nhà lớn và các cung điện, những công viên và các khu vườn. Rất đẹp. Anh nhìn đồng hồ đeo tay - vẫn còn hơn một tiếng nữa mới đến giờ có thể hợp lí tiến vào galery. Anh tự hỏi Udo Hoff trông sẽ thế nào. Anh hình dung chắc hắn phải rất tự phụ, giống hệt kiểu người có thể mê hoặc và gây ấn tượng như Hettie Bull.
Anh đi thong dong dọc đường vành đai về phía con tháp Rathaus cheo leo. Khi đến gần anh có thể nghe thấy giọng rất to đang quát tháo, đến gần hơn, anh thấy một đám đông vài trăm người đang tụ tập tại một công viên nhỏ trước mặt tòa thị chính thành phố. Một sân khấu bằng gỗ đã được dựng lên, cao khoảng hai mét, trên đó có người đàn ông đang phát biểu ầm ĩ qua một chiếc loa.
Những chiếc ô tô và xe ngựa chở khách lao nhanh khi ánh ngày dần tàn. Cuộc tháo chạy về nhà tránh tối bắt đầu. Các du khách trên các cỗ xe ngựa kéo chạy lọc cọc dọc mép vỉa hè trông như những dấu tích của một thời đại khác, Xe đạp ở khắp mọi nơi, chạy ngoằn ngoèo xuyên qua làn giao thông. Lysander băng qua đại lộ đến tháp Rathaus, thận trọng quan sát những chiếc xe đang đến gần và hòa vào đám đông đang thì thào.
Có vẻ tất cả bọn họ đều là dân lao động, và bị ép phải gấp rút đến dự cuộc họp này nên vẫn ăn mặc quần áo lao động đặc trưng. Các thợ mộc mặc đồ vải thô với những chiếc búa giắt lưng, thợ nề mặc tạp dề da, thợ may mặc đồ bảo hộ lao động áo liền quần, tài xế đeo bao tay dài và áo khoác chéo, công nhân lâm trường mang theo những chiếc cưa dài hai cán. Thậm chí có cả một nhóm mười hai người thợ mỏ, muội than đen sì, hàm răng họ vàng ệch trên những khuôn mặt nhọ, lòng trắng trong đôi mắt trông thật ảm đạm và buồn phiền.
Lysander đến gần hơn, tò mò, bị mê hoặc một cách lạ lùng bởi những khuôn mặt và bàn tay đen đúa ấy. Anh nhận ra đây là lần đầu tiên anh nhìn tận mặt những người thợ mỏ gần đến vậy, trái ngược hẳn với những hình ảnh của họ trên các tờ báo và tạp chí. Họ tập trung chú ý vào người đang quát tháo về công việc và tiền lương, về chuyện lao động người Slavơ nhập cư đang xén bớt những khoản thu nhập chính đáng của lao động người Áo. Những tiếng reo hò và vỗ tay vang dội khi bài diễn văn ngày càng mang tính kích động hơn, Một người đàn ông đâm sầm vào anh rồi xin lỗi, rất lịch sự, nếu không muốn nói là nồng nhiệt.
Lysander quay lại: “Không sao mà”, anh đáp.
Người này còn trẻ, tuổi chớm hai mươi, đội chiếc mũ phớt xám, không có dải ruy băng, mái tóc đen dài phủ xuống cổ áo - chòm râu không cạo loang lổ. Thật lạ kì vì thời tiết thì đẹp nhưng anh ta lại đang mặc một chiếc áo khoác ngắn bằng cao su màu vàng dành cho người đi xe đạp. Lysander nhận thấy anh ta không mặc áo sơ mi trong áo khoác - một kẻ lang thang điên rồ - cái mùi khó chịu của sự nghèo đói phả ra từ người anh ta.
Những tiếng reo hò inh tai lại rộ lên từ đám đông tán thưởng trước vài câu nói hóm hỉnh của người diễn thuyết.
“Họ chẳng hiểu gì cả đâu”, áo khoác đi xe đạp hăng hái nói với Lysander. “Những lời nói trống rỗng, không khí sôi sùng sục”.
“Những nhà chính trị”, Lysander đáp, mở to mắt tỏ vẻ đồng cảm, “thế cả thôi mà. Những từ ngữ rẻ tiền”. Anh đang bắt đầu để ý thấy những cái liếc mắt về phía mình. Cái thằng cha đeo cà vạt chấm tròn đang nói chuyện với thằng điên kia là ai thế nhỉ? Đến lúc đi rồi. Anh bước ra khỏi đám thợ mỏ - những con tinh tinh da đen đi lên từ thế giới ngầm đang nhìn ngắm thành phố hiện đại. Bất đồ Lysander cảm thấy ý tưởng về một bài thơ lớn dần lên trong đầu.
Galery Bosendorfer-Renz nằm bên phải đường Graben. Lysander ban đầu còn ngập ngừng đứng cách đó vài mét, theo dõi những vị khách đi vào - anh cần những người khác đi cùng để cảm thấy an toàn. Anh đến gần cửa, thư mời cầm tay, nhưng dường như chẳng có ai buồn kiểm tra danh tính các khách mời nên anh bỏ thư vào túi áo, theo sau cặp vợ chồng già đi vào một nơi giống một cửa hàng đồ cổ hơn là một galery nghệ thuật. Trong căn phòng đầu tiên là hai chiếc ghế chạm khảm và một bức tranh tĩnh vật Hà Lan đặt trên một giá vẽ (mấy quả táo, nho và đào với một con ruồi thận trọng đậu trên đó trông thật quen thuộc). Ở phía sau căn phòng là một hành lang - những ánh đèn sáng rực bắt mắt và những tiếng thì thào đang dần to hơn. Lysander hít một hơi thật sâu và đi thẳng vào trong.
Đó là một căn phòng rộng trần cao như một nhà kho được sửa sang và thắp sáng bằng ba ngọn chúc đài treo. Những đoạn vách ngăn dài bằng gỗ lắp trên các bánh xe nhỏ ngăn cách không gian. Rất nhộn nhịp, khoảng bốn mươi đến năm mươi người đã đến, thấy thế Lysander lấy làm mừng anh có thể thả lỏng toàn thân. Những bức vẽ sơn dầu của Hoff ở tít trên các móc treo; đây đó có những bức điêu khắc nhở và các mô hình nằm trên những cột chân tường cao đến ngực. Anh quyết định đi quanh phòng thật nhanh xem các bức họa, nói lời chào với cô Bull, chúc mừng Hoff và biến vào bóng đêm, xong nghĩa vụ.
Mới nhìn qua, tác phẩm của Hoff có vẻ như tuân theo quy ước và không có ngoại lệ - những phong cảnh, cảnh quan thành phố, một hai tấm chân dung. Nhưng xem xét kĩ hơn, Lysander để ý thấy những hiệu ứng ánh sáng lạ lùng và tinh tế. Một cảnh đồng cỏ với khu rừng xa xa có vẻ như đang tắm trong chùm những ánh sáng hình cung mạnh mẽ. Những bóng phủ một màu đen dày đặc, phân chia giới hạn rõ rệt, biến toàn bộ khung cảnh tầm thường này thành một cái gì đó đe dọa như trong sách Khải huyền. Nó khiến bạn phải tự hỏi cái ánh sáng rực rỡ nào trên bầu trời kia đã gây ra thứ ánh ngũ sắc đầy đe dọa như thế. Một mặt trời Sahara chiếu sáng trên thung lũng miền Bắc Âu. Có một cảnh mặt trời lặn trong kì dị và khủng khiếp đến mức như thể chính bầu trời đang mắc bệnh và rữa nát. Trong một bức về quang cảnh thành phố - Ngôi làng trong Tuyết - Lysander chợt nhận ra hai ngôi nhà không có cửa ra vào, không có cửa sổ, và nhà thờ làng có một chữ ”O” tròn trên gác chuông thay cho dấu thánh giá. Những bí mật gì bị che giấu ở trong ngôi làng bình thường này thế nhỉ?
Khi đi quanh phòng chiêm ngưỡng những khác thường độc đáo này, Lysander thấy rằng anh đang ngày càng ấn tượng với những hình ảnh xiên lệch, âu lo của Hoff. Bức tranh lớn nhất là một chân dung khổ lớn của một người phụ nữ trang điểm đậm, mặc áo dài thêu, ngồi trên một cái ghế - Chân dung GustlCantor xứ Canstro nhưng phải nhìn đến lần thứ hai mới thấy được chiếc áo dài trong lòng bà ta không cài cúc, để lộ ra xương mu. Đầu nhọn của mái tóc đen có vẻ như là một phần của mô típ diềm trang trí trên chiếc áo dài thêu đẹp lộng lẫy. Khi ngắm kí bức tranh này, Lysander cảm thấy ớn lạnh thực sự vì sốc khi nhận ra mình đang nhìn cái gì. Ánh mắt chằm chằm thẳng thừng của người đàn bà có khuôn mặt khô khan này như chỉ tập trung trực tiếp vào anh, biến anh hoặc trở thành kẻ đồng lõa với hành động phô trương tình dục của bà ta - bà cởi nút áo chỉ vì anh - hoặc giả anh là một kẻ nhìn trộm bị bắt quả tang.
Anh quay đi và thấy một bồi bàn đang đi quanh, bưng khay đựng mấy cốc rượu. Lysander tự lấy một cốc - là rượu Riesling hơi nặng. Anh đi tránh sang một góc phòng để theo dõi đám đông phần lớn mọi người mải nói chuyện hơn là ngắm những tác phẩm hội họa của Udo Hoff. Anh tự hỏi ai là Hoff. Bạn có thể nhận ra các nghệ sĩ - một người đầu nhẵn thín, một người không mang cà vạt, một người có râu mặc chiếc áo khoác văng đầy sơn như thế vừa bước ra từ studio. Thật vô lí khi tự để lộ mình một cách rõ ràng đến thế, Lysander nghĩ - không xuất sắc. Tuy nhiên anh không thấy bóng dáng Hettie Bull đâu cả.
Anh đặt chiếc cốc không lên bàn và dừng bước, liếc nhìn vào thứ đang treo trên những bức vách ngăn di động. Anh giật mình đứng lại, gần như thấy tức cười trước những gì anh được thấy tiếp theo. Khi rẽ vào một góc phòng để tìm hiểu cái gì ở mặt kia vách ngăn chứa đầy các họa tiết chai lọ, bình cỡ nhỏ, viền khung, anh thấy mình đứng trước một bức biếm họa, thiết kế nguyên bản - tấm áp phích của một nhà hát, Chính là nó - một người phụ nữ bán khỏa thân hai tay ôm ngực khi một con quái vật hình rồng có khuôn mặt ác độc đang chồm lên, như một con lươn có vảy như vảy cá, đe dọa cô ta - một con mắt màu cam sáng rực và một cái lưỡi chẻ đôi của rắn thẻ rộng về hướng bộ phận sinh dục của cô. Trên đó viết dòng chữ “ANDROMEDA VÀ PERSEUS[*] một trong bốn vở Opera của Akten von GOTTLIEB TOLLER“. Vậy là Udo Hoff đã thiết kế tấm áp phích báng bổ này, những mảnh còn lại của thứ này anh đã thấy ở khắp nơi tại Vienna… Một bí ẩn được giải đáp. Đó là Perseus, không phải Persephone.
Lysander bước lùi lại để nhìn cho rõ hơn. Không nghi ngờ gì nữa, đó là một hình ảnh gây khiêu khích và tranh cãi. Cổ và đầu con quái vật xếp vảy cá với con mắt thối tha độc nhất. Ngay cả một tay tư sản ngây thơ nhất cũng có thể hiểu điều gì được biểu tượng hóa ở đây, chắc chắn là vậy. Và người phụ nữ được khắc họa trong tranh, Andromeda, dường như…
“Anh đã từng thấy nó chưa?”. Một giọng của người Anh - âm sắc Manchester.
Lysander quay lại. Bác sĩ Bensimon đã đứng đó trong bộ đồ buổi tối - thắt nơ bướm màu trắng, áo đuôi tôm - chòm râu của ông mới được cắt tỉa gọn gàng. Họ bắt tay nhau. Lysander thấy thật lạ lùng khi gặp bác sĩ của mình ở đây, nằm ngoài bối cảnh quen thuộc. Rồi anh nhớ lại, cô Bull cũng là một bệnh nhân của ông.
Bensimon rõ ràng cũng có những dòng suy nghĩ tương tự. “Chẳng ngờ được gặp anh ở đây, anh Rief. Nó khiến tôi nhớ lại lần đầu tiên tôi gặp anh”.
“Cô Bull mời tôi”.
“À. Tất cả đã được giải thích”. Ông lại nhìn tấm áp phích và chỉ tay vào nó “Vở kịch này chỉ diễn được ba buổi ở Vienna - tại một quán rượu tên là Địa ngục - die Holle. Đó là nơi duy nhất có treo tấm áp phích này. Thế rồi nó bị chính quyền cấm”.
“Bị cấm à? Sao thế?”
“Khiếm nhã một cách trắng trợn. Nhắc anh nhớ, về mặt âm nhạc thôi, hẳn tôi cũng đã cấm nó, Trường phái vô điệu thức[*] gào thét quá sức chịu đựng. Richard Strauss hóa ngớ ngẩn rồi”. Ông mỉm cười. “Tôi rất khó tính với duy nhất một thứ, đó là âm nhạc. Tôi thích một giai điệu đẹp”.
“Điều gì là khiếm nhã trong chuyện này?”
“Cô Bull”.
“Cô ta hát à?”
“Không không. Cô ta là một dạng như Andromeda. Anh không nhận ra sự tương đồng trong bức chân dung à? Anh biết câu chuyện thần thoại đó rồi: Andromeda bị xích vào mấy tảng đá cạnh bờ biển để hiến tế cho một con quái vật biển, Cetus. Perseus đến kịp lúc, giết chết Cetus, giải cứu cô và họ cưới nhau, bla bla. Giọng nữ cao đảm nhận vai Andromeda - tôi quên mất tên rồi - có thể dễ dàng được xem là một võ sĩ quyền Anh hạng nặng. Thế nên Toller nảy ra ý tưởng một Andromeda phụ cho cảnh quái vật tấn công - chính là cô Bull của chúng ta. Có một màn kịch bóng thực sự rất ấn tượng - hiệu ứng múa rối bóng phương Đông, con quái vật bằng cách nào đó được chiếu lên tấm phông - rất to lớn. Ở phía trước sân khấu, Perseus đứng hát một khúc aria giọng nam cao dài đến mức tưởng như bất tận - chắc phải đến hai mươi phút - trong khi Andromeda đang bị đe dọa. Người hát giọng nữ cao rời khỏi sân khấu khóc than và gào thét. Chỉ có thể tả bằng một từ thôi, chói tai”.
Lysander tò mò: “Vậy thì điều gì là khiếm nhã đối với vai Andromeda của Cô Bull?”
“Cô ta hoàn toàn trần truồng”.
“Ồ. Tôi hiểu. Đúng rồi, phải…”.
“Mà cô ta chỉ đứng cách lớp khói mờ nửa trong suốt ấy cả vài thước thôi. Phải nói là chẳng còn gì để tưởng tượng nữa”.
“Cô ấy rất dũng cảm”.
“Không thiếu tính táo bạo đâu, cô Bull của chúng ta ấy. Mà nữa, anh có thể hình dung được sự phẫn nộ. Sự ồn ào, hỗn loạn. Họ đóng cửa nhà hát, xé nát hết các tấm áp phích mà anh có thể tìm thấy. Toller tội nghiệp bị buộc đủ thứ tội - đồi bại, vi phạm thuần phong mĩ tục, khiêu dâm. Ông ta bị ném đá”, Bensimon nhún vai. “Thế nên mới tự sát”.
“Cái gì?”
“Phải. Tự treo cổ ở nhà hát trong quán Địa ngục. Một lời tuyên bố rất bi kịch. Và dĩ nhiên là buồn thảm nữa”.
Họ đứng đó vài giây nhìn tấm áp phích trong im lặng. Lysander nhận ra sự tương đồng rõ nét với Hettie Bull, bây giờ anh nhìn vào mặt Andromeda thay vì cơ thể trần trụi của cô.
“Tốt hơn là tôi nên đi”, Bensimon nói, “Tôi có tổ chức một bữa tối trang trọng nên phải chuẩn bị. Có hàng tá bác sĩ được mời, khốn khổ thân tôi. Anh đã gặp cô Bull chưa?”
“Chưa”, Lysander đáp. Họ cùng nhìn quanh phòng. Lysander bất ngờ trông thấy cô - dáng người bé nhỏ. Anh chỉ tay: “Cô ta kia rồi”.
“Chúng ta nên đến chào”, Bensimon nói và họ đi về phía cô.
Hettie Bull đang đứng cùng ba người đàn ông. Khi cùng Bensimon đi qua đám đông về phía cô, Lysander thấy rằng cô mặc chiếc quần chẽn kiểu đáy xệ căng màu đỏ hồng, một áo khoác sa tanh màu đen ngắn với các nút áo lóng lánh như kim cương, có cổ áo và cà vạt. Mái tóc của cô búi lỏng trên đầu và cố định bằng rất nhiều cái lược mai rùa. Một chiếc túi vải đính hoa lủng lẳng trên vai cô qua quai túi viền vàng dài đến gần đầu gối. Khi cô quay lại chào họ, Lysander nghe thấy tiếng leng keng rất nhỏ từ dưới đất vọng lên. Nhìn xuống, anh thấy những chiếc chuông bạc nhỏ đính vào mũi giày cô. Bensimon chào tạm biệt và rời đi. Hettie Bull quay về phía Lysander với đôi mắt to màu nâu lục nhạt.
“Anh nghĩ gì về những bức tranh của Udo?” cô hỏi.
“Tôi thích chúng. Rất nhiều. Đúng tôi rất thích”.
Cô chăm chú nhìn thẳng vào anh nhưng tâm trạng có vẻ bình tĩnh, thanh thản. Có lẽ cô đã dùng thêm ít thuốc của bác sĩ Bensimon. Trông cô hơi có vẻ ái nam ái nữ trong chiếc áo khoác nhỏ, với cổ áo và cà vạt,
“Thế thì đích thân anh phải nói cho anh ấy biết”, cô nói rồi bỏ đi với tiếng bước chân leng keng đến vỗ vào khuỷu tay một người đàn ông đứng cách đó vài bước, đang tiếp chuyện hai phụ nữ đội mũ mềm, rộng vành. Hettie đưa anh ta đến.
“Udo Hoff - Ngài Lysander Rief”.
Lysander bắt tay anh ta. Hoff có thân hình thấp đậm, vạm vỡ ở tuổi ba mươi, lùn hơn Lysander, ngực và đôi vai rất rộng, đầu cạo trọc và bộ râu màu nâu đỏ nhạt trông rất nổi bật. Anh ta có vẻ quá cơ bắp, giống các diễn viên biểu diễn thể lực trong rạp xiếc, hàng cúc cài chặt trên áo sơ mi ngoài như muốn bật tung, cái cổ dày của anh ta như căng lên trong chiếc cổ áo.
“Ngài Rief cũng là bệnh nhân của bác sĩ Bensimon”, Hettie giải thích. “Chúng em gặp nhau như thế đấy”.
Lysander ngay lập tức ước gì cô đừng có giải thích. Vì Hoff nhìn anh từ đầu đến chân với thái độ thù địch mới mẻ và một điều gì đó như khinh bỉ thoáng qua trên nét mặt.
“À, phương thuốc của người Vienna”, anh ta nói, “Có phải đây là mốt thời trang mới nhất ở London không?” Anh ta nói giọng Anh nặng trịch.
“Không. Không hề”, Lysander đáp, có ý phòng thủ, Người đàn ông dường như thích khiêu khích anh. Vì thế - dịu dàng, quyến rũ. Anh phải cố gắng thật dễ chịu và tốt đẹp, bà K hẳn sẽ tự hào về anh lắm.
“Tôi thật sự ngưỡng mộ các tác phẩm của anh - rất ấn tượng. Hấp dẫn nhất đấy”.
Hoff phác một cử chỉ quái quỷ bằng gan bàn tay như thể một con ruồi đang quấy rầy anh ta.
“Anh yêu thích thành phố của chúng tôi đến mức nào?” anh ta hỏi bằng một giọng đều đều. Lysander tự hỏi đây là một trò đùa hay là một bài kiểm tra. Anh quyết định xem nó như một bài kiểm tra thật sự.
“Rất nhiều. Tôi chỉ đang nghĩ về buổi tối nay, khi đi dọc đường vành đai để đến đây. Thật ấn tượng làm sao. Thành phố được thiết kế to rộng một cách khác thường đến mức sẽ không thể tìm thấy trong…”
“Anh thích đường vành đai không?” Hoff hỏi, hoài nghi.
“Thật ra tôi nghĩ nó…”
“Nếu thế anh phải nhận ra những tòa nhà này chỉ mới vài chục năm tuổi thôi?”
“Tôi đã đọc kĩ sách hướng dẫn rồi…”
Hoff thật sự chọc ngón tay vào cánh tay Lysander, lông mày cong hình dấu mũ trong một cái nhíu mày đau khổ lạ lùng.
“Tôi ghét cay ghét đắng đường vành đai”, Hoff lên tiếng, một chút run rẩy trong giọng nói. “Đó là một trò giả dối của bè lũ tư sản lố bịch. Tấn công đôi mắt, khiến người ta không thể cảm nhận được cái gì là đúng, không cảm nhận được những giá trị cơ bản nhất. Tôi luôn nhắm mắt lại khi nhìn thấy đường vành đai. Những tòa nhà mới đang khoác tấm mặt nạ cổ xưa và đáng kính. Thật đáng xấu hổ. Chúng tôi những nghệ sĩ Vienna phải sống trong cái cảm giác xấu hổ bao lâu nay”. Anh ta lại chọc vào cánh tay Lysander như để nhấn mạnh thêm và bước đi.
“Chúa lòng lành… Thật tiếc về chuyện này”, Lysander nói với Hettie. “Tôi không biết đó là một chủ đề nhạy cảm”.
“Không, kiểu nghệ sĩ chúng tôi không phải là loại “yêu” đường vành đai”, cô đáp, rồi hạ giọng nói thêm, “Nhưng tôi phải nói là tôi thích nó đấy”.
“Ở đây lại như thế nhỉ. Chẳng có gì giống như thế ở London”.
Cô ngước mặt lên nhìn anh. Cô ta thật giống con trai, Lysander nghĩ, mình cảm thấy mình có thể nhấc bổng cô ta lên chỉ bằng một tay.
“Khi nào thì tôi sẽ được vẽ anh đây?” cô nói. “Anh vẫn chưa rời khỏi thành phố, đúng không?”
“Không - vẫn chưa có kế hoạch. Thực tế mọi thứ vẫn đang diễn ra ổn thỏa với bác sĩ Bensimon - tôi sẽ lưu lại đây ít nhất thêm một tháng nữa”.
“Vậy thì ghé studio của tôi vào một buổi chiều nào đó đi, tôi có thể làm những phác họa ban đầu”. Cô lục lọi trong chiếc túi nhỏ rồi viết nguệch ngoạc địa chỉ lên một mẩu giấy nháp.
“Nó nằm ở ngoại ô. Anh có thể đáp tàu hỏa đến Ottakring và đi bộ đến chỗ tôi. Lần đầu nếu muốn chắc chắn anh có thể bắt taxi. Thứ Hai lúc bốn giờ nhé?”
“À, được”, Lysander nhìn địa chỉ, Thế này có thông minh không? - nhưng anh đã liều lĩnh một cách lạ lùng: “Cảm ơn cô”.
Cô đặt tay lên cánh tay anh. “Tuyệt vời. Anh có một khuôn mặt thú vị nhất đấy”. Cô liếc nhìn quanh. Tốt hơn tôi nên đi tìm Udo để phòng anh ấy trở nên điên rồ hơn. Hẹn gặp anh vào thứ Hai”. Cô mỉm cười và bước đi, tiếng chuông leng keng nhanh chóng mất hút trong tiếng nói chuyện xì xào.