VÀO CUỐI THÁNG CHÍN, LYSANDER thu xếp gặp gỡ Hettie trong một kì nghỉ cuối tuần dài ở Linz. Họ không cùng nhau đi đến đó và để tránh bị phát hiện, mỗi người thuê một phòng riêng ở khách sạn Goldener Adler. Hettie nói với Hoff rằng cô muốn ngắm nhìn con đường nối bằng đá cẩm thạch đã được khai quật tại một mỏ đá gần Urfahr và có vẻ anh ta chẳng nghi ngờ gì cả.
Lysander cho rằng thay đổi bằng cách đi xa khỏi Vienna sẽ tránh gây ra những nghi ngờ. Những chiều chộp giật và những đêm hiếm hoi của họ luôn chìm trong mối lo âu ngấm ngầm - nỗi sợ bị phát hiện. Không chỉ là mối nguy từ việc Hoff tìm thấy họ bên nhau - mà nguy hiểm có thể dễ dàng đến từ một người hàng xóm hay một người bạn bất ngờ đi ngang qua. Hai đêm liền ở bên nhau như những cặp tình nhân thực sự hẳn sẽ ảnh hưởng đến tâm trạng của họ. Mọi thứ rồi sẽ khác đi. Lysander mê mẩn trước viễn cảnh này, nhưng ban đầu Hettie có vẻ bực bội và căng thẳng đến lạ lùng. Lần đầu tiên anh thấy cô tiêm thuốc của Bensimon. Cô đổ một ít bột trắng từ cái phong bì nhỏ vào một cốc nước để tạo thành một dung dịch, sau đó đổ đầy vào ống tiêm, nhẹ nhàng tiêm vào mạch máu chỗ khớp khuỷu tay, một cách rất chuyên nghiệp.
“Thuốc này gọi là gì thế?”
“Cô ca”.
“Có đau không?”
“Chẳng đau chút nào cả. Nó khiến em bình tĩnh lại”, cô giải thích. “Khiến em tự tin hơn và chắc chắn về bản thân mình hơn”.
“Không phải là moóc phin đúng không?”
“Anh có thể mua nó tại hiệu thuốc. Nhưng anh phải để lại tên tuổi và địa chỉ em không muốn thế nên em đã lấy thuốc ở chỗ bác sĩ Bensimon. Dù sao ông ấy luôn nói là thuốc của mình có chất lượng tốt hơn”.
Thuốc có hiệu quả nhanh chóng. Chẳng bao lâu sau, cô đã mỉm cười và hôn anh. Cô nói rằng mình đã có một trận “tranh cãi nảy lửa” với Hoff trước khi bỏ đi và điều đó khiến cô trở nên bất an. Trên chuyến tàu đến Linz, cô tin rằng có ai đó theo dõi mình nên quyết định đi đường vòng từ nhà ga đến khách sạn để cắt đuôi bất kì kẻ nào bám theo.
“Em cảm thấy hoàn toàn tả tơi và căng thẳng”, cô nói, “Nhưng giờ thì không thế nữa. Em bình tĩnh lại rồi. Thấy không? Anh muốn thử một chút không?”
Lysander vòng tay ôm lấy cô. “Nếu anh mà cảm thấy bất kì hạnh phúc nào hơn nữa, anh sẽ nổ tung mất”. Anh hôn cô. “Em chính là liều thuốc của anh, Hettie. Anh chẳng cần thuốc gì nữa đâu”.
“Bác sĩ Freud cũng dùng cô ca đấy”, cô nói, hơi có chút đề phòng. “Thế nên Bensimon mới biết về nó”.
Họ đi bộ dọc theo lối dạo chơi bên sông Danube và ăn món bánh quy Linzer Torte tại Volksgarten, nơi một ban nhạc đang chơi các bản hành khúc. Quay về phòng của Lysander - căn phòng quá rộng đối với cả hai người - Hettie cởi quần áo anh, áo sơ mi và cà vạt, cởi thắt lưng và cởi những vạt áo cài cúc của anh. Đó là việc cô thích làm, cô nói thế trước khi trút bỏ quần áo của mình. Đối với Lysander, đó là một tiếng vọng vô thức của ngày đầu tiên ấy, cái ngày chứng rối loạn cực khoái cảm rời bỏ anh mãi mãi, thế nên anh chẳng phàn nàn gì hết.
Vào ngày Chủ nhật, anh nắm lấy cơ hội đến Linz tìm kiếm cô em họ của mẹ anh - bà Hermine Gantz. Mẹ đã cung cấp địa chỉ khi anh nói muốn gặp một vài họ hàng người Áo của mình. Anh sẽ gọi đến và để lại danh thiếp, nhưng mọi người ở ngôi nhà trên đường Burger Strasse chưa hề nghe nói về một bà Gantz nào cả. Lysander cho rằng mẹ anh hẳn đã nhầm lẫn - rốt cuộc bà đã không sống ở Áo suốt hơn hai mươi năm rồi.
Ngày hôm sau khi hai người gói ghém va li để quay về Vienna, anh thấy Hettie lại chuẩn bị một dung dịch cô ca. Để đề phòng, cô nói, Hoff có thể vẫn đang trong tâm trạng tồi tệ - anh ta là người rất nóng tính.
Anh yêu Lysander của em,
Không được đâu. Em sẽ không quên được hẹn ước của chúng ta đâu. Đừng nghĩ về em nữa, hãy nghĩ cho bản thân anh đi. Hãy tìm lại sức khỏe của anh, bản chất tốt đẹp, nhân hậu của anh đi rồi quay về nhà với cô bé của anh. Em yêu anh, Người Yêu của em, và nếu em không thể ở bên anh lúc anh gặp rắc rối và đau khổ, vậy thì với anh, em là một người vợ kiểu gì? Không không ngàn lần không? Chúng ta là dành cho nhau, trong khi em ủng hộ sự ngọt ngào và vô tư của anh, cho phép em “từ bỏ những lời thề nguyền của em”. Em sẽ không bao giờ muốn nghe anh nhắc về chuyện này nữa. Hãy tận dụng thời gian của anh đi, tình yêu của em, mọi khoảng thời gian mà anh cần thêm ba tháng nữa, sáu tháng nữa, một năm nữa. Em sẽ đợi chờ anh. Ai cũng bảo với em rằng Vienna có những bác sĩ giỏi nhất thế giới thế nên em chắc chắn anh hoàn toàn ở đúng chỗ để tìm được những câu trả lời đúng đắn. Em sắp xé nát lá thư của anh và đốt cháy nó ngay bây giờ đây (London giờ này đang lạnh thấu xương, em đốt lò sưởi ngay cả trong bữa sáng). Coi như chuyện này chưa bao giờ xảy ra, anh chưa bao giờ viết lá thư ấy, em chưa bao giờ đọc nó, tình yêu của em dành cho anh là không đổi thay và chắc chắn như “Trụ đá Gibraltar” (anh hiểu ý em mà).
Dành tặng anh tất cả tình yêu nồng nàn nhất của em, người yêu của em.
Của riêng anh, Blanche.
Quán cà phê Sorgenfrei trở thành bưu điện của họ. Đó là nơi của người Bôhêmiêng[*], khá bẩn thỉu trong một con phố nhỏ gần Hoher Markt. Hoff đã bị cấm lui tới quán này khi anh còn là sinh viên luật và đã thề sẽ không bao giờ bước chân vào đây nữa, Hettie nói vậy. Thế thì hoàn hảo rồi. Cô sẽ để lại các tin nhắn cho Lysander phía sau quầy bar - về nơi chốn và địa điểm họ có thể gặp gỡ khi cô nghĩ là an toàn. Lysander liên lạc với cô cũng theo cách đó. Thi thoảng anh để lại một tin nhắn đơn giản nói rằng “Anh phải gặp em” và nói tên một khách sạn tồi tàn gần nhà ga xe lửa hoặc nhìn ra con kênh Danube. Anh nói rằng anh đã thuê được một căn phòng trong hai ngày. Do đó anh hi vọng cô có thể tìm được đường đến đó. Lúc nào cũng vậy, cô đều làm theo lời anh, điều đó khiến Lysander lo lắng rằng Hoff sẽ ngày càng nghi ngờ về những lần đến và đi này. Cô bảo đừng lo, hắn chỉ biết nghĩ cho bản thân mình thôi. Chừng nào hắn còn không thấy khó chịu mỗi lần cô đi vắng, hắn sẽ hoàn toàn chẳng quan tâm đến việc cô đang làm gì hay đang ở đâu.
Người con gái trong những giấc mơ tôi
Bạn ơi có biết cô ấy không?
Nàng mỉm cười dưới những hạt sương lóng lánh
Khi bình minh chiếu sáng, át ánh trăng mờ
Và trên bầu trời những vì sao cũng nhạt phai
Đôi khi ta thấy nàng tắm trong ánh mặt trời rực rỡ
Khúc hát nhẹ nhàng của nàng được làn gió mơn man
Đôi mắt nàng mở to thấp thoáng điều huyền diệu
Nụ cười mang sắc màu của biển cả bao la
Trong mắt ta, nàng mãi là người xinh đẹp nhất
Rất đáng yêu và đẹp đến mê hồn
Nếu đặt cho nàng một cái tên, có thể
Nàng là ai rồi bạn sẽ biết thôi:
Nàng đáp lại chữ “Yêu” - nàng chính là Em đấy.
Lysander triển khai một kế hoạch tự biên tự diễn trong những ngày rỗi rãi khi không có các cuộc gặp với Hettie. Không thể cứ lang thang hàng giờ ở các quán cà phê viết thơ tình nên anh tự đặt ra cho mình một chương trình cần mẫn tự học. Anh tăng số lượng các bài học tiếng Đức với ông Barth và cũng bắt đầu các buổi học đối thoại bằng tiếng Pháp - mà anh đã đạt đến trình độ nhất định - với một giáo viên về hưu, ông Fuchs, người sống cách Mariahilfer Strasse vài khối nhà.
Mỗi ngày anh đều đến thăm rất nhiều bảo tàng của Vienna, đi xem các vở nhạc kịch và các buổi hòa nhạc thính phòng, đi xem triển lãm tại các galery nghệ thuật và lang thang khắp thành phố mang theo cuốn sách hướng dẫn, đi đến mọi nhà thờ mà cuốn sách giới thiệu, Thi thoảng anh làm một chuyến du lịch cuốc bộ trên các đường mòn cũ ở Wienerwald hoặc đi dọc theo đường mòn lên các đỉnh núi xa. Một tay cầm bản đồ, một tay chống cây gậy gỗ tần bì chắc khỏe,
Wolfram cuối cùng cũng rời khỏi nhà nghỉ - đúng với mong ước hiển nhiên của bà K - ông gia nhập lại vào trung đoàn, chuẩn bị cho các cuộc diễn tập đầy kịch tính tại Galicia. Một buổi chia tay đầy cảm xúc nhưng ông ta và Lysander thỏa thuận vẫn giữ liên lạc với nhau, dù giờ đây mỗi người một phương trời xa cách. Wolfram đã hứa sẽ ghé qua vào kì nghỉ phép kế tiếp. “Chúng ta sẽ đến Spittelberg, uống cho say và tìm cho mỗi thằng hai cô nàng trẻ đẹp”. Người thuê nhà thế chỗ ông là một kĩ sư trung niên tên là JosefPlischke. Lầm lì, thẳng thắn nhưng hơi khoa trương, anh ta đúng là một người bạn đồng hành hoàn hảo của bà K trong các bữa tối. Lysander đã chuyển các suất ăn tại nhà nghỉ thành các bữa sáng, viện cớ tiền ít và tránh phải nói thẳng với bà K rằng anh đã chán đến tận cổ. Anh phải để dành tiền, Chúa ơi, anh nói với bà K, và điều đó là đúng - ngân quỹ của anh đang eo hẹp. Cuộc tình của anh với Hettie đang ngốn một khoản kha khá - cái gì anh cũng phải chi trong khi cô hoàn toàn lệ thuộc Hoff về tiền bạc. Lysander hiểu Hoff là một kẻ giàu có đáng kinh ngạc nhờ vào khoản thừa kế cũng như giá tiền các bức tranh đầy mê hoặc của hắn đang tăng lên không ngừng.
Lysander gửi một bức điện về cho mẹ để hỏi xem bà có chuyển cho anh thêm được 20 bảng nữa không.
Mùa đông đến với tất cả sức mạnh của nó vào tháng Mười hai - sương giá và những trận mưa tuyết nặng nề - và lò sưởi trong kho thóc cũ, với kích cỡ nhỏ đến đáng sợ đã cho thấy nó không đủ khả năng cung cấp hơi ấm. Khi ở lại đó, Lysander phải lội phăng tấm đệm khỏi giường, kéo lê đến tận phòng chính, đặt trước lò sưởi, hai cửa đôi mở ra để có thể nhìn thấy lửa.
Hettie nài nỉ anh đến dự bữa tiệc mừng năm mới ở studio của Hoff. Lúc đầu Lysander rất miễn cưỡng nhưng Hettie đã động viên anh.
“Thậm chí nếu anh đến còn ít gây nghi ngờ hơn ý, anh không thấy à? Hắn không nghi ngờ một điều gì hết. Anh phải đến - em muốn hôn anh lúc Giao thừa”.
Thế nên Lysander đi dự và cảm thấy lạc lõng trước đám đông ầm ĩ các nghệ sĩ, các ông bầu và chủ các galery. Anh đi sát vào các góc phòng studio, hài lòng với việc để mắt đến Hettie khi cô đi khắp phòng với chiếc quần chẽn Balinese, áo vest kẻ ca rô và đôi giày chuông kêu leng keng. Udo Hoff dường như không biết anh là ai - vài lần khi bốn mắt gặp nhau, Hoff nhìn anh như nhìn một kẻ xa lạ khác trong nhà mình.
Ngay sau nửa đêm, Hettie dẫn anh xuống một con ngõ nhỏ tối om, kềnh càng sột soạt nào là áo khoác, khăn quàng cổ rồi mũ. Và cô hôn anh, lưỡi cô nằm sâu trong miệng anh, hai tay anh đặt trên ngực cô. Vài giây sau đèn bật lên và Hoff xuất hiện, rõ ràng đã say mèm. Hettie vội tìm áo khoác. “À anh yêu đây rồi, ông Rief sắp về - ông ấy muốn đến nói lời chào tạm biệt anh”.
“Sẽ dễ tìm áo khoác hơn khi em bật đèn lên”.
“Ông Rief không tìm được công tắc”.
Lysander và Hoff bắt tay nhau. Hoff bây giờ mới nhìn anh chăm chú, cho dù hơi thiếu tập trung.
“Cảm ơn vì bữa tiệc tuyệt vời”, Lysander nói.
“Ông là người Anh đúng không?”
“Vâng. Là tôi”.
“Chúc ông năm mới vui vẻ. Việc chữa bệnh của ông sao rồi?”
“Phải nói là - Tôi được chữa khỏi hoàn toàn rồi. Đúng, tôi nghĩ nên nói thế”.
Hoff chúc mừng anh và sau đó đề nghị Hettie giúp anh ta tìm thêm sâm banh. Khi anh ta quay lưng, Hettie tặng Lysander một nụ hôn gió rồi bước đi cùng Hoff. Năm phút sau, Lysander tìm được chiếc áo khoác, mũ và lang thang trên đường vẫn còn run rẩy vì thoát chết trong gang tấc. Một câu chuyện tình không phải một vòng cung trước kia anh đã từng nghe ai đó nói thế, nó là một đường thẳng luôn biến thiên không ngừng trên một đô thị - nhấp nhô và lởm chởm. Nó không mềm mại, tuy nhiên người ta được hưởng thụ rất nhiều vui thú từ nó, ngày này qua ngày khác. Anh tiến thẳng đến đường lái xe vào nhà. Tuyết vẫn đang rơi, những bông tuyết to mềm mại, đường đến nhà ga trước mặt anh trắng xóa tuyết, không hề có vết xe, thế giới đang đi vào tĩnh lặng, âm thanh bị bóp nghẹt khi những hồi chuông xa cuối cùng vẫn tiếp tục ngân lên trong năm 1914.
“Tôi nghĩ anh đã đúng”, Bensimon nói. “Chúng ta đã làm mọi thứ - đã trải qua mọi thứ. Chúng ta cũng có thể thừa nhận và nhớ lại nó vào một ngày nào đó”.
“Tôi không biết nói thế nào để cảm ơn ông, bác sĩ ạ. Tôi đã học được rất nhiều”.
“Anh tuyệt đối tin rằng vấn đề của mình đã hoàn toàn biến mất”.
Lysander ngừng lại - đôi khi anh tự hỏi có phải Bensimon đang bóng gió ám chỉ anh và Hettie đang là tình nhân của nhau. Làm sao có thể nói thẳng với ông ấy rằng Hettie có thể chứng minh vấn đề của anh đã hoàn toàn biến mất, hàng tá hàng tá lần? Dĩ nhiên cô ấy vẫn đang là bệnh nhân của Bensimon.
“Phải nói là những trải nghiệm hiện thời - khiến tôi tin rằng tất cả đều đang suôn sẻ”.
Bensimon mỉm cười như hai người đàn ông với nhau trong một thoáng, ông như gỡ bỏ chiếc mặt nạ chuyên môn bí hiểm của mình,
“Tôi rất mừng khi Vienna đã mang lại những sự đền bù khác”, ông nói, khô khốc, tiễn anh ra cửa. “Tôi sẽ ghi lại trường hợp của anh nếu anh không phiền - những phương thuốc điều trị chứng rối loạn cực khoái cảm rất đáng để viết thành tài liệu - và giới thiệu tại hội nghị lần tới của chúng tôi, có thể xuất bản thành tập san tri thức nào đó”. Ông mỉm cười. “Đừng lo, tên anh sẽ được ẩn đi bằng chữ cái đầu hoặc dùng tên giả. Chỉ anh và tôi mới biết người đang được nói đến là ai”.
“Tôi rất muốn đọc nó”, Lysander đáp.“Tôi sẽ cho ông địa chỉ của tôi - nhà riêng của tôi. Lúc nào tôi cũng có thể về đó”.
Họ bắt tay nhau và Lysander cảm ơn ông lần nữa. Anh thích bác sĩ Bensimon. Anh kể cho ông những bí mật sâu kín nhất của mình và cảm thấy có thể hoàn toàn tin tưởng con người này - dẫu vậy anh phải thừa nhận rằng mình chả biết một tí gì về ông.
Anh thanh toán khoản tiền cuối cùng với cô thư ký cứng nhắc. Cô ta gượng cười khi họ bắt tay từ giã. Giờ anh đang thả những bước quen thuộc từ phòng khám trên phố Wasagasse dọc theo đường Franzenring. Anh nhận ra đây là lần cuối cùng, tuy có hơi buồn nhưng đồng thời anh thấy vui khi đạt được hoàn toàn mục tiêu cơ bản khi đến Vienna. Wolfram đã nói gì nhỉ? Có một “dòng sông tình dục” đang chảy dưới thành phố này. Đó là sự cứu rỗi của anh - cùng với trạng thái song song của bác sĩ Bensimon. Anh đã đúng, cuộc sống nên đơn giản hơn, con đường trước mắt hãy còn chưa rõ ràng, kể từ khi đến đây mọi thứ chỉ thêm trăm lần phức tạp. Anh đã có Hettie tại Vienna và Blanche tại London và chắc chắn anh chẳng biết mình nên làm gì.
Anh bước qua một quán cà phê lớn - quán Landtmann - và nhận ra suốt mấy tháng đi qua, anh chưa một lần bước vào, anh liền quay lại. Quán này rộng rãi và giản dị, hơi mờ nhạt và lớn hơn các quán anh thường ghé qua - anh nghĩ đây là một nơi để đến vào mùa hè và ngồi trên vỉa hè. Anh chọn chỗ ngồi trong quán nhìn ra dòng giao thông đang tấp nập trên đường vành đai, đốt thuốc, gọi một ly cà phê, một ly brandy và mở cuốn sổ tay Những cuộc Điều tra Tự thuật của Lysander Rief. Anh lật nhanh qua các trang dày đặc chữ, những mô tả về các giấc mơ, những bản nháp các bài thơ - cuốn sổ này là một di sản khác trong thời gian anh ở Vienna. Bensimon đã thúc giục anh tiếp tục viết như là một phần trong phương pháp trị liệu của anh. “Có vẻ hơi sáo rỗng và không hợp lý”, Bensimon đã nói, nhưng sau vài tháng trôi qua, , anh hãy đọc lại và sẽ cảm thấy rất tuyệt cho xem”.
Quán cà phê tĩnh lặng, thi thoảng bị cắt ngang bởi những tiếng ồn ã của bữa trưa, những dấu ấn của thành Vienna trong ngày, và những người đến đầu tiên gọi cà phê và bánh ngọt vào buổi chiều. Các bồi bàn đánh bóng dao kéo và xếp các khăn ăn, những người khác thì phủi bụi các khăn trải bàn bằng vải lanh hoặc tì tay lên các quầy phục vụ tán gẫu. Từ đâu đó ở đằng sau vọng lên tiếng bát đĩa sứ lanh canh xếp chồng lên nhau. Chủ nhà hàng thận trọng chải tóc, áp chiếc khay bạc lên tường như một chiếc gương. Lysander nhìn quanh - quán rất vắng khách nhưng rồi mắt anh tập trung vào một người đàn ông ngồi cách đó mấy bàn - mặc một bộ đồ bằng vải tuýt, chiếc cà vạt theo kiểu cổ, đang đọc báo và hút xì gà. Lysander đoán ông ta gần sáu mươi tuổi, mái tóc xám chải mượt; chòm râu trắng như cước được cắt tỉa rất khéo. Lysander bỏ cuốn sổ xuống và thong dong bước đến.
“Tiến sĩ Freud”, anh nói. “Xin lỗi đã quấy rầy nhưng tôi chỉ muốn được bắt tay ông. Tôi đã được một trong những học trò của ông bác sĩ Bensimon, trị bệnh rất thành công”.
Freud nhìn lên, gập tờ báo lại và đứng dậy. Hai người bắt tay nhau. “À, John Bensimon”, Freud nói, “một người Anh khác của tôi. Chúng tôi tuy có bất đồng nhưng anh ta là người tốt”.
“Vâng, dù gì đi nữa tôi cũng đã có những buổi gặp gỡ phân tâm học rất quý giá với ông ấy. Tôi biết ông ấy kính trọng ông nhiều thế nào - ông ấy nhắc đến ông suốt”.
“Cậu là người Anh à?”
“Vâng. Một nửa thôi. Nửa còn lại là người Áo”.
“Vậy điều gì giải thích cho tiếng Đức sành sỏi của cậu thế?”
“Cảm ơn ông”. Lysander lịch sự bước một bước về phía sau, định đi khỏi. “Thật là vinh dự cho tôi được bắt tay ông. Tôi sẽ không quấy rầy ông đọc báo nữa đâu”.
Nhưng Freud có vẻ như không muốn chấm dứt cuộc đối thoại. Bằng một chút cử chỉ với điếu xì gà, ông đã ngăn anh lại.
“Cậu đã gặp gỡ bác sĩ Bensimon trong bao lâu?”
“Vài tháng ạ”.
“Và cậu đã được chữa khỏi?”
“Phải nói là - tôi cảm thấy - chừng nào tôi còn quan tâm thì vấn đề căng thẳng thần kinh của tôi đã thuộc về dĩ vãng rồi”.
Freud hít một hơi xì gà, suy nghĩ. “Rất nhanh đấy”, ông nói, “rất ấn tượng”.
“Chính nhờ lí thuyết về trạng thái song song của ông ấy mà cuối cùng đã khiến mọi thứ khác biệt. Thật tuyệt vời”.
“Ồ”trạng thái song song”, Freud nói gần như giễu cợt: “Tôi sẽ không bình luận gì đâu. Chúc cậu một ngày tốt lành. Chúc cậu mạnh khỏe”.
Bản thân ông ấy là một người vĩ đại, Lysander nghĩ, quay về chỗ và thấy vui khi mình có đủ can đảm tiếp cận ông ta. Nhất định đây là cuộc gặp gỡ cho những hồi ức.
Anh không gặp Hettie đã bốn ngày rồi, anh nhớ cô quay quất. Anh nhẩm tính thật ra anh không gặp cô đã một tuần rồi. Đó là khoảng thời gian dài nhất họ xa nhau kể từ khi bắt đầu chuyện tình. Anh viết vội một tin nhắn cho cô và quyết định đến ngay quán Sorgenfrei. Có thể cô ấy cũng sẽ để lại cái gì đó cho anh. Những con phố ngoài kia tuy lạnh nhưng không buốt giá và tuyết năm mới đang bắt đầu tan. Những chiếc xe đi ngang qua làm bắn tung tóe những rác rưởi màu nâu lên chân các khách bộ hành đi quá sát lòng đường.
Thận trọng đứng nhìn dòng xe đi qua, Lysander tự hỏi mình có nên học lái xe không. Có thể đó là một khóa học khác của anh tại Vienna – rồi anh nhận ra mình không chịu nổi học phí các khóa học lái xe. Anh vừa trả trước bà K tiền nhà tháng sau nên chỉ còn lại hơn 100 curon. Anh đã hủy hai giờ học tiếng Đức và tiếng Pháp cho đến khi có thông báo tiếp và lại đánh điện về xin mẹ thêm tiền. Việc này khiến anh cảm thấy xấu hổ - anh nghĩ tại sao mẹ anh lại phải chu cấp cho chuyện tình của anh với Hettie. Anh tự thừa nhận rằng mình đang sống những tuần cuối cùng này trong trạng thái lấp lửng giữa việc tự quyết định về bản thân và chẳng quyết định gì hết, hạnh phúc thả trôi, lang thang trong hiện tại. Vấn đề là - anh nhận thấy rất khó tưởng tượng về một tương lai không có Hettie - anh phải đối mặt với nó một khi túi tiền rỗng tuếch và buộc phải quay về London. Có phải đây mới là sự bắt đầu không? Đam mê tình dục phủ bóng đen lên tình yêu? Tệ hơn nữa là trong suốt bao nhiêu tuần lễ đắm đuối trong tình yêu, bất chấp tất cả những sự yêu mến và những lời thú nhận tình cảm mạnh mẽ dành cho nhau, cô ấy vẫn chưa hề nói một câu về chuyện rời bỏ Hoff.
Làm gì đây? Anh ép mình đi qua cánh cửa tự động của quán Sorgenfrei, huých khuỷu tay gạt tấm rèm nhung nặng nề sang bên để tránh gió lùa. Làn khói xám bay trong không khí khiến đôi mắt anh nhức nhối khi đến gần quầy để trao phong thư. Có một tay bồi bàn trẻ mặc áo gilê màu nâu sẫm - cậu ta tên gì nhỉ? - với chòm râu quai nón theo kiểu lính kị binh ngớ ngẩn.
“Chào ngài Rief," cậu ta nói, nhận lá thư của Lysander. “Chúng tôi có cái này cho ngài”. Cậu ta đưa tay xuống dưới quầy, lôi ra một gói bưu kiện phẳng có dây buộc. Lysander cảm thấy một niềm vui nhỏ dâng tràn. Chúa phù hộ cho Hettie - chắc chắn đúng lúc này họ đang nghĩ về nhau. Anh gọi một ly Riesling và cầm gói bưu kiện đến chiếc bàn cạnh cửa sổ. Anh thận trọng mở ra thì thấy bên trong có một lời nhạc kịch. Andromeda và Perseus một trong bốn vở Opera của Akten Von Gottlieb Toller. Bìa sách màu mè sao chép tấm áp phích của Hoff - Hettie trong tư thế trần truồng. Anh lật các trang tưởng tượng một mẩu giấy sẽ rơi ra, khi không thấy gì anh quay lại trang đề tựa tìm kiếm một lời nhắn. Có rồi; “Gửi Lysander, với trọn tình yêu của em, Andromeda”. Và anh đọc thấy bên dưới là một loạt những dòng chữ đặc biệt:
Có những khi tôi hoàn toàn tự tin vào số phận của HB.
Nhưng có những lúc tôi thấy rằng
Mình không hoàn toàn thành thật
Nông cạn
Trước mặt là hai con đường
Hèn nhát.
Xét theo tình hình tài chính của mình, Lysander tự hỏi tại sao lại quyết định trả thêm 2 curon nữa cho bữa tối đêm ấy với bà K và Josef Plischke. Có lẽ anh chỉ muốn có thêm bạn, tuy nhiên anh cảm thấy khó chịu và tầm thường. Món chính - sau món súp rau cải với bánh mì nướng - là Tafelspitz, Lysander nghĩ đó là món thịt bò hầm dành cho người già, được chế biến từ nhiều ngày trước, có thể được ninh hàng giờ trên một bếp lò trong căn bếp không nhìn thấy được. Tuy vậy nước thịt vẫn rất nhiều và thịt thì dai ngoách và có xơ. Plischke ăn uống nhiệt tình, ca tụng cách nấu nướng của bà K bằng một giọng nịnh hót điệu nghệ, khiến bà mãn nguyện nở nụ cười dễ chịu trên đôi môi mỏng dính.
Khi họ nói chuyện về một buổi trình diễn trên không vào mùa hè này tại Aspern với hàng tá chiếc máy bay, Lysander nhẩm trong đầu những khoản tiền của mình - anh đã đánh điện về cho mẹ hai ngày trước xin thêm 20 bảng nữa. Nếu may mắn, số tiền này sẽ đến ngân hàng của anh vào ngày mai, nếu may mắn thêm nữa và chi tiêu cẩn thận, khoản tiền ấy có thể giúp anh cầm cự thêm một hoặc hai tháng. Anh quyết định không nghĩ về chuyện sẽ xảy ra sau khi lại lâm vào cảnh hết tiền. Có thể anh nên thử tự đi kiếm việc làm - có thể là dạy tiếng Anh cho người Áo chăng? Nhưng còn hai tháng nữa ở Vienna nghĩa là thêm hai tháng nữa với Hettie. Anh thấy hơi sốc khi nhận ra bản thân đang bắt đầu hoạch định cuộc sống cho mình quanh Hettie.
Có tiếng đấm cửa rất mạnh và anh nghe thấy Traudl ra mở cửa. Trong một thoáng, anh tưởng tượng đó có thể là Wolfram, say lè nhè, đến đây để mang anh tới vùng biên giới của Spittelberg.
Traudl xuất hiện ở cửa phòng ăn, mặt đỏ và run rẩy.
“Thưa bà”, cô nói rất nhỏ. “Đó là cảnh sát”.
Mặt bà K tái đi trong cái nhếch mép giận dữ khi uy tín căn nhà nghỉ của bà bị xâm phạm, và đi ra ngoài sảnh. Plischke chọc cái tăm vào miệng, tìm kiếm những miếng thịt bò hầm của món Tafelspitz còn sót lại. Lysander nhìn hắn ta - cái vẻ điềm tĩnh này được khoác lên khá nhanh chóng. Ngươi đang định làm gì thế, Josef Plischke
Bà K lại xuất hiện trên ngưỡng cửa.
“Họ muốn gặp anh, Rief”.
Lysander lập tức đưa ra dự đoán và cảm thấy ruột anh cuộn lên. Mẹ anh. Chết: Ốm nặng? Anh thấy không khỏe và ném khăn ăn lên bàn.
Có ba cảnh sát trong sảnh. Đồng phục màu xám, thắt lưng da màu đen. Những chiếc mũ gắn huy hiệu, lưỡi trai, sáng bóng với đầu bẹt. Một người mặc chiếc áo choàng ngắn, ông ta chào và tự giới thiệu mình là Thanh tra Strolz.
“Anh là Lysander Rief?”
“Vâng. Có chuyện gì thế? Có vấn đề gì sao?”
“Tôi e là vậy”. Strolz mỉm cười, vẻ tiếc nuối. “Anh bị bắt”.
Lysander nghe thấy tiếng thở dốc kinh hoàng của bà K vọng từ cửa nhà ăn phía sau.
“Chuyện này hoàn toàn lố bịch, Các người bắt tôi về tội gì chứ?”
“Hiếp dâm”.
Lysander nghĩ ngay rằng anh có thể đổ gục xuống. “Đúng là chuyện nực cười. Rõ ràng là đã có nhầm lẫn”.
“Vui lòng đi với chúng tôi. Không cần phải còng tay nếu anh làm chính xác những gì chúng tôi yêu cầu”.
“Tôi có thể lên phòng lấy đồ được không?”
“Dĩ nhiên”.
Lysander về phòng mình, đầu óc quay cuồng, cứ đặt giả định rồi lại bác bỏ. Anh đứng đó lạnh toát người - Strolz đang đứng nhìn anh từ ngưỡng cửa - Cố gắng nghĩ ra những gì anh có thể cần. Áo choàng, mũ, ví. Cuốn sổ tay? Không. Anh bất ngờ cảm thấy rất sợ hãi, cô độc và nảy ra một ý tưởng. Anh lục lọi trong ngăn kéo bàn, tìm thấy thứ mình cần.
Anh quay ra sảnh, tránh nhìn vào mắt bà K xin Strolz cho phép nhắn lại đôi lời với ông bạn Barth.
“Càng nhanh càng tốt”.
Strolz đứng đằng sau khi Lysander gõ cửa phòng Barth và nghe ông nói vọng ra: “Chờ một chút”, sau đó là, “vào đi”.
Lysander thấy rằng suốt bao nhiêu tháng ngày sống cạnh nhau, đây mới là lần thứ hai anh vào căn phòng ngủ chật hẹp của Barth. Anh thấy hai chồng những tờ nhạc bướm đang lung lay như sắp đổ, hai giá nhạc đang phơi bộ quần áo lót may liền bằng len ẩm. Chiếc đại phong cầm to đùng nằm trong hộp ở góc nhà cạnh chiếc giường nệm đã lún xuống và tấm khăn phủ thêu phía trên.
“Tôi nghe thấy ai đó nói “cảnh sát” đúng không Rief? Họ không đuổi theo tôi đấy chứ?”
“Không. không. Tôi mới là người bị bắt - một lầm lẫn khủng khiếp - nhưng tôi phải đi với họ. Ông có thể liên hệ với người này và nói rằng tôi bị bắt không? Tôi rất biết ơn ông. Họ sẽ biết phải làm gì”.
Anh trao cho ông tấm danh thiếp của Alwyn Munro. “Ông ta ở Đại sứ quán Anh”.
Ông Barth cầm lấy tấm danh thiếp, cười toét miệng nghĩ đến cuộc giải cứu này.
“Cứ tin ở tôi, cậu Rief. Việc đầu tiên tôi sẽ làm vào sáng mai”. Ông liếc nhìn qua vai Lysander nhận thấy Strolz đang đứng đó cách vài bước, và hạ thấp giọng: “Chúng là những thằng ngu ngốc, dốt nát. Chỉ được cái lịch sự cực kì, đó là tất cả những gì chúng hiểu. Chúng sẽ bị ấn tượng đấy. Cậu sẽ không sao đâu”.
Lysander đi ra thì thấy cửa trước đang mở. Bà K đứng cạnh cửa, hai bàn tay xiết chặt vào nhau, một cái nhìn căm ghét rõ nét nhằm thằng người đàn ông đã mang sự nhục nhã này đến cửa nhà bà.
“Đó là một lầm lẫn khủng khiếp”, Lysander nói khi đi ngang qua bà, theo sau là ba cảnh sát. “Tôi chẳng làm gì cả. Mai tôi sẽ quay về”.
Nhưng có điều gì đó mách bảo rằng anh sẽ không về và anh cũng hiểu điều ấy, chẳng có nhân chứng nào hết. Bà K hẳn rất muốn tát vào mặt anh.
Ba cảnh sát đưa anh xuống gác rồi dẫn tới một chiếc xe chở phạm nhân đang đỗ trên điểm giao với đường Mariahilfer Strasse. Họ mở cửa sau và anh trèo vào. Nhìn qua cửa kính nhỏ có chấn song, không có khung ở một bên, anh thấy khung cảnh thành Vienna ngập tuyết vút qua - nhà hát opera, cung điện Hofburg, nhà hát Hofburg- tất cả các đài tưởng niệm của thành phố cũ/ thành phố mới rực sáng như trong một tấm kính nhìn nổi - cho tới khi họ đến đồn cảnh sát trên đường Schottenring.