LYSANDER HẮNG GIỌNG, khịt mũi, xin lỗi mọi người và cầm kịch bản lên. Mùa hè, phấn hoa ở khu vườn bên ngoài bay vào khiến anh hắt hơi. Anh có thể thấy Gilda Butterfield ngồi đầu kia chiếc bàn dài đang đưa tay quạt lấy quạt để cái cổ ẩm ướt. Tháng Sáu rực lửa, đúng thật, anh nghĩ và tâm trí anh lập tức nhớ đến Blanche. Cô suy đoán hoàn toàn đúng - vở kịch là một thành công lâu dài và tuyệt đối. Hiện cô đang đi lưu diễn. Giờ cô ấy đang ở đâu nhỉ? Dublin hay là Edinburgh? Đúng rồi, anh thật sự phải cố gắng và…
“Bắt đầu khi sẵn sàng nhé, Lysander”, Rutherford Davison nói. Lysander thấy mình vẫn mặc áo khoác trong khi mọi người đều đã cởi ra hết vì nóng. Anh chọn một đoạn kịch bản.
“Em phải dâng hiến cơ thể ngọc ngà của em
Đó là bổn phận, bằng không anh ta sẽ phải đau khổ…
Em sẽ làm gì?”
Davison giơ tay lên.
“Tại sao cậu lại tưởng tượng hắn nói thế?”
“Vi hắn tức giận. Bị nhục dục chế ngự. Và hắn cay đắng”. Lysander nói mà không thật sự suy nghĩ.
“Cay đắng à?”
“Hắn tuyệt vọng”.
“Hắn là một quý tộc có quyền lực thâu tóm toàn bộ Vienna”.
“Vienna cũng không thể chống lại sự cay đắng”.
Mọi người bật cười, Lysander thích trích dẫn dù anh không hề muốn pha trò và hoàn toàn do vô tình. Anh đã quên vở Ăn miếng trả miếng được diễn ở Vienna - vở kịch lạ lùng này nói về sự phóng đãng và tinh khiết, suy đồi và đức hạnh khiến anh khó chịu khi nghĩ về vụ lùm xùm ở đó. Không kịp nuốt lời và anh không thể lí giải nổi tại sao. Davison thậm chí còn không nhếch mép cười trước cuộc tấn công đột ngột và khinh suất của anh. Lysander chắc chắn anh ta muốn làm một kẻ thích gây gổ và khiêu khích, sau khi được bổ nhiệm làm giám đốc mới của nhà hát. Mới đêm qua, anh và Greville vừa thảo luận rằng cái xu hướng này thật mệt mỏi và thừa thãi làm sao.
“Chúng ta sẽ gặp nhau vào một ngày khác”, Davison nói, như thể cảm nhận được buổi chiều thứ Sáu ngột ngạt và khó chịu trong căn phòng này. “Nghỉ cuối tuần vui vẻ. Chúng ta sẽ bắt đầu tập vở Nàng Julie vào thứ Hai”.
Buổi diễn tập chấm dứt trong âm thanh hoan hỉ, hỗn độn và tiếng kéo ghế. Họ đang trong một sảnh của nhà thờ Thánh St John’s Wood - một không gian diễn tập lí tưởng với khu vườn nhỏ ở phía sau, rất tiện khi cần hít thở không khí trong lành. Đoàn kịch được biết đến với cái tên “Những Diễn viên Quốc tế” do chính Rutherford Davison sáng lập với nỗ lực - như anh nói - nhằm giới thiệu những vở kịch xuất sắc nhất đến với khán giả London đã no nê. Khi lấy áo choàng khỏi lưng ghế, Lysander phải thừa nhận đó đúng là một kế hoạch thông minh. Ý tưởng chỉ huy trình diễn kép một vở kịch có uy tín, được tôn trọng với một tác phẩm nước ngoài đầy thách thức. Mùa trước đã giới thiệu một vở của Galsworthy, Chiếc Hộp Bạc cùng một vở của Sêkhôp, Vườn Dâu. Mùa này trình diễn vở Ăn miếng trả miếng cùng vở Nàng Julie của Strindberg. Có tên khác là Fröken Julie vì Davison khăng khăng cho rằng một cái tên nước ngoài sẽ thoát được lưỡi kéo kiểm duyệt. Rõ ràng vở này đã bị cấm diễn từ năm 1911. Davison có bản dịch mới từ đoàn kịch của Mỹ. Anh cho rằng cái tên bằng tiếng Thụy Điển có thể làm người ta quên đi tai tiếng dâm ô của nó, Lysander chưa đọc kịch bản vở Nàng Julie nhưng anh sẽ đọc vào dịp cuối tuần, nếu thời gian cho phép. Vai của anh là Jean, người hầu phòng. Đây là một thách thức vì anh cũng đảm nhận vai Angelo trong vở Ăn miếng trả miếng. Anh và Gilda Butterfield là những diễn viên nhiều kinh nghiệm nhất trong đoàn. Vì thế anh nghĩ mình có quyền mơ tưởng đến lúc hai vở được đón nhận nồng nhiệt, sự nghiệp và danh tiếng của anh sẽ bay cao. Anh nghĩ mọi thứ đều rất tốt nhưng nếu Davison còn tiếp tục khó chịu, sự nghiệp của anh sẽ không được suôn sẻ như anh tưởng.
“Có kế hoạch nào cho ngày cuối tuần chưa?”
Lysander quay lại nhìn Gilda Butterfield, chính là Nàng Julie - và Isabella trong Ăn miếng trả miếng. Họ sẽ phải bên nhau một thời gian dài ở đoàn kịch trong những tuần tới. Cô khá xinh đẹp với mái tóc xoăn vàng óng buộc nơ nhung đằng sau rất đúng kiểu người Scandinavi, anh nghĩ vậy. Mấy vết tàn nhang rõ nét ngang sống mũi và trên má nhưng cô không hề dùng phấn che đi - một phụ nữ trẻ ngực nở, hông to, khỏe mạnh, hoang dã. Anh dám nói rằng cô quan tâm đến mình. Anh tự hỏi công việc diễn xuất có mang lại cho anh sự lãng mạn nào không
“Tôi sẽ xuống vùng Sussex”, anh đáp, lục tìm một bao thuốc và mời cô. Cô lấy một điếu, anh châm lửa giúp. “Chú tôi vừa quay về sau hai năm đi thám hiểm châu Phi. Chúng tôi chào mừng ông ấy về nhà”. Anh lấy một điếu cho mình, châm thuốc và họ cùng đi ra cửa.
“Ở vùng nào tại Sussex?” cô hỏi, đưa hai tay lên chỉnh lại cái nơ đằng sau, miệng vẫn ngậm thuốc - ngực cô phập phồng qua làn áo cánh xếp li. Trong một thoáng, anh nhận thấy mình vô tình ham muốn trước điệu bộ này. Nhưng tự nhắc mình chưa sẵn sàng cho một mối tình lăng nhăng khác. Chưa sẵn sàng sau chuyện với Hettie.
“Claverleigh”, anh đáp, “Cô biết chỗ đó không? Một con đường nhỏ ngoài Lewes. Không xa Ripe lắm đâu”.
“Anh trai tôi sống ở Hove”, cô nói, hài lòng với cái nơ, thở hắt ra, tránh phả khói vào anh. “Có lẽ chúng ta sẽ xuống đó cùng lúc đấy, vào dịp nghỉ cuối tuần này,
“Sẽ rất thú vị”. Thật ra, Lysander thấy chuyện này thật trơ trẽn. Cô ta đang khiến các nữ diễn viên mang tiếng xấu. Anh sẽ nói với Greville về chuyện này. Anh mở cửa cho cô và Rutherford Davison đi qua.
“Lysander này, tôi có thể nói nhanh một chuyện không?”
Lysander thấy mồ hôi đang chảy thành giọt xuống lưng - lẽ ra anh phải bắt xe buýt chứ không phải xe điện ngầm về nhà. Dĩ nhiên là trời nóng nhưng anh biết khi mình tức giận, mồ hôi sẽ còn ra nhiều hơn bình thường. Davison giữ anh lại suốt hai mươi phút chỉ để hỏi những câu cực kì ngu xuẩn về vai Angelo, trong khi những người khác đã về hết. Angelo là con một hay có anh chị em gì không? Nếu có thì bao nhiêu người và là trai hay gái? Anh cho rằng Angelo đang làm gì trước bài diễn văn lớn ở Hồi II? Anh ta có đi du lịch nhiều không? Anh ta có bất kì vấn đề sức khỏe gì cần phải che giấu không? Lysander cố gắng hết sức trả lời nghiêm túc các câu hỏi. Anh biết Davison đã đến Nga năm ngoái, gặp gỡ Stanislavsky và chịu ảnh hưởng trước những lí thuyết mới đang thịnh hành về kịch và diễn xuất của ông ta. Và anh ta tin rằng tất cả những tư liệu và thông tin xa lạ mà ông ta nghĩ ra sẽ trau chuốt cho vai diễn và hỗ trợ cho kịch bản. Lysander rất muốn nói rằng, nếu Shakespeare muốn chúng ta biết Angelo đi du lịch nhiều nơi và bị bệnh trĩ hành hạ, hẳn ông ấy sẽ thêm một hai dòng vào vở kịch với ý đó. Nhưng vì muốn giữ các quan hệ tốt đẹp và bình yên, anh chỉ gật đầu và đáp vấn đề hay” hoặc “ý tưởng hấp dẫn” và “để tôi suy nghĩ thêm về chuyện đó”. Angelo là một vai lớn và xét về mọi khía cạnh, khi đạo diễn đứng về phía mình sẽ tốt đẹp và dễ dàng hơn nhiều.
Trên sân khấu, Davison đã nói: “Có một quyển sách có thể cậu sẽ thấy hữu ích đối với vai Angelo - Giải mã giấc mơ của Sigmund Freud. Nghe bao giờ chưa?”
“Tôi đã gặp tác giả rồi”, Lysander đáp. Câu này khiến anh ta câm miệng.
Anh mỉm cười nhớ lại hồi ức về buổi chiều hôm đó trong quán cà phê Landtmann. Davison đã nhìn anh với sự tôn trọng mới. Có lẽ rốt cuộc khó khăn đã được giải quyết.
Chuyến tàu điện ngầm tiến vào quảng trường Leicester, Lysander xuống tàu, giữ chặt chiếc mũ rơm trên đầu. Anh nghĩ mình có thể rẽ vào quán rượu nào đó làm một cốc bia pha chanh mát lạnh để giải khát - Cố gắng tránh cái nóng và sự khó chịu hiện thời. Anh đi lên từ phía nhà ga và hít thở bầu không khí - London trong tháng Sáu, một tháng Sáu nóng nực, mùi phân ngựa ngột ngạt.
Anh và Greville Varley thuê một căn hộ trên đường Chandos Place. Ở đây có một quán rượu anh thích, mang tên Hòa bình và Sung túc, nằm quanh góc phố William IV. Quán nhỏ, giản dị, mấy tấm ván sàn và ván ốp tường sạch sẽ, không có giấy dán tường bằng vải nhung và thủy tinh khắc chữ lòe loẹt như nhiều quán khác ở London này. Thêm nữa Greville sẽ không vào quán vì chiều nay anh ấy có buổi diễn. Không không thể được, hôm nay là thứ Sáu. Buổi diễn vào chiều ngày mai cơ.
“Chào buổi chiều, anh Rief. Trời đủ nóng với anh chưa?”
“Ừ, cảm ơn, Molly. Nhưng ngày mai cô có thể khiến trời mát mẻ một tí không - tôi phải về vùng nông thôn”.
“Một ít thì được, anh Rief ạ”.
Molly là cô gái phục vụ ở quán rượu và là cháu gái của chủ nhà trọ, sinh trưởng ở Devon - hay là Somerset nhỉ? Một cô gái mặt tròn, đầy đặn khiến anh nhớ đến Traudl.
Traudl sốt sắng, hay đỏ mặt ở nhà nghỉ Kriwanek, Lysander mang cốc bia đến chỗ ngồi trong góc, suy nghĩ về cuộc đời của anh không lâu trước đây, những chi tiết và bố cục quen thuộc của cuộc đời ấy. Ai đó để quên tờ báo và Lysander cầm lên đọc các đề mục rồi ném sang một bên. Anh chẳng quan tâm gì đến Luật Nhà đất Ireland hay mối đe dọa của công nhân than bãi công. Anh tự hỏi một cách công kích, thế mày quan tâm đến cái gì hả. Cuộc sống của mày? Công việc của mày? Bạn bè mày? Gia đình mày?
Những câu hỏi hay. Anh nhấp ngụm bia, Phân tích sự điên cuồng và những vui thú của mình. Kể từ khi hấp tấp quay về từ Vienna, anh đã rời khỏi căn hộ và tìm nơi ở mới cùng Greville - một cách suôn sẻ. Anh giành được một vai trong một bộ phim dài ba cuộn kiếm được 50 bảng trong hai ngày làm việc - chẳng có gì để phàn nàn. Anh tham gia vô số buổi thử giọng và giành được vai diễn kép béo bở này với đoàn kịch Những Diễn viên Quốc tế - chẳng việc gì phải tủi thân cả. À mà phải rồi, chính Blanche Blondel đã hủy bỏ hôn ước của họ.
Anh tựa người vào lưng ghế, bỏ mũ ra. Blanche.
Hóa ra lí do chính đáng đã phần nào khiến anh sợ hãi buổi gặp gỡ đầu tiên giữa hai người. Anh đã căng thẳng, líu cả lưỡi lại một cách kì quặc, ủ rũ và phẫn nộ.
“Anh có người khác ở Vienna rồi, đúng không?” Blanche nói sau năm phút.
“Không. Có, ừ thì… là có. Nhưng kết thúc rồi. Kết thúc hẳn rồi”.
“Là anh nói thôi - nhưng anh đang tạo ra ấn tượng tốt về một tên khờ buồn vì thất tình, mong chờ cô gái của mình đến héo hon”.
Cô tháo nhẫn ra trả lại anh. Họ đang ngồi trong một quán ăn rẻ tiền trên phố Strand, ăn tối sau sô diễn của cô.
“Em vẫn sẽ là bạn của anh, Lysander”, cô nói, rất hòa nhã. “Nhưng không phải là hôn thê của anh”. Cô vươn tay ra xiết chặt bàn tay anh. “Tự anh đã đánh mất nó, anh yêu. Và nếu vẫn còn yêu em, xin hãy cầu hôn lần nữa và hãy xem em sẽ nói gì”.
Lysander lên quầy bar gọi một cốc bia nữa. Mới bốn giờ chiều và anh đã uống hai cốc rồi. Anh nhìn Molly rót bia - hai lần kéo ở chỗ cái cần và kia rồi, lớp bọt ngay trên miệng cốc. Anh quẳng lên mấy đồng xu từ trong túi và cô xòe ra tiền lẻ vừa đủ trả lại. Những lọn tóc không tự nhiên trên thái dương của Molly ướt đẫm mồ hôi, dán chặt vào da thịt cô. Anh nghĩ mình nên kết hôn với Blanche, mặc xác tất cả mọi thứ về cô ấy đều hợp với anh,
“Greville? Có nhà không?” Lysander gọi, đóng cửa lại sau lưng. Không có lời đáp. Anh thả chùm chìa khóa vào trong một cái chậu trên chiếc bàn trong sảnh. Bà quản gia Tozer đã lau sạch và sắp xếp ngăn nắp mọi thứ. Mùi nước bóng bằng sáp ong bay vào mũi anh. Bà đã xếp lại đống thư từ thành hai chồng riêng biệt dành cho các “quý ông” của mình. Anh mơ hồ thấy ghen tị khi Greville nhận được nhiều thứ hơn anh. Căn hộ nằm trên tầng ba khu chung cư không dưới mười năm tuổi. Từ phòng ngủ của Greville chỉ thấy bức tượng Nelson đang đứng trên cột ở quảng trường Trafalgar. Có một phòng khách, hai phòng ngủ khá rộng, một nhà bếp có bồn rửa bát và một phòng tắm kiêm nhà vệ sinh. Phòng của người hầu gái được sửa sang thành phòng thay đồ chung với tủ quần áo rất rộng - cả anh và Greville đều có quá nhiều quần áo. Toàn bộ các đồ dùng anh bỏ lại nhà nghỉ mùa hè tại Vienna đều được Munro nhanh chóng chuyển đến London - như thể anh chưa bao giờ có mặt ở đó.
Lysander sắp xếp lại chồng thư của mình - hóa đơn, biên lai, bưu thiếp từ Dublin (“Ước gì anh ở đây, B”), một bức điện tín từ mẹ anh (“VUI LÒNG MUA CHO MẸ MẤY QUẢ TRỨNG CHIM CHOI CHOI Ở BẾN XE FORTNUM”). Miệng anh chợt khô khốc - một bức thư có tem của nước Áo, nét mặt nhìn nghiêng của Hoàng đế Franz-Josef[*], được gửi đến cho anh từ căn hộ trước kia, dấu bưu điện hai tuần trước,
Anh bước ra phòng khách, rạch bì thư bằng một con dao rọc giấy. Anh biết trong bức thư này viết gì. Anh ngồi ở bàn trong một phút, không hiểu sao không dám thò tay vào lấy lá thư ra.
“Thôi nào”, anh tự thúc giục mình thành tiếng. “Đừng có thảm hại thế”.
Một tờ giấy. Kiểu chữ viết tay trẻ con, xấu xí của Hettie.
Lysander yêu dấu nhất của em,
Đúng là hạnh phúc tuyệt vời khi em viết thư cho anh báo rằng con trai chúng ta đã chào đời, Em đã bảo anh nó là con trai rồi đúng không? Nó chào thế giới này lúc 10 giờ 30 phút đêm ngày Mười hai tháng Sáu. Nó là một thằng bé mập mạp, nặng gần 4,1kg và có hai lá phổi khỏe lắm cơ. Em muốn đặt tên nó là Lysander - nhưng rõ ràng làm thế sẽ gây nghi ngờ - thế nên em quyết định thay vào đó là Lothar. Nếu anh nói Lysander - Lothar thật nhanh vài lần anh sẽ thấy hai cái tên ấy quyện vào nhau - hoặc em muốn tin như thế. Em nhớ anh nhiều lắm và từ tận đáy lòng em cảm ơn anh vì những gì anh đã làm, Vụ trốn thoát của anh trở thành vụ bê bối tại Vienna và đã được đăng lên mấy tờ báo, Cảnh sát bị xử phạt thẳng tay vì tội vô dụng và thiếu hiệu quả. Anh có thể hình dung những cảm xúc của em khi nghe nói anh đã ra đi và sẽ không có phiên tòa nào hết.
Anh có thể luôn biên thư cho em về quán cà phê Sergenfrei, Sterngasse, Wien. Nhưng em biết rằng trái tim anh lúc này vẫn đang chất chứa đầy oán hận đối với em, sau tất cả những gì em đã gây ra cho anh. Thay vì yêu mến em, anh hãy yêu thương đứa con bé bỏng của anh, Lothar. Em sẽ sớm gửi ảnh thằng bé cho anh.
Gửi anh tình yêu của cả hai mẹ con em,
Hettie và Lothar.
Anh nhắm mắt lại cảm thấy những dòng lệ ấm nóng chảy xuống hai má. Hettie và Lothar. Anh bật khóc như một đứa trẻ đến vài phút - như thằng bé Lothar - gục đầu xuống hai tay, nằm xoài trên chiếc bàn viết. Rồi anh đứng dậy, đến tủ đựng đồ uống rót cho mình một chút rượu brandy, chúc mừng Lothar Rief. Anh ước mong thằng bé sẽ sống lâu và khỏe mạnh, rồi uống cạn. Anh nghe thấy tiếng chìa khóa tra vào ổ khóa, anh lau nước mắt nhưng vô ích. Greville bước vào và nói: “Chúa ơi, anh bạn, chuyện gì thế?”, Lysander lại khóc nấc lên,